SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài:

Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nền văn hóa loài người. Nó giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúp trẻ điều chỉnh lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực. Ngày nay trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Ngôn ngữ là tài sản quý báu, là công cụ để giao tiếp, học tập và vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lí trẻ. Ngôn ngữ luyện phát âm, phát triển vốn từ, sử dụng câu đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc và phát triển ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ chính là một phương tiện thúc đẩy để trẻ trở thành một thành viên của xã hội. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc giáo dục trẻ tham gia vào các hoạt động hàng ngày, từ đó hình thành nhân cách cho trẻ. Ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ thông qua nhận thức về thế giới xung quanh một cách sâu rộng, rõ ràng, chính xác. Trong phát triển thẩm mĩ ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp trong tự nhiên, đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp.

Ở trường mầm non phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng giúp trẻ nói mạch lạc, tăng vốn từ, phát âm chuẩn. Người giáo viên mầm non có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp trẻ phát âm đúng bởi ngay từ khi học nói trẻ đã cần phải nhớ được phải nói như thế nào do đó nhiệm vụ của người giáo viên là tổ chức xây dựng môi trường ngôn ngữ, tổ chức hoạt động để trẻ được nghe, được nói một cách chuẩn mực nhất.

Trong quá trình dạy trẻ tôi nhận thấy được đặc điểm của bộ môn văn học phù hợp với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Văn học giúp trẻ tích lũy được vốn từ ngữ phong phú, đa dạng giúp trẻ nói rõ ràng, nói chuẩn tiếng Việt, diễn đạt ngôn ngữ mạch lạc rõ ràng hơn. Các tác phẩm văn học được giáo viên lựa chọn trong chương trình giáo dục trẻ đều ngắn gọn, giản dị, trong sáng, hình ảnh so sánh hết sức sinh động, dễ đọc, dễ nhớ tạo hứng thú cho trẻ. Qua điều tra thực trạng tìm những nguyên nhân, hạn chế nhằm tìm biện pháp phát huy và khắc phục khó khăn để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học. Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ có thể tìm thấy ở đó những hình tượng, nhân vật điển hình, mỗi nhân vật mang một sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng. Chính vì vậy mà tôi đi sâu vào nghiên cứu: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học” để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất tạo tiền đề cho trẻ bước vào lớp 1.

2. Mục đích nghiên cứu:

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động cho trẻ làm quen văn học.

3. Đối tượng nghiên cứu:

Trẻ mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi trong trường mầm non Chu Minh

4. Kế hoạch nghiên cứu:

- Thời gian thực hiện: từ tháng 9/2020 đến tháng 4/2021

- Kế hoạch nghiên cứu:

+ Tháng 9 + 10: Khảo sát tình hình thực tế

+ Tháng 11/2020 đến tháng 2/2021: Thực hiện các biện pháp

+ Tháng 4/2021: Đánh giá kết quả

docx 18 trang Bình An 02/04/2026 20
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học

SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học
 Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động 
làm quen văn học
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ
 1. Lý do chọn đề tài:
 Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh 
mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội 
của nền văn hóa loài người. Nó giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ 
giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúp trẻ điều chỉnh lĩnh 
hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực. Ngày nay trong công tác chăm sóc 
giáo dục trẻ chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển toàn 
diện nhân cách trẻ. Ngôn ngữ là tài sản quý báu, là công cụ để giao tiếp, học tập và 
vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lí trẻ. Ngôn ngữ luyện 
phát âm, phát triển vốn từ, sử dụng câu đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch 
lạc và phát triển ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ chính là một phương tiện thúc đẩy 
để trẻ trở thành một thành viên của xã hội. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ 
có thể bày tỏ nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc 
giáo dục trẻ tham gia vào các hoạt động hàng ngày, từ đó hình thành nhân cách cho 
trẻ. Ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ 
thông qua nhận thức về thế giới xung quanh một cách sâu rộng, rõ ràng, chính xác. 
Trong phát triển thẩm mĩ ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có 
mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp trong tự nhiên, 
đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo 
ra cái đẹp.
 Ở trường mầm non phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ hết sức quan 
trọng giúp trẻ nói mạch lạc, tăng vốn từ, phát âm chuẩn. Người giáo viên mầm non 
có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp trẻ phát âm đúng bởi ngay từ khi học 
nói trẻ đã cần phải nhớ được phải nói như thế nào do đó nhiệm vụ của người giáo 
viên là tổ chức xây dựng môi trường ngôn ngữ, tổ chức hoạt động để trẻ được nghe, 
được nói một cách chuẩn mực nhất.
 Trong quá trình dạy trẻ tôi nhận thấy được đặc điểm của bộ môn văn học phù hợp 
với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Văn học giúp trẻ tích lũy được vốn từ ngữ 
phong phú, đa dạng giúp trẻ nói rõ ràng, nói chuẩn tiếng Việt, diễn đạt ngôn ngữ 
mạch lạc rõ ràng hơn. Các tác phẩm văn học được giáo viên lựa chọn trong chương 
trình giáo dục trẻ đều ngắn gọn, giản dị, trong sáng, hình ảnh so sánh hết sức sinh 
động, dễ đọc, dễ nhớ tạo hứng thú cho trẻ. Qua điều tra thực trạng tìm những nguyên 
nhân, hạn chế nhằm tìm biện pháp phát huy và khắc phục khó khăn để phát triển 
ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học. Khi cho trẻ làm 
quen với tác phẩm văn học trẻ có thể tìm thấy ở đó những hình tượng, nhân vật điển hình, mỗi nhân vật mang một sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng. Chính vì vậy mà tôi 
đi sâu vào nghiên cứu: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông 
qua hoạt động làm quen văn học” để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất 
tạo tiền đề cho trẻ bước vào lớp 1.
 2. Mục đích nghiên cứu:
 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động cho trẻ làm quen văn học.
 3. Đối tượng nghiên cứu:
 Trẻ mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi trong trường mầm non Chu Minh
 4. Kế hoạch nghiên cứu:
- Thời gian thực hiện: từ tháng 9/2020 đến tháng 4/2021
- Kế hoạch nghiên cứu:
+ Tháng 9 + 10: Khảo sát tình hình thực tế
+ Tháng 11/2020 đến tháng 2/2021: Thực hiện các biện pháp
+ Tháng 4/2021: Đánh giá kết quả
 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 1. Cơ sở lý luận:
 Ngôn ngữ- thành tựu lớn nhất của con người- là hệ thống tín hiệu đặc biệt. Nó là 
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài người 
nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết, truyền cho 
nhau những kinh nghiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng nhau 
thực hiện những dự định tương lai.
 Khả năng về sự phát âm của trẻ được tăng dần theo từng độ tuổi, trẻ 5- 6 có thể 
sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ để giao tiếp. Khả năng ngôn ngữ của trẻ liên quan 
chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ và những trải nghiệm của trẻ. Trẻ có thể sử dụng 
ngôn ngữ để thể hiện các mối quan hệ qua lại nhiều mặt của các sự vật, hiện tượng 
trong cuộc sống mà trẻ nhận thức được. Trẻ đã định vị được các âm có cấu tạo đơn 
giản, những âm vị có cấu âm phức tạp trẻ dễ mắc lỗi, xong nếu kiên trì tập luyện thì 
hầu hết trẻ đều có khả năng định vị được các âm vị của tiếng việt.
 Đặc điểm vốn từ của trẻ 5-6 tuổi với trẻ mầm non: trẻ rất nhạy cảm với vốn từ, 
âm điệu, hình tượng của bào thơ, đồng dao, ca dao, dân ca sớm đi vào tuổi thơ. 
Những câu chuyện cổ tích thần thoại đặc biệt hấp dẫn trẻ chính vì hoạt động cho trẻ 
tiếp xúc với văn học là con đường phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất, hiệu quả nhất.
 Trẻ ở lứa tuổi này rất thích sử dụng các từ mới biết hoặc với từ trẻ tự nghĩ ra. Trẻ 
đưa chúng vào các hoạt động ngôn ngữ sáng tạo như khi kể chuyện, đóng kịch, chơi 
trò chơi đóng vai. Thông qua việc dạy trẻ đóng kịch giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, óc tưởng 
tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Khi trẻ kể chuyện ngôn ngữ 
cho trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng, mạch lạc ngôn ngữ phong phú. Trẻ biết bày 
tỏ ý kiến, suy nghĩ về một sự vật, sự kiện bằng chính ngôn ngữ của trẻ.
 Thông qua việc dạy trẻ tập kể chuyện sẽ giúp trẻ ở lứa tuổi này phát triển ngôn 
ngữ mạch lạc hơn, nói rõ ràng và đầy đủ câu hơn để tạo tiền đề cho trẻ bước vào tiểu 
học để trẻ học chữ cái được tốt hơn.
 2. Thực trạng vấn đề
 Tôi được làm việc tại trường có bề dày thành tích nhiều năm liền đạt trường tiên 
tiến cấp thành phố, cấp huyện. Nhà trường được sự quan tâm sát sao của các cấp 
lãnh đạo và các bậc phụ huynh.
 Năm học 2020-2021, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công phụ trách lớp 
mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi với sĩ số 27 cháu. Trong đó có: 14 nam và 13 nữ, lớp do 2 cô 
phụ trách. Khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tôi đã gặp một số thuận lợi và khó 
khăn sau:
 2.1. Thuận lợi:
 * Cơ sở vật chất
- Trường mới được cải tạo xây dựng, sửa chữa lớp học rộng rãi khang trang với đầy 
đủ trang thiết bị và đồ dùng dạy học của cô và trẻ.
- Ban giám hiệu luôn quan tâm giúp đỡ bồi dưỡng về chuyên môn, đặc biệc chú 
trọng nâng cao các điều kiện CSVC theo hướng hiện đại , tạo điều kiện cho giáo 
viên an tâm sáng tạo và nâng cao tay nghề : 1 đàn, 1 tivi, đồ dùng đồ chơi phục vụ 
tốt cho việc dạy và học của cô và trẻ.
* Giáo viên
- Tôi là một giáo viên đã có nhiều năm công tác trong nghề, có trình độ cử nhân luôn 
nhiệt tình trong công việc được giao, biết sử dụng máy tính thành thạo, ứng dụng 
công nghệ thông tin trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.
- Hai giáo viên đều có trình độ đại học, năng động nhiệt tình, nhanh nhẹn, yêu nghề 
tâm huyết trong công việc có tinh thần trách nhiệm.
- Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, luôn có ý thức sáng tạo và vươn lên 
trong chuyên môn.
- Giáo viên nắm chắc phương pháp dạy trẻ từng bộ môn.
- Bản thân tôi luôn học hỏi nâng cao hiểu biết nhận thức về bộ môn và trao đổi cùng 
đồng nghiệp, tìm ra những phương pháp hay, biện pháp mới, sáng tạo chủ động trong 
các giờ học. * Học sinh
- Trẻ đa số đều có nề nếp thói quen tốt trong học tập, khả năng nghe, hiểu và tiếp thu 
rất nhanh.
- Trẻ nhanh nhẹn, mạnh dạn, hào hứng tham gia vào tiết học. Tích cực cùng cô giải 
quyết vấn đề, nắm bắt kiến thức nhẹ nhàng.
* Phụ huynh
- Đa số phụ huynh đều quan tâm đến việc học của con nên rất thuận lợi trong việc 
tuyên truyền kết hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường.
- Nhiệt tình ủng hộ các đợt phát động của trường, lớp.
 2.2. Khó khăn
- Đây là năm đầu tiên thực hiện chuyên đề “Tiếp cận học qua chơi và đổi mới hình 
thức tổ chức hoạt động lĩnh vực giáo dục phát triển ngôn ngữ” bản thân tôi cũng như 
giáo viên trong lớp còn nhiều bỡ ngỡ trong việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn các 
nội dung để trẻ vừa chơi mà học, học mà chơi để phát triển ngôn ngữ một cách tốt .
- Phụ huynh đến từ nhiều vùng miền, nghề nghiệp khác nhau, ngôn ngữ và giọng nói 
còn mang tính chất địa phương nhiều.
- Một số trẻ còn nhút nhát, phát âm còn ngọng, câu từ diễn đạt chưa mạch lạc, khả 
năng tiếp thu bài còn hạn chế do chưa học qua lớp Mẫu Giáo Nhỡ.
 - Với những thuận lợi và khó khăn trên tôi luôn luôn trăn trở phải làm thế nào để trẻ 
phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất vì đây là giai đoạn quan trọng để trẻ bước vào 
lớp 1 với tâm thế tốt nhất. Tôi quyết tâm suy nghĩ tìm tòi và cuối cùng tìm được 
hướng đi cho mình qua nội dung đề tài sau: “ Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ 
cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học”.
 2.3. Khảo sát thực trạng về khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của trẻ.
 Khảo sát đầu năm về khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ là một việc làm vô 
cùng cần thiết giúp giáo viên nắm được khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của 
trẻ. Mỗi một 1 đứa trẻ khác nhau có sự khác nhau về ngôn ngữ. Việc khảo sát đầu 
vào về khả năng khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của trẻ sẽ giúp cô giáo hiểu 
rõ hơn về khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của trẻ lớp mình đến đâu, khả năng 
của từng em cũng như nắm được mặt bằng chung của lớp. Từ đó giáo viên lựa chọn 
biện giáo dục phát triển ngôn ngữ để phù hợp với đặc của từng trẻ, tình hình thực tế 
của lớp phát huy được khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của mỗi cá nhân cũng 
như tập thể nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.
 * Cách thực hiện: Qua nghiên cứu tôi đã lập một bảng điều tra khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ 
của trẻ theo các nội dung đó vào 3 thời điểm đó là đầu năm, cuối học kì I và cuối 
học kì II.
 Phiếu khảo sát: Khả năng phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của trẻ.
Ngày..tháng..năm.
Tên trẻ:.
 Chưa 
 STT Nội dung thực hiện Đạt
 đạt
 1 Trẻ phát âm đúng, to, rõ ràng, mạch lạc. 
 Trẻ tự tin sử dụng linh hoạt từ ngữ trong giao tiếp với 
 2 
 mọi người xung quanh.
 Trẻ sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu trong kể chuyện 
 3 
 sáng tạo và kể chuyện theo trí nhớ.
 4 Trẻ đọc thơ diễn cảm 
 Trẻ biết đặt các câu hỏi giải thích, phỏng đoán, suy 
 5 
 luận.
 Do số lượng cháu trong lớp đông tôi không thể trực tiếp kiểm tra từng cháu. Vậy 
nên tôi đã nhờ đên sự giúp đỡ của 2 cô trong lớp. Chúng tôi chia ra mỗi cô phụ trách 
đánh giá kiểm tra một nhóm trẻ.
 Bảng kết quả kiểm tra khả năng phát âm, phát triển ngôn ngữ của trẻ tại lớp.
Tổng số trẻ là 27 trẻ.
 KẾT QUẢ
 STT NỘI DUNG KHẢO SÁT
 Đạt Chưa đạt
 1 Trẻ phát âm đúng, to, rõ ràng, mạch lạc. 16 33% 32 67%
 Trẻ tự tin sử dụng linh hoạt từ ngữ trong 
 2 13 27% 35 73%
 giao tiếp với mọi người xung quanh.
 Trẻ sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu trong kể 
 3 11 23% 37 77%
 chuyện sáng tạo và kể chuyện theo trí nhớ.
 4 Trẻ đọc thơ diễn cảm. 20 42% 28 58%
 Trẻ biết đặt các câu hỏi giải thích, phỏng 
 5 10 21% 38 79%
 đoán, suy luận.
 3. Các biện pháp thực hiện: Dựa vào bảng điều tra thực tế trên tôi nhận thấy khả năng phát âm, từ ngữ diễn 
đạt của trẻ trong việc sử dụng ngôn ngữ chưa được linh hoạt, phong phú trong giao 
tiếp với mọi người còn hạn chế, việc sử dụng ngôn ngữ trong các tiết học làm quen 
với tác phẩm văn học còn nghèo nàn. Chính điều này giúp tôi thấy mình cần phải cố 
gắng hơn trong việc giúp trẻ phát âm và phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất.
 3.1. Biện pháp 1.Tạo môi trường hoạt động cho trẻ làm quen tác phẩm văn 
học
 Tạo môi trường giáo dục trong trường mầm non là tổ hợp những điều kiện tự 
nhiên, xã hội cần thiết trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở 
trường mầm non. Tạo môi trường giáo dục phù hợp góp phần thỏa mãn nhu cầu vui 
chơi và hoạt động của trẻ. Qua đó, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển 
toàn diện. Để giáo dục lấy trẻ làm trung tâm được thực hiện một cách tốt nhất và có 
hiệu quả nhất thì tạo môi trường hoạt động làm quen văn học trong các trường mầm 
non là việc làm rất cần thiết và không thể thiếu.
 * Cách thực hiện:
 Ngay từ đầu năm học tôi đã chú ý xây dựng “Góc văn học” ở đây trẻ được xem 
tranh truyện, tạp chí, họa báo, các hình ảnh của các nhân vật trong chuyện mà trẻ 
yêu thích. Khi xây dựng “Góc văn học” tôi muốn giới thiệu thêm thật nhiều các tác 
phẩm văn học trong chương trình giáo dục đến trẻ, bởi trong tiết học thì việc được 
tiếp xúc với tác phẩm văn học cũng có nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu ham học của 
trẻ ở lứa tuổi này. Qua “Góc văn học” tôi tổ chức các hoạt động đọc thơ, kể chuyện, 
cho trẻ tập đóng kịch để trẻ được nói những ngôn ngữ của các nhân vật trong truyện 
để từ đó trẻ làm giàu vốn từ của bản thân. Để gây được sự hứng thú của trẻ khi tham 
gia vào các hoạt động đó thì việc tạo không gian mang đậm tính văn học là rất cần 
thiết, ngay từ đầu năm học tôi đã vận động phụ huynh đóng góp tranh thơ, truyện 
tranh ngoài chương trình để trẻ kể cho nhau nghe vào các hoạt động chiều và cho trẻ 
chơi trong giờ hoạt động góc.
 Bản thân tôi luôn tìm tòi, sưu tầm sách truyện, các họa báo, tạp chí cũ, tìm tòi 
cách làm rối từ các nguyên vật liệu bỏ đi như: vỏ chai, lõi chỉ, các mảnh vải dạ vụn 
làm rối để làm các nhân vật trong truyện phục vụ cho tiết học.
 Để tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia hoạt động văn học thì việc tạo môi trường 
với các nhân vật ngộ nghĩnh cho trẻ được làm quen là cần thiết. Tôi đã sử dụng 
những chiếc môi nhựa trắng để làm khuôn mặt của các cô gái, dùng những sợi chỉ 
len kết thành bím tóc,
 Để thu hút trẻ tham gia vào hoạt động kể chuyện và tập đóng kịch ngay từ đầu 
năm học tôi đã dùng khung rối, cắt những chiếc lá cây, hoa, ghép để trang trí thành 
mội sân khấu mi ni chỉ với một mảnh vải làm khung sân khấu đằng sau làm một bảng nhám dính để tôi có thể dễ dàng trang trí khung cảnh sao cho phù hợp với từng 
cảnh truyện.
 * Kết quả thực hiện:
 Qua việc tạo môi trường cho trẻ làm quen với văn học như vậy tôi thấy được trẻ 
rất hào hứng tham gia các hoạt động đọc thơ, kể chuyện để từ đó ngôn ngữ của trẻ 
được phát triển một cách tự nhiên mà có hiệu quả cao nhất.
 3.1.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong giờ làm quen văn học.
Để giúp trẻ kể lại và nhớ lại nội dung truyện một cách tốt nhất ngoài việc đọc kể cho 
trẻ nghe tôi còn ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy để mang lại kết 
quả tốt nhất.
VD: Câu chuyện: “ Chú thỏ Burine” tôi đã xây dựng đoạn phim hoạt hình về nội 
dung câu chuyện sau đó ghi âm lồng tiếng kể của tôi chèn vào đoạn phim đó kết hợp 
với nhạc đệm trẻ rất hứng thú. Ngoài ra tôi còn tạo các câu hỏi trên máy cho trẻ trả 
lời.
Mục đích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là trẻ được trực tiếp 
xem các hành động, cử chỉ của các nhân vật và qua đó trẻ được tiếp xúc với giọng 
kể hay với ngôn từ phong phú và đúng với tính cách của các nhân vật. Qua cách làm 
quen như vậy trẻ biết nhận xét, đánh giá về đặc điểm tính cách của các nhân vật 
thông qua ngôn ngữ nói của mình. Bên cạnh việc kể chuyện cho trẻ nghe và cho trẻ 
xem băng truyện tôi còn chú ý đến việc giúp trẻ ghi nhớ cốt truyện với nội dung và 
các tình tiết chính, các nhân vật chính của câu chuyện thông qua hệ thống câu hỏi, 
nhắc trẻ logic của câu chuyện mối quan hệ và tác động của các nhân vật.
Ngoài việc sử dụng các hình ảnh sống động trên máy vi tính, lời ghi âm của cô tôi 
còn ghi âm giọng kể của trẻ khi trẻ kể chuyện. Sau đó tôi dùng dây kết nối giữa điện 
thoại với loa để bật lại cho trẻ nghe. Ngoài ghi âm giọng kể của trẻ bằng điện thoại 
tôi còn tận dụng chức năng quay phim để quay lại những vở kịch mà các nhân vật 
đã đóng. Qua việc sử dụng điện thoại để quay phim và ghi âm giọng kể của trẻ tôi 
thấy được hiệu quả rõ ràng trẻ hào hứng tham gia tập kể và đóng kịch hơn, trẻ biết 
chau chuốt lời nói của nhân vật và nhập vai tốt hơn. Sau đó tôi mở cho trẻ xem lại 
vở kịch mà trẻ đóng trẻ được nhận xét các giọng điệu của các nhân vật từ đó trẻ có 
thể chỉnh sửa lại giọng điệu của mình hay hơn, phù hợp hơn.
Có rất nhiều hình thức dạy trẻ kể lại chuyện. VD: Kể lại chuyện theo tranh, kể lại 
chuyện bằng rối tay, ...
 3.1.2. Phát triển ngôn ngữ qua hình thức kể chuyện theo rối tay, rối ngón tay
Việc sử dụng rối tay, rối ngón tay trong tiết học gây được sự hứng thú, tò mò của trẻ 
việc này tạo điều kiện cho trẻ tiếp cận với nghệ thuật múa rối. Ngoài ra việc sử dụng rối tay, rối ngón tay khi cho trẻ kể lại truyện không chỉ phát triển ngôn ngữ cho trẻ 
qua việc kể chuyện mà còn giúp trẻ biết các cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp để tăng 
tính linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả trong giao tiếp.
Ví dụ: Với câu chuyện “Cáo Thỏ và Gà trống” tôi sử dụng khung rối kể chuyện. 
Nhân vật trong truyện được cách điệu. Khi dạy trẻ kể chuyện bằng rối trước tiên tôi 
cũng cung cấp nội dung câu chuyện cho trẻ nghe vào các hoạt động chiều, hoạt động 
góc. Bên cạnh việc cung cấp nội dung chuyện cho trẻ tôi còn hướng dẫn trẻ sử dụng 
rối tay, rối ngón tay điều khiển tay sao cho phù hợp với lời thoại nhân vật trong 
truyện.
Thời gian đầu khi mới làm quen với rối tay trẻ rất lóng ngóng, khó thực hiện các 
động tác theo ý muốn. Tôi đã bày trí nhiều rối tay và rối ngón tay ở góc văn học cho 
trẻ thấy dễ dàng. Khi hoạt động ở góc văn học trẻ thoải mái sử dụng rối tay. Ban 
đầu, trẻ sử dụng rối tay theo ý thích của mình có khi dùng rối tay để nói chuyện với 
bạn, từ đó việc sử dụng rối tay với trẻ trở nên dễ dàng hơn, dần dần tôi nâng mức độ 
khó lên yêu cầu trẻ sử dụng rối tay vào từng câu chuyện.
Nhờ việc sử dụng rối tay mà số trẻ có khả năng cảm thụ văn học đạt cao, đa số trẻ 
nhớ nội dung truyện, lời thoại của các nhân vật và qua đó trẻ biết dùng ngôn ngữ 
mạch lạc.
 3.1.3. Phát triển ngôn ngữ qua hình thức kể chuyện sáng tạo
Đây là một hình thức kể chuyện mới với hình thức kể chuyện sáng tạo giúp trẻ phát 
triển khả năng ngôn ngữ, diễn đạt,Bên cạnh đó trẻ còn phát triển khả năng tư duy, 
sáng tạo và khả năng giao tiếp nhận thức tốt hơn.
Ví dụ: Tôi vẽ 4 bức tranh minh họa cho một câu chuyện
+ Tranh 1: Thỏ mẹ và thỏ con
+ Tranh 2: Thỏ mẹ cho thỏ con kẹo
+ Tranh 3: Thỏ ngồi ăn kẹo
+ Tranh 4: Thỏ cho sóc kẹo.
Sau đó tôi cho trẻ về nhóm thảo luận. Mỗi nhóm sẽ cử ra 1 bạn nhóm trưởng, trong 
nhóm sẽ sắp xếp các bức tranh theo câu chuyện của nhóm mình và nghĩ ra nội dung 
lời thoại cho 4 bức tranh đó.
Lúc này trẻ được hoạt động nhóm khả năng trình bày, khả năng tưởng tượng, xử lý 
tình huống của trẻ cũng sẽ tốt hơn.
 3.1.4. Phát triển ngôn ngữ qua trò chơi đóng kịch cho trẻ
Là hoạt động giúp trẻ phát triển trí nhớ và giáo dục trẻ tinh thần tập thể. Qua hoạt 
động đóng kịch, trẻ truyền đạt lại nội dung câu chuyện làm sống động lại tâm trạng, hành động, ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong truyện. Khi đóng kịch trẻ dễ 
dàng nắm được nội dung, ý nghĩa tác phẩm, nắm được nội dung, ý nghĩa tác phẩm, 
nắm được tính liên tục của câu chuyện, điều này góp phần đẩy mạnh phát triển tư 
duy, cảm thụ các tác phẩm văn học một cách sâu sắc ở trẻ. Để đạt được điều đó thì 
trước khi cho trẻ đóng kịch tôi cho trẻ ôn luyện lại nội dung câu chuyện, đàm thoại 
về các nhân vật trong truyện để từ đó trẻ biết thể hiện những sắc thái khác nhau về 
ngữ điệu, tính cách, tâm trạng của các nhân vật trong truyện. Muốn trẻ nhớ được 
ngôn ngữ, lời thoại của các nhân vật sau đó cho trẻ đóng vai theo tổ hoặc nhóm.
Ví dụ: Truyện “ Chú dê đen” Tôi cho tổ 1 làm dê trắng, tổ 2 làm dê đen, tổ 3 làm 
chó sói để trẻ tự thể hiện hành động, điệu bộ của các nhân vật cho quen, thành thạo 
sau đó cho trẻ nhắc lại lời thoại của các nhân vật trong truyện mà trẻ sẽ đóng. Nhiệm 
vụ của cô giáo lúc này là người dẫn chuyện và trẻ diễn theo nội dung câu chuyện. 
Khi diễn xong tôi cho trẻ tự nhận xét vai chơi của mình từ đó trẻ xác định được thái 
độ của nhân vật trong truyện là yêu hay ghét.
Trò chơi đóng kịch thực sự giúp trẻ cảm nhận tác phẩm văn học và phát triển ngôn 
ngữ một cách sâu sắc và đề đạt được điều đó thì việc trang trí sân khấu và hóa trang 
cho trẻ rất quan trọng với câu truyện “Ba cô gái” tôi làm sân khấu có màn che, rồi 
trang trí cảnh phù hợp. Bên cạnh việc làm mô hình sân khấu thì việc hóa trang cho 
trẻ đóng kịch cũng rất cần thiết với nhân vật người mẹ, sóc, 3 người con.Tôi cho trẻ 
mặc quần áo nâu,Việc hóa trang và bố trí sân khấu phù hợp, trang phục đẹp sẽ 
giúp trẻ tự tin nhập vai tạo cho trẻ hứng thú với vai diễn.
Việc xác định giọng nói của các nhân vật trong truyện có vai trò quan trọng trong 
việc dạy trẻ tập đóng kịch, trẻ xác định được giọng của nhân vật thì sẽ nhập được 
vào vai chơi một cách tốt nhất.
Ví dụ: Truyện Ba cô gái
+ Tôi hỏi trẻ giọng của bà mẹ khi ốm nói với sóc như thế nào?(Chậm rãi, ấm)
+ Giọng của sóc như thế nào?(nhanh nhẹn)
+ Giọng của cô chị cả, chị hai khi biết mẹ ốm như thế nào?( thong thả, hời hợt, thiếu 
quan tâm).
+ Giọng của cô ba khi biết tin mẹ ốm như thế nào?( giọng lo lắng, hốt hoảng thể hiện 
sự quan tâm).
Tôi cho trẻ đọc lời thoại trích dẫn các nhân vật trong truyện.
Thông qua việc tổ chức cho trẻ tập đóng kịch tôi thấy khả năng thể hiện ngôn ngữ 
của trẻ trong giao tiếp bởi trong quá trình trẻ đóng kịch trẻ được trực tiếp giao lưu, 
đối thoại trực tiếp với bạn diễn từ đó ngôn ngữ của trẻ phát triển một cách linh hoạt 
và khéo léo. 3.1.5. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các bài đồng dao, ca dao.
Đồng dao, ca dao như một bức tranh với nhiều màu sắc thể hiện sự phong phú, đa 
dạng của cuộc sống từ đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần, tình cảm của con 
người, nó có giá trị về mặt trí tuệ, tình cảm và ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đến việc 
hình thành, phát triển nhân cách trẻ.
Các bài đồng dao có: 2, 3, 4, 6 chữcó vần, với lối ngắt nhịp 1-1, 1-2, thường có 
lối kết cấu vòng tròn, trùng điệp. Ngôn ngữ trong đồng dao, ca dao là ngôn ngữ hát, 
kể giàu hính nhạc, giàu hình ảnh, có sức tạo hình. Nó rất phù hợp với việc rèn cho 
trẻ phát âm, tích lũy vốn từ, hiểu nghĩa từ, nắm ngữ pháp, lối nói trôi trảy, uyển 
chuyển.
Để phát huy tính tích cực của ngôn ngữ qua các bài đồng dao, ca dao đối với sự phát 
triển ngôn ngữ của trẻ thì việc tổ chức các hoạt động cho trẻ đọc thuộc đồng dao, ca 
dao là rất quan trọng. Chính vì vậy mà tôi lồng ghép hoạt động đọc đồng dao, ca dao 
cho trẻ vào các hoạt động chơi trò chơi dân gian được tổ chức ở các giờ hoạt động 
ngoài trời, hoạt động đón trả trẻ, hoạt động sau khi ngủ dậy. Bên cạnh việc dạy trẻ 
đọc thuộc những bài đồng dao, ca dao thì tôi luôn tìm tòi những bài đồng dao, ca 
dao có nội dung, các bài thuộc sự kiện chủ đề mà trẻ đang học.
Ví dụ: Chủ đề sự kiện về gia đình: Dạy trẻ đọc bài ca dao:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
“Anh em nào phải người xa
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân
Yêu nhau như thể tay chân
Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.”
Ví dụ: Chủ đề sự kiện về thực vật:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng,
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
 “Trồng đậu, trồng cà “Bắt chập lá tre”
 Hoa hòe, hoa khế Ù à ù ập
 Khế ngọt, khế chua Bắt chập lá tre
 Cột đình, cột chùa Bắt đè lá muống Hai ta ôm cột Bắt cuống lên hoa
 Cây cam, cây quýt Bắt gà mổ thóc
 Cây mít, cây hồng Bắt học cho thông
 Cành đa, lá nhãn Cày đồng cho sớm
 Ai có chân, ai có tay thì rụt.” Nuôi lợn cho chăm
 Nuôi tằm cho rỗi
 Dệt cửi cho mau
 Nuôi trâu cho mập
 Ù à ù ập”
Chủ đề sự kiện thuộc nước và các hiện tượng tự nhiên:
“Kiến đen tha trứng lên cao
Thể nào cũng có mưa rào rất to.
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm”
Qua các bài đồng dao, ca dao tôi thấy được hiệu quả rõ ràng, trẻ hào hứng tham gia 
trò chơi đọc đồng dao, ca dao và nhớ bài lâu hơn.
 3.1.6. Phát triển ngôn ngữ thông qua việc dạy trẻ đọc thơ diễn cảm
Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu của các 
lứa tuổi, nó đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức hoạt động dạy trẻ đọc thơ 
diễn cảm cho trẻ em ở lứa tuổi mầm non. Đó là một trong những phương pháp rèn 
luyện phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ. Khi đọc thuộc lòng thơ trẻ sẽ làm cho ngôn 
ngữ của mình thêm sinh động, uyển chuyển, biểu cảm giúp trẻ thể hiện tình cảm suy 
nghĩ của tác giả.
Nhận thấy rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ thông qua việc dạy 
trẻ đọc thơ diễn cảm tôi luôn tìm tòi những phương pháp biện pháp tốt nhất để trẻ 
phát âm và diễn đạt được mạch lạc.
Với lứa tuổi này tôi chọn các bài thơ có sắc thái khác nhau: êm dịu, nhẹ nhàng, vui 
vẻ hóm hỉnh, nhằm giúp trẻ cảm nhận cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng việt 
và trong cuộc sống, giúp trẻ phát triển đời sống tình cảm.
Để thu hút trẻ đọc thơ thì việc chuẩn bị đồ dùng trực quan trong dạy học để gây hứng 
thú cho trẻ rất quan trọng, trong quá trình dạy trẻ đọc thơ diễn cảm tôi sử dụng các 
bức tranh thơ, sa bàn, con rối, vật thật vào trong tiết học.
Ví dụ: Thơ “Mèo đi câu cá”
- Cô đọc bài thơ lần 1 trên sa bàn, cho cả lớp nhắc lại tên bài thơ, tên tác giả.
- Cô đọc lần 2 kết hợp dùng hình ảnh minh họa trên powerpoin Cô giới thiệu nội dung bài thơ: Hai anh em nhà mèo đi câu cá nhưng lại ỷ lại nhau, 
mèo anh thì muốn ngủ, mèo em thì mải chơi, cuối cùng khi về nhà cả hai cùng đói 
bụng và không câu được con cá nào cả.
Đàm thoại trích dẫn:
+ Hai anh em mèo đã đi câu cá ở đâu? Theo các con câu thơ nào thể hiện điều đó?
+ Mèo anh đã làm gì khi ra đến bờ ao? Con hãy đọc câu thơ diễn tả điều đó.
+ Vì sao mèo anh lại không câu được cá? Câu thơ nào thể hiện điều đó?
+ Mèo em có câu được cá không? Vì sao?
+ Theo các con vì sao anh em Mèo trắng rủ nhau đi câu mà cuối ngày lại phải vác 
giỏ không về nhà?
+ Hai anh em mèo đáng khen hay đáng chê?
Sau khi đàm thoại tôi cho từng nhóm đọc thơ, sau đó sẽ mời các bạn đọc thơ hay và 
diễn cảm nhất cho cả lớp nghe.
Để trẻ cảm thụ tốt ngôn ngữ của câu thơ điều quan trọng nhất là phải đọc diễn cảm, 
thể hiện nhịp điệu và sắc thái thơ, vẻ đẹp của các câu thơ mô tả, kết hợp với tranh 
minh họa hoặc động tác minh họa.
* Kết quả thực hiện:
Qua quá trình áp dụng các hình thức này vào trong hoạt động làm quen văn học tôi 
thấy ngôn ngữ của trẻ phát triển rất tốt, trẻ phát âm chuẩn, trẻ biết diễn đạt đủ ý và 
trẻ còn mạnh dạn tự tin trong các hoạt động tập thể.
 3.2. Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ thông qua các hoạt động khác ở trường 
mầm non.
 Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, qua chơi trẻ muốn tự khẳng định 
mình, bộc lộ mình qua các vai chơi, giúp trẻ tiếp thu kiến thức phát triển ngôn 
ngữ đạt kết quả cao.
 * Cách thực hiện:
- Tổ chức phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động ngoài trời.
Sau mỗi giờ học ở trường mầm non là hoạt động ngoài trời. Hoạt động ngoài trời 
thường kéo dài từ 30- 35 phút. Chính vì vậy tôi đã tận dụng hoạt động ngoài trời để 
phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc cho trẻ đọc đồng dao, ca dao. Bên cạnh 
việc dạy trẻ đọc đồng dao, ca dao tôi lồng ghép các bài đồng dao vào các trò chơi 
dân gian để tạo hứng thú cho trẻ khi đọc.
Ví dụ: Bài “Nu na nu nống” Nu na nu nống Con cóc nhảy ra
 Cái trống nằm trong Con gà ú ụ
 Con ong nằm ngoài Bà mụ thổi xôi
 Củ khoai chấm mật Nhà tôi nấu chè
 Bụt ngồi bụt khóc Tè he chân rút
 Được vui chơi ngoài trời và đọc các bài đồng dao, ca dao tôi nhận thấy trẻ rất 
thích thú. Trò chơi không giới hạn số người chơi nên tất cả các trẻ đều được chơi từ 
đó trẻ được nói nhiều hơn.
 3.2.1 Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động góc
Ở góc văn học trẻ được đóng vai, kể chuyện, đọc thơ, đọc sách truyệntrẻ được 
giao lưu với các bạn, thoải mái thể hiện giọng kể của mình, sử dụng ngôn ngữ sáng 
tạo trong khi kể.
Trước khi cho trẻ kể lại chuyện theo tranh tôi cho trẻ làm quen với câu chuyện qua 
các hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều. Tôi kể cho trẻ nghe chuyện 
bằng những quyển truyện tranh to với những hình ảnh nhân vật rõ ràng, sống động, 
đẹp mắt, nội dung rõ ràng, ngắn gọn. Ngoài ra tôi còn cho trẻ xem băng truyện trước 
giờ trả trẻ với mục đích giúp trẻ ghi nhớ nội dung truyện, nhớ nhân vật truyện với 
lời thoại cuả các nhân vật trong truyện.
 Ví dụ: Câu chuyện: “Chiến công đầu tiên của bé Mi”
- Hình thức: tổ chức hoạt động góc
- Chuẩn bị: Bàn nhỏ, tranh truyện.
- Tiến hành: Trẻ ngồi ở góc văn học, trước khi tổ chức cho trẻ kể lại câu chuyện 
“Chiến công đầu tiên của bé Mi” tôi kể cho trẻ nghe và cho trẻ xem băng chuyện ở 
hoạt động chiều trước khi trả trẻ. Mục đích để trẻ nhớ nội dung và các nhân vật trong 
truyện trước khi tiến hành cho trẻ kể lại truyện.
+ Khi có việc bận mẹ gọi Mi đến và đã nói với Mi điều gì?
+ Nghe mẹ dặn xong Mi đã trả lời như thế nào?
+ Đang đi trên đường bỗng Mi gặp Tôm, bạn Tôm đã hỏi gì ?
+ Mi đã trả lời Tôm ra sao?
+ Tôm mắt tròn mắt dẹp lên nhìn Mi và đã nói với điều gì? Mi đã trả lời Tôm như 
thế nào? + Vì chạy vội quá Mi vấp phải hòn đá rồi ngã sõng soài ra đường. Khi biết 1 đồng 
xu bị rơi mất Mi đã nghĩ điều gì?
+ Đi đến cửa hàng bạn Mi gọi bác bán hàng như thế nào?
+ Khi người đeo kính đen đến đã nói gì?
+ Rồi lại có người phụ nữ đến mua hàng, người phụ nữ nói gì?
+ Lần này Mi lại gọi như thế nào?
+ Bà bán hàng lại nói xin lỗi Mi như thế nào?
+ Mi cầm sữa chạy về bà bán hàng đuổi theo nói như thế nào?
+ Khi Mi mang sữa về cho mẹ thì thế nào?
Sau khi đàm thoại trẻ nhớ lại nội dung truyện, tôi tổ chức cho trẻ lên kể lại theo các 
hình ảnh có trong truyện tranh. Dạy trẻ khi kể đến nhân vật nào thì dùng que chỉ vào 
từng hình ảnh trong truyện sao cho phù hợp với nội dung
Qua hoạt động kể truyện theo tranh ở góc văn học trẻ được đàm thoại,tranh luận 
trực tiếp với nhau để từ đó ngôn ngữ của trẻ được sử dụng linh hoạt hơn trong cuộc 
sống.
Ở góc chữ cái trẻ được đọc thơ, gạch chân chữ cái đã học, kể chuyện, bù chữ cái còn 
thiếu vào tranh chứa thẻ từ.
Trước khi cho trẻ gạch chân chữ cái đã học tôi cho trẻ làm quen với bài thơ qua các 
hoạt động chung, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều. Tôi cho trẻ 
đọc thơ bằng những quyển sách to có nội dung, hình ảnh minh họa nhân vật trong 
bài thơ. Ngoài ra tôi còn cho trẻ xem tranh, băng truyện trước giờ trả trẻ với mục 
đích giúp trẻ ghi nhớ nội dung bài thơ, cách đọc từ trên xuống dưới, từ trái sang phải
 Ví dụ: Bài thơ: “Nàng tiên ốc”
- Hình thức: tổ chức hoạt động góc
- Chuẩn bị: Bàn nhỏ, bài thơ in chữ to khổ A4 đóng thành quyển có hình ảnh minh 
họa.
- Tiến hành: Trẻ ngồi ở góc chữ cái, trước khi tổ chức cho trẻ đọc lại bài thơ, chỉ tay 
theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, tôi cho trẻ làm quen ở hoạt động 
chung và cho trẻ xem băng chuyện ở hoạt động chiều trước khi trả trẻ. Mục đích để 
trẻ nhớ nội dung bài thơ khi tiến hành cho trẻ đọc lại.
Yêu cầu trẻ gạch chân hoặc bù chữ cái còn thiếu chữ cái đã học g, y, h, k, p, q. Sau 
đó, đếm xem trong bài thơ có bao nhiêu chữ cái p, q, g, y, h, k rồi viết số tương ứng. Nếu bù chữ cái còn thiếu trẻ quan sát từ dưới tranh “Bà già”, “ Ốc xanh”, “ Nàng 
tiên”, “Đàn lợn”...và bù chữ còn thiếu. Ví dụ: “ Bà ..ià”
Qua hoạt động gạch chân chữ cái hoặc bù chữ còn thiếu trong bài thơ trẻ nhớ chữ 
cái lâu hơn.
 3.2.2.Tổ chức phát triển ngôn ngữ khi trẻ ngủ dậy.
Sau khi ngủ dậy trẻ thường mệt mỏi, uể oải vì còn ngái ngủ nên tôi thường cho trẻ 
đọc các bài đồng dao, ca dao quen thuộc để trẻ lấy lại tinh thần sảng khoái để bước 
vào các hoạt động trong buổi chiều cùng với đó giúp trẻ phát triển thêm khả năng 
ngôn ngữ.
VD: Bài: “Dung dăng dung dẻ”
 Dung dăng dung dẻ Cho dê đi học
 Dắt trẻ đi chơi Cho cóc ở nhà
 Đến ngõ nhà trời Cho gà bới bếp
 Lạy cậu lạy mợ Xì xà xì xụp
 Cho cháu về quê Ngồi thụp xuống đây.
- Cách chơi: Trẻ nắm tay nhau, vừa đi vừa đọc và tay vung theo nhịp của bài hát. 
Đến câu “Ngồi thụp xuống đây” trẻ nắm tay nhau ngồi thụp xuống sau đó đứng dậy 
lại đi tiếp.”
* Kết quả thực hiện:
Có thể thấy rằng việc lồng ghép phát triển ngôn ngữ ở mọi lúc mọi nơi và trong các 
hoạt động đem lại hiệu quả một cách rõ rệt. Tôi thấy trẻ lớp tôi mạnh dạn tự tin hơn, 
phát âm to, rõ ràng, mạch lạc, biết sử dụng ngôn ngữ giọng điệu trong kể chuyện 
sáng tạo,.Trẻ thêm phần thích thú và tích cực hơn trong các hoạt động ở trường 
mầm non.
 3.3. Biện pháp 3: Tuyên truyền và kết hợp với phụ huynh trong việc phát 
triển ngôn ngữ cho trẻ.
 Môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình nhà trường. Chính vì vậy, việc 
kết hợp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giữa gia đình và nhà trường là một biện pháp 
không thể thiếu.
 * Cách thực hiện:
Trong cuộc họp đầu năm lớp có nêu tầm quan trọng của lĩnh vực phát triển ngôn ngữ 
cho trẻ đặc biệt là thông qua hoạt động dạy trẻ đọc ca dao, đồng dao, đọc thơ, kể 
truyện. Hàng tháng tôi dán bài ở bảng thông báo, đăng lên trang Facebook của lớp các bài thơ, bài đồng dao, ca dao các câu chuyện để phụ huynh có thể nắm rõ, kết 
 hợp với giáo viên ở lớp rèn thêm trẻ ở nhà.
 Trong giờ đón trả trẻ ngoài việc trao đổi với phụ huynh về tình tình sức khỏe, thói 
 quen ăn ngủ, vệ sinh trong ngày của trẻ tôi còn trao đổi về tình hình học tập của cháu 
 và chú trọng hơn về việc phát âm, diễn đạt ngôn ngữ của trẻ.
 Bảng tuyên truyền là một phương tiện trao đổi gián tiếp của cô giáo với phụ huynh. 
 Trong bảng tuyên truyền tôi sắp xếp một mục là thơ truyện bé học. Trong mục thơ 
 truyện bé học tôi sưu tầm các bài thơ, câu chuyện hay có ý nghĩa. Nhờ vậy phụ huynh 
 có ý thức hơn trong việc giúp trẻ phát âm, diễn đạt ngôn ngữ một cách tốt nhất.
 Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay đa phần phụ huynh đều sử dụng điện 
 thoại thông minh có zalo, facebook chính vì vậy mà tôi đã lập trang zalo, facebook 
 riêng của lớp. Ngoài việc thông báo các sự kiện, bài học của trẻ ra tôi còn đăng các 
 bài thơ, chia sẻ các video truyện lên trang để phụ huynh có thể dạy cho trẻ ở nhà.
 * Kết quả thực hiện:
 Có thể nói rằng công tác phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một việc vô 
 cùng cần thiết và quan trọng. Sau khi thực hiện tôi thấy mối quan hệ giữa gia đình 
 và nhà trường ngày càng được gần gũi hơn phụ huynh thêm phần tin tưởng các cô. 
 Nhờ vậy mà trẻ ngôn ngữ của trẻ ngày càng tiến bộ hơn.
 4. Hiệu quả sáng kiến:
 Sau một năm thực hiện đã đạt được kết quả như sau:
 ĐẦU NĂM (48 trẻ) CUỐI NĂM (48 trẻ)
STT NỘI DUNG Chưa Chưa 
 Đạt Đạt
 đạt đạt
 Trẻ phát âm đúng, to, rõ 46/48= 
1 16=33% 32=67% 2=4,2%
 ràng, mạch lạc. 95,8%
 Trẻ tự tin sử dụng linh hoạt 
2 từ ngữ trong giao tiếp với 13=27% 35=73% 45/48=93,7% 3= 6,3%
 mọi người xung quanh.
 Trẻ sử dụng ngôn ngữ, giọng 
 điệu trong kể chuyện sáng 
3 11=23% 37=77% 42/48=87,5% 6=2,5%
 tạo và kể chuyện theo trí 
 nhớ.
4 Trẻ đọc thơ diễn cảm. 20=42% 28=58% 47/48=97,9% 1=2,1%
 Trẻ biết đặt các câu hỏi giải 
5 10=21% 38=79 41/48=85,4% 7= 4,6%
 thích, phỏng đoán, suy luận. 
 4.1. Về phía bản thân tôi:
Từ phía bản thân tôi rút ra bài học kinh nghiệm khi dạy trẻ phát triển ngôn ngữ mạch 
lạc thông qua bộ môn làm quen văn học:
 + Giáo viên cần nâng cao trình độ, ngôn ngữ chủa bản thân mình coi ngôn ngữ 
 là một phương pháp giáo dục chủ đạo
 + Giáo viên phải thật sự nhiên trì và nhẫn nại, yêu thương trẻ nhỏ
 + Giáo viên phải luôn tìm tòi những cái mới để thu hút trẻ vào tiết học
 + Phối hợp với phụ huynh để động viên trẻ thực hiện yêu cầu cần đạt.
 4.2. Về phía trẻ:
- Trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.
- Vốn từ của trẻ tăng lên, trẻ diễn đạt một cách mạch lạc, phát âm chuẩn.
- Trẻ mạnh dạn tự tin hơn trong các hoạt động.
 4.3. Về phía lớp
- Qua quá trình trẻ được học tập và vui chơi ở lớp cùng với đó là tuyên truyền tới 
phụ huynh để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ phụ huynh thêm phần tin tưởng vào nhà 
trường và giáo viên, tích cực trong công tác phối hợp với giáo viên chăm sóc giáo 
dục trẻ.
 4.4. Về phía nhà trường
- Lớp đạt lớp tốt của trường, có nhiều tiết kiến tập để chị e đồng nghiệp được học 
hỏi lẫn nhau.
 III. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
 1. Kết luận
 Thực tế cho thấy việc áp dụng các biện pháp vào trong quá trình dạy và học trong 
nhà trường giúp trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập hơn. Trẻ phát âm 
đúng, to, rõ ràng, mạch lạc, Trẻ sử dụng từ ngữ linh hoạt, phong phú trong giao tiếp. 
Trẻ biết sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu trong kể chuyện sáng tạo và kể chuyện theo 
trí nhớ. Trẻ biết đọc thơ diễn cảm,trẻ mạnh dạn trả lời câu hỏi của giáo viên cùng 
với đó trẻ tự tin trong giao tiếp với mọi người xung quanh.
 Các bài học của trẻ không những học trên lớp mà thông qua giờ đón trả trẻ, bảng 
tuyên truyền, họp phụ huynh tôi gửi tới phụ huynh bài học của trẻ, các bản power 
point, các đoạn video được gửi trên gmail để cho trẻ được học, kể cho bố mẹ ở nhà. 
Phụ huynh thêm phần tin tưởng vào giáo viên, nhà trường, tích cực trong công tác 
phối hợp với giáo viên chăm sóc giáo dục trẻ. Tuy kinh nghiệm còn khiêm tốn nhưng 
được rút ra từ thực tiễn giảng dạy cùng với sự đóng góp một phần không nhỏ của 
ban giám hiệu nhà trường cùng các bạn đồng nghiệp. * Bài học kinh nghiệm:
Qua quá trình thực hiện đề tài bản thân tôi đã rút ra được những kinh nghiệm như 
sau:
- Bản thân cần phải tích cực tìm tòi học hỏi, nhận thức sâu sắc những nội dung giáo 
dục và lựa chọn nội dung phù hợp đưa vào dạy trẻ lớp mình.
- Thường xuyên nghiên cứu tài liệu nâng cao trình độ chuyên môn.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 
tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học.
- Luôn tìm tòi, đầu tư thời gian nghiên cứu, sưu tầm các biện pháp tổ chức hoạt động 
phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở các hoạt động khác trong và ngoài tiết học.
- Nâng cao kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu trong kể chuyện sáng tạo và kể 
chuyện theo trí nhớ, đặt các câu hỏi giải thích, phỏng đoán, suy luận.ở trẻ.
- Cho trẻ phát triển ngôn ngữ dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Lồng ghép hoạt động phát triển ngôn ngữ vào các hoạt động khác.
- Kết hợp với với phụ huynh, tạo uy tín và tiềm năng đối với phụ huynh và đối với 
trẻ.
 2. Kiến nghị - Đề xuất
 Đề xuất với cấp trên tổ chức cho chúng tôi các lớp tập huấn, các buổi dự giờ kiến 
tập để chúng tôi được học hỏi những cái mới cái hay của các trường từ đó kiến thức 
chuyên môn của chúng tôi được nâng cao đảm bảo chất lượng giáo dục tốt nhất.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_5_6_tuoi_t.docx