SKKN Một số biện pháp chỉ đạo dạy trẻ 5 -6 tuổi nói tiếng dân tộc Mường nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương (GV: Nguyễn Thị Nguyệt Quế - Trường MN Yên Bài A - Năm học 2023-2024)

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến
1.1 Lý do chọn đề tài Bản sắc văn hóa dân tộc là sự đặc trưng và định hình danh tính văn hóa của một dân tộc cụ thể nó bao gồm giá trị, quan niệm, tập quán, truyền thống, ngôn ngữ, nghệ thuật... Bản sắc văn hóa dân tộc là kết quả của quá trình lịch sử, sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, sự tương tác giữa con người và môi trường sống. Nó là tập hợp những giá trị cốt lõi, tư tưởng và phong cách sống độc đáo của một dân tộc trong việc giao tiếp, hành vi, quan niệm tôn giáo, hệ thống giáo dục, công nghệ, truyền thông và mọi khía cạnh khác của đời sống xã hội. Bản sắc văn hóa dân tộc thường xuất phát từ lịch sử, địa lý, truyền thống, và ngôn ngữ riêng biệt của dân tộc đó. Nó thể hiện sự đa dạng và độc đáo của mỗi dân tộc trên thế giới. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được biểu hiện qua một loạt các yếu tố đa dạng và đặc trưng. Mội trong các các yếu tố đặc trưng ấy chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một phần không thể thiếu của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Đặc điểm ngôn ngữ, cách diễn đạt, ngữ điệu và thành ngữ đặc trưng đã gắn kết và thể hiện sự đặc biệt của dân tộc Việt

Trong bối cảnh hiện nay khi đang nảy sinh một thực tế là con em người dân tộc trong đó có dân tộc Mường ra đời sinh sống học tập và làm việc đều dùng tiếng Việt. Tiếng mẹ đẻ (tiếng Mường) không dùng, ít dùng thậm chí không biết. Việc giữ gìn ngôn ngữ của mỗi dân tộc không chỉ thuần tuý để giao tiếp mà còn là cách bảo tồn di sản văn hoá. Bởi vì, quá trình tiến hoá của con người phải trải qua hàng vạn năm mới sản sinh ra tiếng nói. Tiếng nói quy định rất nhiều đến thuộc tính văn hoá và đặc thù tâm sinh lý, cốt cách của mỗi tộc người. Tuy nhiên, đặc thù văn hoá của mỗi dân tộc lại không tồn tại đơn lẻ mà luôn có sự cọ xát, giao thoa để kích thích sự phát triển nền văn hoá Việt Nam đặc sắc và đa dạng. Đi vào thực tế đời sống ta thấy rất rõ là, nếu trẻ em dân tộc thiểu số mai đây không còn nói tiếng dân tộc mình thì chắc chắn không thể duy trì được các làn điệu dân ca, kể những câu chuyện từ nghìn đời truyền lại bằng chính ngôn ngữ của dân tộc họ. Hoặc là, việc thờ cúng tổ tiên vốn được coi là nét đẹp văn hoá của người Việt Nam, nhưng nếu không giữ được tiếng mẹ đẻ thì tất sẽ phải đọc văn tế tổ tiên bằng một thứ ngôn ngữ khác...Như vậy, ta có thể khẳng định rằng, bảo vệ ngôn ngữ của từng dân tộc không chỉ là để giao tiếp mà nó còn mang ý nghĩa bảo tồn các giá trị văn hoá, bảo vệ cốt cách của mỗi dân tộc đó... Việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc và việc khuyến khích trẻ em nói tiếng dân tộc mình có một ý nghĩa rất quan trọng. Để trẻ em hứng thú học tiếng dân tộc mình, trước hết các bậc ông bà, cha mẹ và những người thân phải nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của việc bảo tồn ngôn ngữ. Từ nhận thức đúng, chúng ta sẽ có hướng đi đúng và khuyến khích trẻ thực hiện. Tạo điều kiện cho trẻ em là người dân tộc thiểu số thường xuyên có cơ hội giao tiếp với cộng đồng dân tộc mình.... Trong hành trình gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, việc bảo tồn và phát huy các di sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu quan trọng của Quốc gia. Nói tới đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam, điều được nhắc tới trước tiên là bản sắc văn hóa truyền thống. Những yếu tố như tiếng nói, chữ viết, lễ hội, trang phục… đã làm nên giá trị đặc sắc của mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số. Đây còn là món ăn tinh thần, là sợi dây gắn kết mỗi cá nhân trong cộng đồng với nhau. Nó cũng chính là những báu vật vô giá mang lại giá trị tinh thần to lớn cho mỗi người dân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

1.2. Cơ sở lí luận a) Vai trò/ý nghĩa của việc dạy trẻ nói ngôn ngữ tiếng dân tộc. Việc lồng ghép dạy trẻ tiếng dân tộc mình (dân tộc Mường) vào trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ có một ý nghĩa rất lớn, nó góp phần cho sự lưu giữ và bảo tồn ngôn ngữ của người Mường nhằm giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá dân tộc cho đồng bào dân tộc nói chung và đồng bào dân tộc Mường trên địa bàn xã Yên Bài huyện Ba Vì nói riêng vì chỉ có ngôn ngữ mới là cầu nối để bày tỏ tâm tư tình cảm, suy nghĩ cảm xúc và tư duy của con người. Các thế hệ con cháu có thể lĩnh hội được các giá trị bản sắc của cha ông hay không đều nhờ vào yếu tố đầu tiên là ngôn ngữ. b) Nội dung của việc dạy trẻ nói ngôn ngữ tiếng dân tộc: Dạy trẻ nói ngôn ngữ dân tộc là dạy trẻ cách phát âm, cách nói và sử dụng ngôn ngữ nói tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ của trẻ) trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Có một thực tế là hiện nay văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung, văn hóa dân tộc Mường nói riêng đang dần mai một. Bắt đầu từ ngôn ngữ. Ban đầu các dân tộc, trong đó có dân tộc Mường duy trì trạng thái song ngữ, tức ra ngoài xã hội dùng ngôn ngữ tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng dân tộc thiểu số ) sử dụng trong sinh hoạt gia đình. Sau quá trình giao lưu được đẩy mạnh thì ngay trong gia đình cũng ít sử dụng tiếng dân tộc thiểu số. Hiện nay, ngày càng có nhiều người Mường, nhất là người Mường trẻ tuổi, không nghe và không nói được tiếng Mường. Đây là điều đáng buồn, đáng suy ngẫm.

Cùng với đó, kiến thức, sự hiểu biết của người Mường về Mo Mường, bản sắc văn hóa dân tộc Mường cũng dần mai một. Vì vậy đòi hỏi mỗi chúng ta đều cần có ý thức để bảo vệ và gìn giữ. Đặc biệt là dạy cho các thế hệ trẻ thơ cách gìn giữ nó ngay từ trong các nhà trường. c) Các hoạt động giáo dục tích hợp/lồng ghép dạy trẻ tiếng dân tộc trong kế hoạch giáo dục của nhà trường như các hoạt động steams về dạy trẻ làm cơm lam, làm bánh ốc, trang tí cồng chiêng, trang trí váy áo của người Mường. Hay các hoạt động thăm quan trải nghiệm. Thăm đình làng Bài, làng Quýt, tham gia các lễ hội ở hai ngôi đình này, các hoạt động vui chơi như chơi cà kheo, nhảy sạp, ném còn, kéo mo cau trong các chương trình “Vui hội bản Mường” sé là những hoạt động để tích hợp dạy trẻ tiếng dân tộc Mường được gần gũi và hiệu quả nhất.

pdf 31 trang Bình An 31/03/2026 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo dạy trẻ 5 -6 tuổi nói tiếng dân tộc Mường nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương (GV: Nguyễn Thị Nguyệt Quế - Trường MN Yên Bài A - Năm học 2023-2024)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo dạy trẻ 5 -6 tuổi nói tiếng dân tộc Mường nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương (GV: Nguyễn Thị Nguyệt Quế - Trường MN Yên Bài A - Năm học 2023-2024)

SKKN Một số biện pháp chỉ đạo dạy trẻ 5 -6 tuổi nói tiếng dân tộc Mường nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương (GV: Nguyễn Thị Nguyệt Quế - Trường MN Yên Bài A - Năm học 2023-2024)
 UBND HUYỆN BA VÌ 
 TRƯỜNG MẦM NON YÊN BÀI A 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
"Một số biện pháp chỉ đạo dạy trẻ 5 -6 tuổi nói tiếng dân tộc 
 Mường nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương” 
 Lĩnh vực: Quản lý 
 Cấp học: Mầm non 
 Tên tác giả: Nguyễn Thị Nguyệt Quế 
 Đơn vị công tác: Trường Mầm non Yên Bài A 
 Chức vụ: Phó Hiệu trưởng 
 NĂM HỌC: 2023 - 2024 5 
 MỤC LỤC 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 6 
 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến .................................................... 6 
 1.1 Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 6 
 1.2. Cơ sở lí luận ........................................................................................... 2 
 1.3. Cơ sở thực tiễn ....................................................................................... 3 
 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến: ................................................................... 5 
 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ............................................... 5 
 3.1. Thời gian nghiên cứu và thực hiện .......................................................... 5 
 3.2. Đối tượng nghiên cứu: ............................................................................. 5 
 3.3. Phạm vi nghiên cứu: ................................................................................ 5 
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN .................................................................... 5 
 1. Hiện trạng dạy tiếng dân tộc Mường cho trẻ mầm non 5-6 tuổi trong 
 địa bàn có người dân tộc Mường sinh sống... ................................................ 5 
 2. Các biện pháp chỉ đạo dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường giữ gìn bản sắc 
 văn hóa địa phương. ........................................................................................ 8 
 2.1. Biện pháp 1: Tham mưu và xây dựng kế hoạch lồng ghép dạy trẻ nói 
 tiếng dân tộc Mường trong các hoạt động trong ngày. .................................. 9 
 2.2. Biện pháp 2: Chỉ đạo xây dựng môi tường lớp học, lồng ghép tiếng dân 
 tộc Mường vào trong các hoạt động của trẻ. ................................................ 12 
 2.3. Biện pháp 3: Chi đạo tổ chức các hoạt động văn hóa mang bản sắc của 
 dân tộc Mường.............................................................................................. 13 
 Tổ chức các sự kiện văn hóa và lễ hội truyền thống để tạo cơ hội cho cộng 
 đồng tham gia và trải nghiệm bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là dịp để truyền 
 tải và truyền lại những giá trị, phong tục và truyền thống cho thế hệ sau. .. 13 
 2.4. Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh trong công tác dạy tiếng dân tộc 
 Mường cho trẻ nhằm bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. ............................... 14 
 3. Kết quả thực nghiệm: ................................................................................ 16 
 4. Hiệu quả của sáng kiến .............................................................................. 18 
 4.1. Hiệu quả về khoa học ............................................................................ 18 
 4.2. Hiệu quả về kinh tế ................................................................................ 19 
 4.3. Hiệu quả về xã hội ................................................................................. 19 
 5. Tính khả thi ................................................................................................ 19 
 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến: ...................................................... 19 
 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến: ....................................................... 19 
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. ........................................................... 19 
 1. Kết luận ....................................................................................................... 19 
 2. Khuyến nghị ............................................................................................... 20 
 6 
 Tên đề tài: "Một số biện pháp chỉ đạo dạy trẻ 5 -6 tuổi nói tiếng dân tộc 
 Mường nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương” 
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 
 1.1 Lý do chọn đề tài 
 Bản sắc văn hóa dân tộc là sự đặc trưng và định hình danh tính văn hóa 
của một dân tộc cụ thể nó bao gồm giá trị, quan niệm, tập quán, truyền thống, 
ngôn ngữ, nghệ thuật... 
 Bản sắc văn hóa dân tộc là kết quả của quá trình lịch sử, sự tiếp xúc với 
các nền văn hóa khác, sự tương tác giữa con người và môi trường sống. Nó là 
tập hợp những giá trị cốt lõi, tư tưởng và phong cách sống độc đáo của một dân 
tộc trong việc giao tiếp, hành vi, quan niệm tôn giáo, hệ thống giáo dục, công 
nghệ, truyền thông và mọi khía cạnh khác của đời sống xã hội. Bản sắc văn hóa 
dân tộc thường xuất phát từ lịch sử, địa lý, truyền thống, và ngôn ngữ riêng biệt 
của dân tộc đó. Nó thể hiện sự đa dạng và độc đáo của mỗi dân tộc trên thế giới. 
 Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được biểu hiện qua một loạt các yếu tố 
đa dạng và đặc trưng. Mội trong các các yếu tố đặc trưng ấy chính là ngôn ngữ. 
Ngôn ngữ là một phần không thể thiếu của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. 
Đặc điểm ngôn ngữ, cách diễn đạt, ngữ điệu và thành ngữ đặc trưng đã gắn kết 
và thể hiện sự đặc biệt của dân tộc Việt 
 Trong bối cảnh hiện nay khi đang nảy sinh một thực tế là con em người 
dân tộc trong đó có dân tộc Mường ra đời sinh sống học tập và làm việc đều 
dùng tiếng Việt. Tiếng mẹ đẻ (tiếng Mường) không dùng, ít dùng thậm chí 
không biết. Việc giữ gìn ngôn ngữ của mỗi dân tộc không chỉ thuần tuý để giao 
tiếp mà còn là cách bảo tồn di sản văn hoá. Bởi vì, quá trình tiến hoá của con 
người phải trải qua hàng vạn năm mới sản sinh ra tiếng nói. Tiếng nói quy định 
rất nhiều đến thuộc tính văn hoá và đặc thù tâm sinh lý, cốt cách của mỗi tộc 
người. Tuy nhiên, đặc thù văn hoá của mỗi dân tộc lại không tồn tại đơn lẻ mà 
luôn có sự cọ xát, giao thoa để kích thích sự phát triển nền văn hoá Việt Nam 
đặc sắc và đa dạng. Đi vào thực tế đời sống ta thấy rất rõ là, nếu trẻ em dân tộc 
thiểu số mai đây không còn nói tiếng dân tộc mình thì chắc chắn không thể duy 
trì được các làn điệu dân ca, kể những câu chuyện từ nghìn đời truyền lại bằng 
chính ngôn ngữ của dân tộc họ. Hoặc là, việc thờ cúng tổ tiên vốn được coi là 
nét đẹp văn hoá của người Việt Nam, nhưng nếu không giữ được tiếng mẹ đẻ thì 
tất sẽ phải đọc văn tế tổ tiên bằng một thứ ngôn ngữ khác...Như vậy, ta có thể 
khẳng định rằng, bảo vệ ngôn ngữ của từng dân tộc không chỉ là để giao tiếp mà 
nó còn mang ý nghĩa bảo tồn các giá trị văn hoá, bảo vệ cốt cách của mỗi dân 2 
 tộc đó... Việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc và việc khuyến khích trẻ em nói 
tiếng dân tộc mình có một ý nghĩa rất quan trọng. Để trẻ em hứng thú học tiếng 
dân tộc mình, trước hết các bậc ông bà, cha mẹ và những người thân phải nhận 
thức đầy đủ về ý nghĩa của việc bảo tồn ngôn ngữ. Từ nhận thức đúng, chúng ta 
sẽ có hướng đi đúng và khuyến khích trẻ thực hiện. Tạo điều kiện cho trẻ em là 
người dân tộc thiểu số thường xuyên có cơ hội giao tiếp với cộng đồng dân tộc 
mình.... 
 Trong hành trình gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, việc bảo tồn và 
phát huy các di sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mục tiêu 
quan trọng của Quốc gia. Nói tới đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam, điều 
được nhắc tới trước tiên là bản sắc văn hóa truyền thống. Những yếu tố như 
tiếng nói, chữ viết, lễ hội, trang phục đã làm nên giá trị đặc sắc của mỗi cộng 
đồng dân tộc thiểu số. Đây còn là món ăn tinh thần, là sợi dây gắn kết mỗi cá 
nhân trong cộng đồng với nhau. Nó cũng chính là những báu vật vô giá mang lại 
giá trị tinh thần to lớn cho mỗi người dân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. 
 1.2. Cơ sở lí luận 
 a) Vai trò/ý nghĩa của việc dạy trẻ nói ngôn ngữ tiếng dân tộc. 
 Việc lồng ghép dạy trẻ tiếng dân tộc mình (dân tộc Mường) vào trong 
chương trình chăm sóc giáo dục trẻ có một ý nghĩa rất lớn, nó góp phần cho sự 
lưu giữ và bảo tồn ngôn ngữ của người Mường nhằm giữ gìn và phát huy giá trị 
bản sắc văn hoá dân tộc cho đồng bào dân tộc nói chung và đồng bào dân tộc 
Mường trên địa bàn xã Yên Bài huyện Ba Vì nói riêng vì chỉ có ngôn ngữ mới là 
cầu nối để bày tỏ tâm tư tình cảm, suy nghĩ cảm xúc và tư duy của con người. 
Các thế hệ con cháu có thể lĩnh hội được các giá trị bản sắc của cha ông hay 
không đều nhờ vào yếu tố đầu tiên là ngôn ngữ. 
 b) Nội dung của việc dạy trẻ nói ngôn ngữ tiếng dân tộc: 
 Dạy trẻ nói ngôn ngữ dân tộc là dạy trẻ cách phát âm, cách nói và sử 
dụng ngôn ngữ nói tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ của trẻ) trong cuộc sống sinh 
hoạt hàng ngày. 
 Có một thực tế là hiện nay văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung, văn 
hóa dân tộc Mường nói riêng đang dần mai một. Bắt đầu từ ngôn ngữ. Ban đầu 
các dân tộc, trong đó có dân tộc Mường duy trì trạng thái song ngữ, tức ra ngoài 
xã hội dùng ngôn ngữ tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng 
dân tộc thiểu số ) sử dụng trong sinh hoạt gia đình. Sau quá trình giao lưu được 
đẩy mạnh thì ngay trong gia đình cũng ít sử dụng tiếng dân tộc thiểu số. Hiện 
nay, ngày càng có nhiều người Mường, nhất là người Mường trẻ tuổi, không 
nghe và không nói được tiếng Mường. Đây là điều đáng buồn, đáng suy ngẫm. 3 
Cùng với đó, kiến thức, sự hiểu biết của người Mường về Mo Mường, bản sắc 
văn hóa dân tộc Mường cũng dần mai một. Vì vậy đòi hỏi mỗi chúng ta đều cần 
có ý thức để bảo vệ và gìn giữ. Đặc biệt là dạy cho các thế hệ trẻ thơ cách gìn 
giữ nó ngay từ trong các nhà trường. 
 c) Các hoạt động giáo dục tích hợp/lồng ghép dạy trẻ tiếng dân tộc trong 
kế hoạch giáo dục của nhà trường như các hoạt động steams về dạy trẻ làm cơm 
lam, làm bánh ốc, trang tí cồng chiêng, trang trí váy áo của người Mường. Hay 
các hoạt động thăm quan trải nghiệm. Thăm đình làng Bài, làng Quýt, tham gia 
các lễ hội ở hai ngôi đình này, các hoạt động vui chơi như chơi cà kheo, nhảy 
sạp, ném còn, kéo mo cau trong các chương trình “Vui hội bản Mường” sé là 
những hoạt động để tích hợp dạy trẻ tiếng dân tộc Mường được gần gũi và hiệu 
quả nhất. 
 1.3. Cơ sở thực tiễn 
 Trong cộng đồng 54 dân tộc của Việt Nam, người Mường (còn có tên gọi 
Mol, Mual, Moi) có dân số hơn một triệu người. Người Mường có cùng nguồn 
gốc với người Việt cổ, cư trú ở nhiều tỉnh phía Bắc trong đó có ở một số huyện 
ngoại thành miền núi của thành phố Hà Nội. Một trong số đó là huyện Ba Vì. 
Bản sắc văn hóa của dân tộc Mường gắn liền với nền văn hóa Hòa Bình ra đời 
cách đây hơn một vạn năm. Do người Mường có nguồn gốc gần với người Kinh 
nên ngôn ngữ của họ thuộc nhóm Việt-Mường. Bản sắc văn hóa dân tộc được 
hiểu là sự tổng hòa những giá trị văn hóa bền vững, phản ánh diện mạo, sắc thái, 
cốt cách, tâm hồn, tâm lý... của một dân tộc, được thường xuyên hun đúc, bổ 
sung và lan tỏa trong lịch sử dân tộc, trở thành tài sản tinh thần vô cùng đặc sắc 
và giá trị, tạo nên sức mạnh gắn kết cộng đồng. Để phân biệt sự khác nhau giữa 
dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại nói chung và cộng đồng 
54 dân tộc của đất nước Việt Nam nói riêng. Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu 
hiện ở lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý 
thức cộng đồng gắn kết cá nhân gia đình - làng xã - Tổ quốc. Là lòng nhân ái, 
khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự 
tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. 
 Hiện nay việc giữ gìn ngôn ngữ tiếng dân tộc nói chung và tiếng dân tộc 
Mường nói riêng đang được Chính phủ, Bộ Giáo dục quan tâm. Như Chỉ thị số 
38/2004/CT-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc 
đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức 
công tác ở vùng dân tộc, miền núi; thông tư số 09/2023/TT-BGDĐT ngày 18 
tháng 4 năm 2023 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về việc tổ 
chức, đào tạo bồi dưỡng và cấp chứng chỉ dân tộc thiểu số. Hay báo Đảng công 4 
sản cũng có bài viết về việc Việt Nam sớm thực hiện chính sách ngôn ngữ và 
dạy học tiếng dân tộc. Bài viết cũng đã khẳng định về quyền và Nguyên tắc về 
sự bình đẳng giữa các dân tộc được thể hiện trong nhiều điều luật, trong đó có 
Điều 42, Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định: “Công dân có quyền xác định 
dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Trong 
lĩnh vực giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu cho Chính phủ ban 
hành các chính sách về dạy và học tiếng dân tộc như: Quyết định số 53/CP ngày 
22/2/1980 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương đối với chữ viết của các dân 
tộc thiểu số. Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 về 
công tác dân tộc, quy định: “Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc 
dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp 
của mỗi dân tộc”. 
 Dạy học tiếng dân tộc đã đem lại lợi ích to lớn về giáo dục cho người dân 
tộc thiểu số. Dạy tiếng dân tộc là dạy ngôn ngữ, dạy văn hoá, dạy tri thức bản 
địa và các tri thức nhân loại cho trẻ, giáo dục trẻ phát triển toàn diện. Dạy tiếng 
dân tộc là một giải pháp thiết thực trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá 
dân tộc trong cuộc sống. 
 Cộng đồng dân tộc thiểu số dù chỉ chiếm khoảng 1,3% tổng dân số của 
thủ đô và sinh sống tập trung tại nhiều xã trong 5 huyện trên địa bàn Hà Nội, 
trong đó có xã Yên Bài, Huyện Ba Vì. Nhưng lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền 
thống đặc sắc, có ý nghĩa quan trọng. Dù vậy, sự phát triển của xã hội hiện đại 
đang khiến nhiều nét văn hóa truyền thống dần bị mai một. Cùng với thời gian 
các hoạt động truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã ít nhiều thay 
đổi. Các hoạt động truyền thống hiện nay mang tính sân khấu hóa, biểu diễn 
nhiều hơn là mang tính cộng đồng. Đối tượng tham gia các hoạt động này 
thường được chọn mang tính nghi thức và biểu diễn theo mô típ dàn dựng sẵn. 
Trang phục, âm nhạc dân tộc cũng không còn được như trước đây mà hiện đại 
hóa đi nhiều, bên cạnh đó ngôn ngữ nói của người Mường cũng dần mai một 
qua nhiều thế hệ. Muốn giữ gìn bản sắc văn hóa thì ngay từ các nhà trường cần 
giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho trẻ (đặc biệt là trẻ dân tộc miền núi). Đó là 
quá trình lâu dài của nhiều thế hệ. Cùng với việc lựa chọn các giá trị văn hóa tốt 
đẹp như trang phục truyền thống, tập quán sinh hoạt, lao động sản xuất, các làn 
điệu dân ca, các lễ hội truyền thống ..của dân tộc thì ngôn ngữ, tiếng nói của dân 
tộc chính là công cụ chủ yếu để truyền tải các tri thức mang giá trị bản sắc của 
người đồng bào dân tộc thiểu số. Để giáo dục cho trẻ giữ gìn bản sắc thì việc 
làm đầu tiên cần đó chính là dạy trẻ nói được tiếng nói của dân tộc mình. Hiểu 
rõ được điều đó, là một cán bộ quản lý được công tác tại trường thuộc 7 xã miền 5 
núi của Huyện Ba Vì với gần 50% dân số trong xã, hơn 50% số trẻ trong trường 
là người dân tộc Mường. Tôi luôn trăn trở, phải làm gì để tiếp nối truyền thống 
văn hóa của dân tộc Mường, đặc biệt là giữ gìn ngôn ngữ nói của người dân tộc 
Mường cho các thế hệ trẻ thơ. Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài "Một số biện 
pháp chỉ đạo dạy trẻ 5 -6 tuổi nói tiếng dân tộc Mường nhằm giữ gìn bản sắc 
văn hóa địa phương” 
 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến: 
 Tìm ra các biện pháp dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường, giữ gìn văn hóa địa 
phương cho trẻ trong trường mầm non. Các biện pháp được áp dụng phù hợp, 
mang lại hiệu quả. 
 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 
 3.1. Thời gian nghiên cứu và thực hiện 
 Từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024 
 3.2. Đối tượng nghiên cứu: 
 Hệ thống các biện pháp giúp trẻ biết nói tiếng dân tộc Mường trong 
trường mầm non 
 3.3. Phạm vi nghiên cứu: 
 77 Phụ huynh, 77 trẻ khối 5 tuổi và 34 giáo viên tại trường mầm non nơi 
tôi đang công tác. 
 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
 1. Hiện trạng dạy tiếng dân tộc Mường cho trẻ mầm non 5-6 tuổi 
trong địa bàn có người dân tộc Mường sinh sống... 
 Bản sắc văn hóa đặc biệt là ngôn ngữ đã từng là yếu tố không thể thiếu và 
hiện diện trong đời sống hàng ngày của cộng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn 
Thủ đô, nhưng trước dòng chảy của thời gian, không ít nét văn hóa đang dần 
phai nhạt, thậm chí là mất đi. Đối với người Mường, việc lưu giữ tiếng nói cũng 
đang là nỗi trăn trở lớn, hiện nay các thế hệ thanh niên trẻ tuổi đến các con lứa 
tuổi mầm non gần như không biết nói tiếng Mường. Sở dĩ như vậy là bởi ngôn 
ngữ này đang dần mất đi tính phổ dụng, khi các con đến trường, trưởng thành, ra 
ngoài lao động, công tác chỉ dùng tiếng Việt. Tiếng Mường giờ chỉ còn hiện hữu 
phổ biến trong câu chuyện của thế hệ ông bà, bố mẹ... Điều này khiến kho tàng 
văn hóa, văn nghệ của người Mường đang bị mai một dần và có nguy cơ mất 
hẳn. Để khắc phục điểm hạn chế là tiếng Mường không có chữ viết, người 
Mường đã tiếp thu kinh nghiệm, tri thức, văn hóa... qua cầu nối đời truyền đời 
bằng truyền miệng, bằng trí nhớ, bằng ký ức, tình cảm, bằng thực hành diễn
xướng... Để gìn giữ bảo vệ bản sắc văn hóa của mình từ bấy đến nay. 
 * Thuận lợi 6 
 Nhà trường có 2/3 đồng chí trong BGH là người dân tộc Mường 
 Ban Giám hiệu quan tâm, chỉ đạo sát sao, xác định rõ ý nghĩa của việc dạy 
trẻ nói tiếng dân tộc Mường để gìn giữ văn hóa của địa phương. 
 Nhà trường nhiệt tình tham gia các lễ hội do người địa phương tổ chức 
trong các dịp lễ tết, trên địa bàn có đình làng Quýt, làng Bài được công nhận là 
di sản văn hóa cấp Quốc gia nên đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, phụ 
huynh, trẻ thường xuyên được tham gia các hoạt động văn hóa tổ chức tại hai 
ngôi đình này. 
 Trường có 14/34 giáo viên là người dân tộc Mường, hiểu và nói được 
tiếng Mường. 
 Hơn 50% số phụ huynh có con gửi tại trường mầm non nơi tôi đang công 
tác là người dân tộc Mường, hiểu và nói tiếng Mường thành thạo. 
 * Khó khăn 
 Chưa có chương trình và chỉ đạo cụ thể của ngành giáo dục về dạy tiếng 
dân tộc trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. 
 Một số giáo viên không phải người bản địa, nên khi tiếp xúc với phụ 
huynh không giao tiếp được bằng tiếng Mường do chưa hiểu và không nói được. 
 Một số phụ huynh trẻ tuổi ít tiếp cận và không biết tiếng dân tộc Mường 
do không có nhu cầu sử dụng và chưa hiểu rõ ý nghĩa của việc gìn giữ ngôn ngữ 
nói, vì vậy trẻ (con em của những phụ huynh này) chưa được tiếp xúc, nghe, 
hiểu, nói được tiếng dân tộc Mường. 
 Tiếng dân tộc Mường không có ngôn ngữ viết nên chỉ đựơc lưu giữ và 
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng ngôn ngữ nói. 
 Ảnh hưởng của thời đại công nghệ, trẻ chỉ quan tâm và hứng thú thậm trí 
nhiều bạn còn say mê các thiết bị thông minh như ti vi, điện thoại, máy tính 
bảng và một số trang mạng chứ ít hứng thú với các giá trị văn hóa truyền thống 
mang tính bản sắc như ngôn ngữ của người dân tộc Mường. 
 Trẻ nói giao tiếp bằng tiếng Việt, nhiều gia đình có điều kiện đã cho con 
em học thêm ngoại ngữ là tiếng Anh theo chương trình của giáo dục mầm non 
nên không tập nói tiếng Mường. 
 BẢNG KHẢO SÁT CỦA PHỤ HUYNH KHỐI 5 TUỔI 
 Phụ huynh 
 Mức độ (77) 
 Số lượng % 
 Không biết, không hiểu tiếng dân tộc Mường 9/77 11,7 
 Biết, hiểu cơ bản tiếng dân tộc Mường 15/77 19,5 
 Nói được một số từ đơn giản 13/77 16,9 
 Nói thông thạo tiếng Mường 40/77 51,9 7 
 BẢNG KHẢO SÁT MỨC ĐỘ BIẾT, HIỂU, NÓI ĐƯỢC TIẾNG MƯỜNG 
 CỦA GIÁO VIÊN TOÀN TRƯỜNG 
 Giáo viên 
 Mức độ (34) 
 Số lượng % 
 Không hiểu, không nói được 12/34 35,3 
 Hiểu cơ bản, không nói được 05/34 14,7 
 Hiểu, nói được cơ bản 03/34 8,8 
 Nói thông thạo tiếng Mường 14/34 41,2 
 BẢNG KHẢO SÁT KỸ NĂNG NGHE TIẾNG MƯỜNG CỦA 
 TRẺ KHỐI 5 TUỔI 
 Trẻ 
 Mức độ (77) 
 Số lượng % 
 Không nghe được (nghe không hiểu) 30/77 39,0 
 Nghe được một số từ đơn giản 21/77 27,2 
 Nghe và hiểu được cơ bản 18/77 23,4 
 Nghe và hiểu tốt 8/77 10,4 
 BẢNG KHẢO SÁT KỸ NĂNG NÓI TIẾNG MƯỜNG CỦA 
 CỦA TRẺ KHỐI 5 TUỔI 
 Trẻ 
 (77) 
 Mức độ 
 Số lượng % 
 Không nói được tiếng Mường 44/77 57,14 
 Nói được một số từ đơn giản nhưng không hiểu 19/77 24,68 
 Nói và cơ bản hiểu được các từ phổ biến trong 
 12/77 15,58 
 tiếng Mường 
 Nói thông thạo tiếng Mường 2/77 2,60 
 Nhìn vào bảng số liệu khảo sát trên cho thấy, sự hiểu biết của trẻ của giáo 
viên và của phụ huynh về ngôn ngữ của người Mường còn ở mức độ biết nhưng 
chưa sâu, nhiều cháu hoàn toàn không biết, giáo viên không biết và phụ huynh 
trẻ tuổi nhiều người cũng chưa biết. Hoặc có người biết nhưng không nói được, 
việc phát ra ngôn ngữ của dân tộc Mường nhiều khi còn e ngại. Đặc biệt là số 
phụ huynh hoặc giáo viên có thể nói thông thạo tiếng Mường còn ít chưa đạt 
50% mặc dù nhiều người trong số ấy là người dân tộc Mường phụ huynh có 
40/77 người và 14/34 cô giáo. Với trẻ thì việc khảo sát được tập trung vào hai kỹ 8 
năng là nghe và nói. Với các tiêu trí đưa ra khảo sát ở 2 kỹ năng này cho thấy 
việc trẻ nghe và hiểu tốt được tiếng Mường chỉ đạt 8/77 trẻ bằng 10,4%. Hay kỹ 
năng trẻ nói thông thạo tiếng Mường chỉ có 2/77 tre bằng 2,7% trong khi kỹ 
năng không nghe được, không nói được lại ở mức 39% và 57,1% dù nhiều cháu 
trong số đó là người dân tộc Mường. Điều đó có phần lớn trách nhiệm từ gia 
đình, xã hội và nhiệm vụ của giáo dục. Đứng trước thực tế đó đòi hỏi các nhà 
trường cần thiết phải có những giải pháp thiết thực để dạy trẻ nói tiếng dân tộc 
nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho trẻ ngay tại trường học của mình, nó 
như một chương trình song ngữ giúp các con vừa tham gia học tập bằng tiếng 
Việt được tốt vừa biết tiếng của đồng bào mình nhằm gìn giữ nét văn 
hóa mang đậm bản sắc của người Mường. 
 2. Các biện pháp chỉ đạo dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường giữ gìn bản 
sắc văn hóa địa phương. 
 Tình trạng bản sắc, đặc biệt là ngôn ngữ nói của đồng bào dân tộc thiểu số 
đang phai màu và mai một dần, vấn đề đó đến từ nhiều nguyên nhân. Một trong 
những nguyên nhân quan trọng nhất là vì sự không phù hợp của các bản sắc văn 
hóa truyền thống trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nên việc bảo tồn và 
lưu giữ gặp nhiều khó khăn, khi thế hệ trẻ hiện nay không mấy mặn mà với 
những giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc, bởi thực tế là không biết 
học xong sẽ dùng để làm gì? Bên cạnh đó “Đời sống xã hội có nhiều thay đổi, 
nên dù muốn hay không, tất yếu sẽ có những thành tố văn hóa trở nên lạc hậu và 
mất đi. Đối với những di sản còn hiện hữu, phải có sự rà soát, đánh giá cụ thể, từ 
đó chọn lọc những thành tố phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội để bảo 
tồn và phát huy giá trị cốt lõi”Thực tế, trong chương trình chăm sóc giáo dục 
trẻ của các trường mầm non trên địa bàn có người dân tộc Mường sinh sống, 
chưa đưa việc dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường vào trong kế hoạch giáo dục để 
các thế hệ trẻ thơ có cơ hội gìn giữ ngôn ngữ của người dân tộc Mường. 
 Theo quan điểm cá nhân của tôi, không có ngôn ngữ, không hiểu ngôn 
ngữ thì khó có thể lưu giữ và truyền đạt cho nhau những gì tinh túy nhất, giá trị 
nhất về văn hóa, bản sắc dân tộc. 
 Vì vậy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp và mạnh dạn chỉ đạo đưa 
việc dạy tiếng dân tộc Mường, lồng ghép vào các hoạt động chăm sóc giáo dục 
trẻ trong năm học vừa qua như sau: 
 Biện pháp 1: Tham mưu và xây dựng kế hoạch lồng ghép dạy trẻ nói tiếng 
dân tộc Mường trong các hoạt động trong ngày. 
 Biện pháp 2: Chỉ đạo xây dựng môi tường lớp học, lồng ghép tiếng dân 
tộc Mường vào trong các hoạt động của trẻ. 9 
 Biện pháp 3: Chỉ đạo tổ chức các hoạt động văn hóa mang bản sắc của 
dân tộc Mường. 
 Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh trong công tác dạy tiếng dân tộc 
Mường cho trẻ nhằm bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. 
 2.1. Biện pháp 1: Tham mưu và xây dựng kế hoạch lồng ghép dạy trẻ 
nói tiếng dân tộc Mường trong các hoạt động trong ngày. 
 Một lợi thế rất lớn để tôi áp dụng đề tài này cho trẻ trong trường, đó là 
trường tôi có 2/3 đồng chí trong Ban giám hiệu và 3/9 giáo viên dạy lớp 5 tuổi là 
người dân tộc Mường, nên ngay từ đầu năm học tôi đã mạnh dạn đề xuất và 
tham mưu để lồng ghép dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường vào chương trình chăm 
sóc giáo dục trẻ. 
 Được sự nhất trí của đồng chí Hiệu trưởng, tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ 
đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và lồng ghép dạy trẻ tiếng dân tộc Mường 
vào hoạt động một ngày của trẻ, cụ thể: 
 Khi xây dậy mục tiêu và ngân hàng nội dung, tôi chỉ đạo các lớp đưa mục 
tiêu nâng cao của nhà trường vào kế hoạch để thực hiện. 
 * Lĩnh vực phát triển nhận thức: 
 Khi xây dựng mục tiêu và ngân hàng nội dung trong hoạt động khám phá 
xã hội, tìm hiểu về lễ hội, danh lam, thắng cảnh, tôi chỉ đạo giáo viên đưa mục 
tiêu nâng cao về việc “Tham gia các hoạt động trong lễ hội của địa phương”, 
qua đó chỉ đạo các lớp xây dựng ngân hàng nội dung phù hợp: Không chỉ dừng 
lại ở việc dạy trẻ bằng tranh ảnh, video hay lời nói, mà còn tổ chức cho trẻ được 
tham gia trực tiếp tại các lễ hội ở địa phương. Với việc tham gia các lễ hội này 
trẻ có cơ hội rất tốt để giao lưu, nghe và nói tiếng dân tộc Mường. Không những 
trẻ mà ngay cả giáo viên cũng có rất nhiều cơ hội để trải nghiệm va chạm thực tế 
với ngôn ngữ tiếng nói của đồng bào. Ở nơi đây trong không gian của lễ hội mọi 
người giao tiếp với nhau với tinh thần vui vẻ, cởi mở xóa đi mọi rào cản về dân 
tộc, xua tan những ngại ngùng trong suy nghĩ của cô và trẻ của cô và phụ huynh 
và bà con địa phương. Hoặc trong hoạt động trải nghiệm cô giáo cho các con 
đến thăm đình làng Quýt. Nơi đó có ngôi đình cổ kính rêu phong và cây đa 
nghìn tuổi cổ thụ đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc Gia. Một lần nữa trẻ 
được hiểu thêm về nguồn gốc lịch sử của ngôi đền qua lời kể, hướng dẫn của các 
cụ từ. Từ đó hình thành ở trẻ tình yêu quê hương đất nước, ý thức giữ gìn văn 
hóa truyền thống của địa phương. 
 Hình 1. Trẻ tham gia lễ hội làng Bài 
 Hình 2. Trẻ tham gia lễ hội làng Quýt 10 
 Hình 3. Hoạt động trải nghiệm: Trẻ đến thăm đình làng Quýt và cây đa 
 nghìn tuổi 
 * Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ 
 Trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, tôi chỉ đạo xây dựng mục tiêu nâng 
cao về “Nói và hiểu một số từ đơn giản gần gũi bằng tiếng Mường”. Ví dụ cùng 
một tên bài thơ tôi có thể để giáo viên hỏi trẻ tên bài thơ ấy bằng tiếng Mường là 
gì (VD như bài thơ Làm Anh- tiếng Mường là Là eng). Hay một nhân vật trong 
chuyện mà con yêu thích khi nói tiếng dân tộc là gì (VD như nhân vật mẹ trong 
câu chuyện sự tích cây vú sữa. Tiếng mẹ trong tiếng Mường gọi là Bầm). Hay 
đơn giản là khi trao đổi với cô với bạn ngoài tiếng Việt thì con có thể nói tiếng 
dân tộc Mường là như thế nào. Những từ như con thưa Cô (ún thưa gọa), xin 
phép Cô cho con uống nước (ún xin phép gọa cho ún oóng đác) hay con chào cô 
con về (ún chào gọa ún guề)... Những từ này nếu là tiếng Việt trẻ vẫn nói hàng 
ngày. Nó tự nhiên như việc trẻ ăn cơm, như hơi thở nhưng nói bằng tiếng 
Mường thì trẻ lại không thể, bởi vì con không biết, bởi vì con biết nhưng con 
ngại...Hay với những con vật đồ vật những người thân gần gũi với trẻ. Nếu con 
nói được tiếng dân tộc thì dễ ràng trong quá trình giao tiếp với người thân và với 
bà con xung quanh rất nhiều. 
 Bắt đầu là việc làm quen với việc gọi tên, hỏi và trả lời đây là... kia là... 
đấy là hoặc đang làm gì 
 - Đồ ăn , thức uống, đồ chơi 
 - Những người xung quanh, những người trong gia đình 
 - Những sự việc diễn ra trong nhà trẻ (bạn A khóc, bạn B ngủ) đơn giản 
ngắn gọn thôi nhưng là những thứ gần gũi sẽ có tác dụng rất lớn trong việc dạy 
ngôn ngữ tiếng Mường cho trẻ. 
 Dưới đây là bảng tiếng Kinh và tiếng Mường đơn giản 
 Tiếng Kinh Tiếng Mường Tiếng Kinh Tiếng Mường 
 Tre Pheo Con dao Con tao 
 Xanh Lè Chị gái Cại 
 Lấm Lem Anh trai Tựa 
 Mùa Màng Em gái ún 
 Mũi Mui Cái gối Cại kết 
 Tay Thay Con gà Con ca 
 Ăn Ằn Gà trống Ca troòi 
 Áo Ảo Gà mái Ca mại 
 Cái rổ Cái rô Đôi dép Tôi đép 
 11 
 Tiếng Kinh Tiếng Mường Tiếng Kinh Tiếng Mường 
 Anh Tứa Bắp ngô Buồng khạu 
 Mẹ Bầm Xe máy Xe mạy 
 Bà Mệ Chị dâu Mạng 
 Em Ún Lợn Cụi 
 Chồng Vợ Ôông Bợ Chó Chọ 
 Đi học Ti họoc Bố Bộ 
 Cái rổ Cái rô Cô giáo Cô dạo 
 Cái nhà Cái nha Mời trầu Mời llù 
 Bảng chữ trên chỉ là những chữ đơn giản gần gũi .Nó chỉ là vốn từ rất ít 
trong kho tàng ngôn ngữ của người Mường nhưng tại sao chúng ta, cô giáo, phụ 
huynh và đặc biệt là trẻ lại không thể nói. Vì con không biết, vì con không hiểu, 
vì con chưa nghe và vì con ngại. Chính vì thế trong các lĩnh vực hoạt động của 
trẻ tôi hướng dẫn giáo viên lồng ghép để giúp trẻ tự tin học và nói tôt hơn. 
 * Lĩnh vực phát triển thẩm mỹ 
 Mục tiêu nâng cao “Vận động với dụng cụ âm nhạc của dân tộc Mường, 
cảm thụ âm nhặc bằng giai điệu, âm hưởng các bài hát của người Mường” như 
bài hát Đập Bông (Phụ1ục 1). Sau đó là hát cho các cháu nghe những bài hát ru 
em, ru con của đồng bào dân tộc. 
 Việc trẻ nghe các giai điệu bài hát, cảm nhận sự ru dương trong các làn 
điệu của bài hát của đồng bào mình, sự rộn rã của tiếng cồng chiêng trong các 
nét xuân độc đáo giúp khơi gợi ở trẻ tình yêu quê hương, yêu các giá trị văn hóa 
mang tính bản sắc của của dân tộc mình. Khi cho trẻ tập đánh cồng chiêng, hòa 
cùng giai điệu đơn giản trẻ vô cùng hào hứng vì thế mà các con học rất nhanh. 
Và khi con đang tham gia hoạt động bằng một tâm thế vui vẻ thoải mái thì tự 
khắc ngôn ngữ được lĩnh hội và phát ra cũng dễ ràng và thoải mái. Nhìn những 
ánh mắt trong veo, những nụ cười rạng rỡ của các con khi được tham gia trải 
nghiệm tôi hiểu rằng. Mình đã đang đi đúng hướng bởi một phần bản sắc giá trị 
văn hóa truyền thống đang được tìm về và sống lại trong tư duy và nếp sống của 
đồng bào mà ngay từ thế hệ mầm non các con cũng đang rất hứng thú góp phần 
vào quá trình ấy. 
 Hình 4. Trẻ biểu diễn cồng chiêng cùng Mế nghệ nhân 
 Hình 5: Trẻ biểu diễn múa theo giai điệu của cồng chiêng 
 Như vậy, việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ là dạy giao tiếp, dạy ngôn ngữ âm 
thanh với những nội dung quen thuộc, thân thương, là dạy tiếng nói (ngôn ngữ 
nói với những sắc thái đặc thù) chứ không dạy chữ viết. Việc dạy trẻ ngôn ngữ 
mẹ đẻ nên có chương trình và hướng dẫn cụ thể theo tinh thần tự nhiên có chủ 12 
định. Nếu cô giáo có ý thức và có nghiệp vụ trong việc này, chắc chắn trẻ sẽ 
phát triển được tiếng mẹ đẻ và chuẩn bị một khả năng tư duy tốt. 
 2.2. Biện pháp 2: Chỉ đạo xây dựng môi tường lớp học, lồng ghép tiếng 
dân tộc Mường vào trong các hoạt động của trẻ. 
 Để ngôn ngữ nói tiếng dân tộc Mường đến gần với trẻ hơn, tôi đã cùng giáo 
viên đưa không gian văn hóa truyền thống vào trong các hoạt động và trong môi 
trường lớp học. Đó là một số đồ dùng đặc trưng của người Mường đưa vào trong 
các góc chơi ở các lớp giúp tái hiện lại một cách chân thực và sinh động bản sắc 
văn hóa cũng như cuộc sống thường ngày của người dân tộc Mường, vừa góp phần 
bảo tồn bản sắc văn hóa vừa tạo môi trường để trẻ khám phá, kích thích hứng thú 
cho trẻ. Khi trẻ được hoạt động với đồ dùng đó, trong các giờ chơi giáo viên giới 
thiệu tên đồ dùng đó bằng tiếng Mường để trẻ được nghe và tập nói theo. Nhà sàn 
(nhà gác). Nỏ (pắng nỏ), gùi, cồng chiêng (đắng, cồng chiêng) 
 Hình 6: Mô hình nhà sàn(nhá sán), đồ dùng(đố dúng) dân tộc Mường 
 Chuẩn bị các nguồn nguyên học liệu để trẻ làm ra các sản phẩm, đồ dùng, 
dụng cụ đơn giản có trong cuộc sống hàng ngày của người dân tộc Mường, hay 
làm những món ăn mang đậm bản sắc của người Mường như làm quả còn, làm 
cơm lam, trang trí cồng chiêng.. Việc các con được hoạt động trong các góc 
mang đậm sự hiện diện của bản sắc văn hóa của người Mường cũng là một yếu 
tố vô cùng thuận lợi để các con học, nói và hiểu ngôn ngữ của dân tộc Mường. 
 Hình 7: Tổ chức cho trẻ làm quả còn thông qua HĐTH có ứng dụng Steam, và 
 làm cơm lam. 
 Với hoạt động stems làm quả còn. Giáo viên cho trẻ được quan sát trải 
nghiệm quả còn được mang về từ lễ hội của quê mình sau đó trẻ được chia nhóm 
để tìm nguyên liệu và thiết kế ra quả còn theo những gì con quan sát được. Qúa 
trình thảo luận thiết kế, thực hành làm ra quả còn trẻ đã được chủ động giao tiếp 
với nhau, trao đổi với nhau về ý tưởng, cách làm, giáo viên khéo léo đưa ra 
những câu hỏi gợi mở gần gũi bằng tiếng dân tộc Mường sẽ là một môi trường 
tốt để trẻ biết và nói tiếng dân tộc Mường.Ví dụ như: Con dùng những gì để 
làm ra quả còn (lệ cái chi tể là trái còn), trang trí nó như thế nào (trang trí tha là 
po), trò chơi ném còn con thấy ở đâu (trò giộng ún nghé thấy ở no), con có 
muốn thử chơi không (da ún kháo giôộng thử chăng)? Qua hoạt động đó không 
những giúp trẻ phát triển tư đuy, ngôn ngữ phổ thông mà giáo viên còn giúp trẻ 
phát triển ngôn ngữ của đồng bào nhằm gìn giữ bản sắc riêng của người Mường. 
Vì trẻ được tham gia trực tiếp vào quá trình làm quả còn. Một loại đạo cụ phục 13 
vụ cho trò chơi ném còn của người dân tộc Mường. Không những thế còn giúp 
trẻ hiểu thêm về một nét văn hóa của người Mường. Một điều thu lại nữa là 
chính bản thân các trẻ trong lớp cũng có nhiều cháu là người dân tộc Mường. Ở 
nhà cháu được nghe cha mẹ ông bà nói tiếng Mường, cháu biết và có thể hiểu 
nhưng vì ở lớp không ai nói nên cháu ngại cũng không nói ra. Nếu giáo viên là 
người tạo ra các cơ hội để các trẻ đó nói thì cháu sẽ là những người thầy tốt để 
dạy lại bạn mình trong quá trình giao tiếp với nhau ở các hoạt động. 
 2.3. Biện pháp 3: Chi đạo tổ chức các hoạt động văn hóa mang bản sắc 
của dân tộc Mường. 
 Tổ chức các sự kiện văn hóa và lễ hội truyền thống để tạo cơ hội cho cộng 
đồng tham gia và trải nghiệm bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là dịp để truyền tải 
và truyền lại những giá trị, phong tục và truyền thống cho thế hệ sau. 
 Hiểu rõ được ý nghĩa của việc gìn giữ bản sắc dân tộc, đặc biệt là ngôn 
ngữ nói của người Mường, nhà trường luôn cố gắng xây dựng môi trường học 
tập thân thiện, gần gũi nhất dành cho trẻ. Trong các dịp lễ tết, các ngày hội, tôi 
tham mưu với Ban giám hiệu đưa các nội dung có liên quan đến văn hóa dân tộc 
Mường để vừa mang đến những giá trị văn hóa của dân tộc Mường, vừa tuyên 
truyền tới đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, phụ huynh thấy được giá trị văn 
hóa của dân tộc Mường từ đó có ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 
đó trong cuộc sống hiện đại như hiện nay . 
 Trong dịp tết nguyên đán, tôi xin ý kiến chỉ đạo của đồng chí Hiệu trưởng, 
tổ chức cho trẻ trải nghiệm gói bánh chưng, qua đó kết hợp với phụ huynh đến 
và hướng dẫn các con. Hay hoạt động stem hướng dẫn gói bánh ốc, làm cơm 
lam của cô và trẻ diễn ra tại trường. Trong buổi trải nghiệm đó, trẻ vừa được gói 
bánh, vừa được nghe, được học nói tiếng dân tộc Mường.Bản thân các loại bánh 
này đã là một trong những món ăn xuất phát từ các lễ hội của người Mường. 
 Hình 8: Trẻ gói bánh chưng (pẹng chưng), trẻ tập làm bánh ốc (pẹng ôôc) 
 Hay trong buổi tổ chức hội chợ xuân, nhà trường đã phối hợp với hội cha 
mẹ tổ chức các trò chơi của người Mường như: Ném còn, nhảy sạp, hay múa 
cồng chiêng, hát đối...Qua đó trẻ được nghe người Mường hát bằng tiếng, được 
hướng dẫn chơi ném còn, tập đánh cồng chiêng, trong đó phụ huynh sử dụng 
tiếng Mường để giao tiếp cùng trẻ, dạy trẻ nói những tiếng đơn giản bằng tiếng 
Mường. Mường (tất nhiên nếu để nói rằng trẻ nghe mà biết và nói được tiếng 
Mường là chưa thể) nhưng bằng những lần, những cơ hội như thế chúng tôi dạy 
trẻ theo phương châm “Mưa dầm thấm lâu” mỗi ngày một ít thì chắc chắn sẽ 
mang lại hiệu quả. 
 14 
 Hình 9: Trẻ chơi nhảy sạp, kéo mo cau trong chương trình “Bé vui hội xuân” 
 Cùng với đó nhà trường cũng chú trọng tổ chức nhiều mô hình để trẻ 
được trải nghiệm qua các góc nhà sàn, chợ quê, góc các trò chơi dân gian đặc 
trưng của dân tộc Mường ở không gian sân trường như: Nhảy sạp, múa Mường, 
hát đối, đóng kịch, làm bánh dân tộc, chơi trò chơi dân gian, đi chợ bản 
Mường Tại các mô hình, khi trẻ trải nghiệm đều được giáo viên giới thiệu 
bằng tiếng Mường. Cô dùng các câu hỏi như. “Bạn nào có thể nói cho cô biết cái 
này bằng tiếng Mường không”. Sau mỗi câu hỏi như thế trẻ mạnh dạn trả lời 
được câu hỏi của cô. Việc con được cô và các bạn khích lệ động viên sẽ giúp 
con tự tin hơn cho những lần tiếp theo. Với cách làm này, Tôi và đội ngũ lãnh 
đạo nhà trường cảm nhận được hiệu quả và sức lan tỏa khá mạnh mẽ không chỉ 
riêng đối với trẻ mà còn cả với giáo viên và phụ huynh. 
 Ảnh minh họa: Ảnh các mô hình cho trẻ trải nghiệm chợ quê, thực hành 
các gian chợ 
 Với các hoạt động thể chất mang tính dân gian thiết thực, cùng các mô 
hình nhà sàn dân tộc, khu vực trưng bày đồ dùng, nông cụ dân tộc Mường trở 
thành góc hoạt động trải nghiệm bổ ích, giúp trẻ hiểu thêm về văn hóa, đời sống 
sinh hoạt, đời sống sản xuất. Bên cạnh đó, cách làm này cũng giúp những giáo 
viên, trẻ và phụ huynh không phải là người dân tộc Mường được tìm hiểu, khám 
phá nền văn hóa mang tính bản sắc của dân tộc Mường, bổ xung thêm nhiều 
kiến thức bổ ích, góp phần bảo vệ, giữ gìn, phát huy tinh thần dân tộc cũng như 
cảm nhận, lưu giữ sâu sắc về các nét đẹp đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc 
Mường trong đó có ngôn ngữ của người Mường. 
 Hình 10: Các gian chợ trong lớp và ngoài sân trường cho trẻ hoạt động 
 2.4. Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh trong công tác dạy tiếng dân 
tộc Mường cho trẻ nhằm bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. 
 Giáo dục bao giờ cũng xuất phát từ ước vọng, mong muốn tự nhiên, sâu 
sắc của con người. Các giáo trình giáo dục ở Việt Nam đều trình bày: Giáo dục 
là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh 
nghiệm lịch sử-xã hội của các thế hệ loài người nhằm mục đích đào tạo con
người ngày càng hoàn thiện hơn. Ngôn ngữ là một tài sản quí báu. Với cộng 
đồng các dân tộc thì ngôn ngữ là thành tố quan trọng của văn hoá đồng thời là 
công cụ quan trong để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá. Nhưng với mỗi con 
người, văn hóa có vai trò cực kì quan trọng, nó chính là công cụ của tư duy. Nếu 15 
ngôn ngữ trong một đứa trẻ không phát triển được thì không thể nói đứa trẻ đó 
có khả năng tư duy (tối thiểu là khả năng tiếp nhận và xử lí thông tin). 
 Đối tượng của ngành học mầm non là đứa trẻ mới được học tiếng hoặc bắt 
đầu học tiếng - học theo nghĩa tự nhiên tự phát. Mọi cái ban đầu đều là cái khởi 
đầu nan, không thể không làm nhưng làm thì rất khó. Các cháu thuộc ngành học 
mầm non ở vùng dân tộc có nhu cầu và quyền lợi học tiếng mẹ đẻ - tiếng dân tộc 
ngôn ngữ thứ nhất của các cháu. Đồng thời, các cháu lại phải có nhiệm vụ làm 
quen học tiếng Việt để đảm bảo hoàn thành chương trình theo quy định . Bởi vì 
tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, một ngôn ngữ mà chỉ trong một vài năm nữa 
các cháu sẽ phải nhanh chóng nắm bắt để lấy làm công cụ học tập trong nhà 
trường và trong cuộc sống. Từ thực tế khảo sát phụ huynh cho thấy có đến 
409/77 phụ huynh là người dân tộc Mường và có thể nói thông thạo tiếng 
Mường, hoặc có ông bà là người dân tộc Mường điều đó có thuận lợi rất lớn 
trong việc phối hợp với phụ huynh để dạy trẻ nói tiếng mẹ đẻ của mình. Bới 
trong nếp số của nhiều gia đình người Mường thì khi ở nhà ông bà, bố mẹ sẽ 
giao tiếp bằng tiếng Mường. Tất nhiên nói như vậy không có nghiã là tất cả 
người Mường đều biết nói tiếng Mường bởi xã hội phát triêntr nhiều người con 
dân tộc Mường tiếp cận với cuộc sống hiện đại và sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt 
hay tiếng Anh chứ không biết tiếng mường. Tuy nhiên môi trường sống của các 
thế hẹ gia đình này vẫn là kho tàng văn3 hóa mường thu nhỏ chính vì vậy khi có 
sự trao đổi cần thiết, cần sự phối hợp từ phụ huynh thì đây là một lợi thế vô 
cùng lớn trong việc dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường để bảo tồn và giữ gìn bản 
sắc dân tộc. 
 Chính vì thế khi cô giáo phối hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục 
trẻ đặc biệt là việc lồng ghép dạy trẻ nói tiếng dân tộc mình ở những hoạt động 
sẽ là một giải pháp vô cùng tốt mang lại kết quả cao. Khi chỉ đạo giáo viên phối 
hợp với phụ huynh tôi hướng các cô đến một số hoạt động như: 
 Phối hợp với phụ huynh trong giờ đón trả trẻ: Mục đích giáo viên và trẻ 
được nghe và tập nói tiếng Mường. Việc có cô và mẹ cùng nói sẽ giúp trẻ mạnh 
dạn hơn trong ngôn ngữ. Tránh cho trẻ sự ngại ngùng nói không thoát ra âm 
thanh. Ông bà, bố mẹ biết tiếng dân tộc thì dạy cho con cháu của mình. Người 
lớn tuổi có thể kể những câu chuyện dân gian bằng tiếng dân tộc mình để tạo 
nguồn cảm hứng học tiếng cho các cháu. Các làng văn hoá cần phải có những 
cuộc thi cho trẻ hát, kể chuyện bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình 
 Hình 11: Phụ huynh trao đổi với giáo viên trong giờ đón trả trẻ và ủng hộ các 
 vật dụng của người Mường để trẻ khám phá. 16 
 Phối hợp với phụ huynh cho trẻ nghe và dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường 
ở nhà. Ngày nay trong xã hộ hiện đại với các sản phẩm và thiết bị công nghệ 
đang có ảnh hưởng rất sâu sắc đến cuộc sống của mỗi người dân mỗi gia đình thì 
tiếng mẹ đẻ của đồng bào dân tộc tại xã Yên Bài (nơi tôi công tác) đang không 
được thường xuyên sử dụng, chính vì thế nếu ở nhà ông bà bố mẹ nói và dạy các 
con nói tiếng dân tộc hoặc giao tiếp với nhau bằng tiếng dân tộc sẽ là môi trường 
vô cùng tốt để trẻ được biết và được học tiếng dân tộc của mình. Cách dạy theo 
kiểu nhẹ nhàng, mưa dầm thấm lâu sẽ mang lại hiệu quả vô cùng to lớn và bền 
vững. Nói như vậy không có nghĩa các con sẽ bị sao nhãng tiếng Việt mà cùng 
một lúc các con có thể biết và xử dụng cả hai thứ tiếng song ngữ vừa đáp ứng 
được nhu cầu học tập ở trường vừa giữ gìn được tiếng mẹ đẻ (tiếng Mường) góp 
phần gìn giữ nét văn hóa mang tính bản sắc của người dân tộc thiểu số (dân tộc 
Mường) vừa thực hiện được các nhiệm vụ giáo dục chung của chương trình 
Quốc gia theo quy định. 
 Hình 12: Phụ huynh dạy con học tại nhà và trao đổi với trẻ bằng tiếng dân tộc 
 Mường qua các sinh hoạt thường ngày 
 Ngoài ra tôi chỉ đạo giáo viên phối hợp với phụ huynh ủng hộ các vật 
dụng, đồ dùng của người Mường, phụ huynh tham gia cùng con trong các hoạt 
động trải nghiệm như tiệc butffe, thăm lăng Bác, thăm nông trại giáo dục 
Detrang Farm, chơi cùng con trong các cuộc thi. Với việc phụ huynh chơi cùng 
con trong các hoạt động này cũng là cơ hội để cung cấp những vốn tiếng Mường 
đơn giản trong quá trình dạy các con trở về với giá trị văn hóa truyền thống. Khi 
có sự phối hợp của phụ huynh và cộng đồng thì trạng thái “song ngữ” được duy 
trì tốt trong cộng đồng. Nếu trong giao tiếp ngoài xã hội, bà con sử dụng tiếng 
Việt để giao tiếp để giải quyết công việc thì trong sinh hoạt gia đình thường 
dùng tiếng nói dân tộc Mường. Đó không chỉ là thói quen mà nó còn là cách giữ 
gìn nét văn hóa truyền thồng để ngôn ngữ nói của người Mường được truyền giữ 
mãi từ đời này sang đời khác. 
 Hình 13: Ảnh đi trải nghiệm tại DetrangFarm, thăm lăng Bác Hồ 
 3. Kết quả thực nghiệm: 
 Sau khi thực hiện đề tài này trong năm học 2023 - 2024, tôi nhận thấy 
việc chỉ đạo dạy trẻ nói tiếng dân tộc Mường mang lại hiệu quả về việc giúp đội 
ngũ giáo viên nhân viên trong nhà trường có thể hiểu hoặc giao tiếp với phụ 
huynh và bà con bằng tiếng Mường, góp phần rút ngắn khoảng cách về rào cản 
ngôn ngữ khi trao đổi tuyên truyền với phụ huynh nơi công tác. Đó cũng là cách 17 
để góp phần gìn giữ được bản sắc dân tộc Mường, góp phần gìn giữ giá trị văn 
hóa của dân tộc Việt Nam. 
 * Kết quả khảo sát cuối năm: 
 BẢNG KHẢO SÁT MỨC ĐỘ BIẾT, HIỂU, NÓI ĐƯỢC TIẾNG MƯỜNG 
 CỦA GIÁO VIÊN TOÀN TRƯỜNG 
 Giáo viên (34) 
 Mức độ Đầu năm Cuối năm 
 Số lượng % Số lượng % 
Không hiểu, không nói được 12/34 35,3 03 8,8 
Hiểu cơ bản, không nói được 05/34 14,7 07 20,6 
Hiểu, nói được cơ bản 03/34 8,8 06 17,7 
Nói thông thạo tiếng Mường 14/34 41,2 18 52,9 
 BẢNG KHẢO SÁT KỸ NĂNG NGHE TIẾNG MƯỜNG CỦA 
 TRẺ KHỐI 5 TUỔI 
 Trẻ (77) 
 Mức độ Đầu năm Cuối năm 
 Số lượng % Số lượng % 
Không nghe được (nghe 
 30/77 39,0 15/77 19,5 
không hiểu) 
Nghe được một số từ đơn 
 21/77 27,2 23/77 29,8 
giản 
Nghe và hiểu được cơ bản 18/77 23,4 25/77 32,5 
Nghe và hiểu tốt 8/77 10,4 14/77 18,2 
 BẢNG KHẢO SÁT KỸ NĂNG NÓI TIẾNG MƯỜNG CỦA 
 CỦA TRẺ KHỐI 5 TUỔI 
 Trẻ (77) 
 Đầu năm Cuối năm 
 Mức độ 
 Số lượng % Số lượng % 
 Không nói được tiếng Mường 44/77 57,1 17/77 22,0 
 Nói được một số từ đơn giản 
 19/77 24,7 30/77 39,0 
 nhưng không hiểu 
 Nói và cơ bản hiểu được các từ phổ 
 12/77 15,6 19/77 24,7 
 biến trong tiếng Mường 
 Nói thông thạo tiếng Mường 2/77 2,6 11/77 14,3 
 Qua bảng khảo sát cho thấy. Nếu ở đầu năm rất nhiều cháu không phải 
người dân tộc không nói được tiếng Mường, không hiểu tiếng Mường. Thâm trí 18 
ngay cả những cháu là người dân tộc Mường cũng không hiểu được tiếng 
Mường, không nói được thì nay các cháu đã biết, nếu đầu năm số trẻ có thể nghe 
và nói những câu những từ đơn giản gần gũi trong cuộc sống của trẻ ban đầu có 
21/77 và 19/77 cháu hiểu tiếng Mường thì cuối năm con số đã tăng lên là 23/77 
và 30/77, tỷ lệ trẻ nói và hiểu được co bản tiếng Mường cũng tăng từ 15.6% lên 
24,7%. Đặc biệt số cháu nghe và hiểu tốt tiếng Mường tăng từ 10,4% lên 18,2%. 
Các cháu nói thông thạo tiếng Mường từ đầu năm có 2 cháu thì cuối năm tăng 
lên 11 cháu bằng 14,3% và đặc biệt tỷ lệ trẻ không nghe, không hiểu được tiếng 
Mường từ 30/77 bằng 39% và cuối năm còn 15/77 bằng 19,5% và số trẻ không 
nói được tiếng Mường đã giảm đáng kể đầu năm là 44/77 bằng 57,1% thì cuối 
năm giảm còn 17/77 bằng 22%. Đối với giáo viên thì các cô cũng đã hiểu được 
tiếng Mường rất nhiều, có thể trao đổi với phụ huynh những vấn đề cơ bản về trẻ 
khi ở nhà hay lúc ở trường. Tuy tỷ lệ đạt được chưa ở mức vượt trội vì tiếng 
Mường không có chữ viết và cũng thuộc loại ngôn ngữ khá khó học nhưng 
cũng đã là một tín hiệu đáng mừng đánh dấu sự chuyển tích cực về việc phát 
triển ngôn ngữ tiếng Mường nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc của đồng bào. Giúp 
trẻ có vốn ngôn ngữ quý báu để tích lũy kiến thức cho bản thân góp phần tích 
cực vào quá trình lĩnh hội tri thức để các con lớn lên thành những con người có 
ích cho xã hội sau này. 
 4. Hiệu quả của sáng kiến 
 4.1. Hiệu quả về khoa học 
 Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lí luận rõ ràng các giải pháp đưa ra phù 
hợp và mang lại hiệu quả cao trong công tác giáo dục trẻ. 
 Đề tài mang lại hiệu quả cho ngành giáo dục Ba Vì nói chung và cho đội 
ngũ giáo viên trường tôi nói riêng về việc sử dụng các biện pháp để tích hợp dạy 
trẻ là nhgười dân tộc Mường học và nói tiếng Mường nhằm góp phần vào quá 
trình gìn giữ và bảo tồn tiếng Mường trong quá trình giữ gìn bản sắc dân tộc. 
 Với cá nhân tôi là một cán bộ quản lý người Kinh đến làm việc tại địa bàn 
có đông bà con và phụ huynh là người dân tộc Mường sinh sống. Qua thời gian 
chỉ đạo các giải pháp với cương vị là một người phụ trách công tác chuyên môn 
của nhà trường, tôi luôn đồng hành và sát cánh cùng giáo viên nên chính bản 
thân tôi cũng nhận được những hiệu quả rõ rệt. Với 22 năm trong nghề đến nay, 
tôi có 6 năm công tác tại trường. Từ việc tôi hoàn toàn không biết, không hiểu, 
không nói được tiếng Mường thì nay tôi đã hiểu được những tiếng, những từ cơ 
bản trong giao tiếp với đồng nghiệp hay với phụ huynh vfa lãnh đạo địa phương 
là người Mường. Việc hiểu và có thể nói cơ bản được tiếng của bà con cũng 
giúp ích rất lớn cho tôi trong quá trình quản lý và điều hành công việc ở trường 

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_day_tre_5_6_tuoi_noi_tieng_dan.pdf