SKKN Một số giải pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh THCS thông qua công tác chủ nhiệm lớp (THCS Tản Lĩnh- Ba Vì- Hà Nội - Năm học 2023-2024)
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến.
Xây dựng trường học hạnh phúc, mỗi trường học đều hướng tới mục tiêu: xây dựng môi trường giáo dục đem đến niềm vui, hạnh phúc cho cả giáo viên và học sinh, thầy cô thân thiện, học sinh tích cực. Trường học hạnh phúc là nơi không có bạo lực học đường, không có hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo, không có những hành xử xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể nhà giáo và học sinh. Trường học hạnh phúc là nơi thầy cô và học sinh vui sống trong sẻ chia, cảm thông và yêu thương nhau. Đồng thời, nơi đó cũng là mái nhà chung mà mỗi ngày giáo viên và học sinh đến trường là một niềm hạnh phúc. Để kiến tạo được trường học hạnh phúc thì mỗi đơn vị lớp học trong nhà trường cũng cần xây dựng lớp học hạnh phúc. Nhưng thực tế thì sao? Hàng loạt câu chuyện không vui xuất hiện trong học đường vừa qua: tỉ lệ stress học đường tăng nhanh chóng, bạo lực học đường đáng báo động, mối quan hệ thầy trò căng thẳng,...tất cả những điều đó được phản ánh thường xuyên qua các kênh truyền thông, là một điều nhức nhối trong xã hội nói chung và nền giáo dục nói riêng.
Vậy làm thế nào để mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày vui, giáo viên đến trường mỗi ngày là một niềm hạnh phúc, quan hệ thầy trò là động lực để học sinh vươn tới tri thức? Để làm được điều này, bản thân mỗi thầy cô giáo là một tấm gương, là người luôn đi tiên phong trong việc đổi mới. Ở một ngôi trường miền núi như trường THCS Tản Lĩnh, học sinh con em dân tộc nhiều, các em chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn hơn so với những học sinh ở vùng khác. Nhiều em hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ các em phải đi làm ăn xa, để lại các em cho ông bà hoặc chị em tự nuôi nhau. Hoặc có em bố mẹ bỏ nhau, sống nhờ nhà trẻ Tản Viên. Các em đang tuổi mới lớn có những biểu hiện tâm lí thay đổi, thích khám phá và bày tỏ bản thân... Hơn nữa là tác động của sự bùng nổ công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội ảnh hưởng đến tâm lý tuổi học trò khiến nhiều em có những suy nghĩ, hành động sai lệch. Các em chán nản, không có chỗ để bấu víu nương tựa, không có ai quan tâm dẫn đến ăn chơi lêu lổng, sa vào các tệ nạn xã hội, thay đổi tính cách… Nếu không có sự quan tâm, sẻ chia của thầy cô và mọi người xung quanh sẽ khiến các em trượt dài mãi trên con đường hư hỏng và sẽ mất phương hướng, mất niềm tin vào cuộc sống. Bởi thế, sứ mệnh quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm không chỉ áp đặt những nguyên tắc, những qui định bắt buộc mà còn phải tạo cơ hội cho các em nói lên suy nghĩ, những mong muốn, khát khao của mình. Đây cũng là yếu tố giúp các em tự làm chủ bản thân, tự chịu trách nhiệm về hành vi, việc làm, thái độ của bản thân. Là giáo viên chủ nhiệm nhiều năm, tôi luôn trăn trở cần tạo ra một môi trường hạnh phúc để các em được yêu thương che chở, có niềm tin vào cuộc sống, có động lực học tập, mơ ước đến ngày mai. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh THCS thông qua công tác chủ nhiệm lớp” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn:
- Bản thân có điều kiện tự nhìn nhận, đánh giá lại phương pháp giáo dục của mình, khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm, nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm ở những năm học tiếp theo.
- Thông qua đề tài, tôi có cơ hội để trao đổi về phương pháp chủ nhiệm cùng với đồng nghiệp. Trên cơ sở đó, tôi có thể mở rộng và vận dụng tùy từng hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, của từng lớp chủ nhiệm để đạt kết quả tốt hơn trong việc giáo dục học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và uy tín của nhà trường.
- Học sinh của lớp chủ nhiệm được giáo dục bằng tình yêu thương và sự tôn trọng. Từ đó, tôi đưa ra biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc giúp học sinh lớp chủ nhiệm được phát triển toàn diện về năng lực, phẩm chất, đạo đức… giúp các em hào hứng, tích cực học tập trong mỗi giờ học.
- Đề tài cũng nhằm giúp cho mục tiêu xây dựng trường học hạnh phúc thành công, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về lớp học hạnh phúc. - Nghiên cứu các giải pháp xây dựng lớp học hạnh phúc. - Nghiên cứu vai trò và tầm quan trọng của lớp học hạnh phúc trong việc phát triển toàn diện học sinh. 4. Thời gian, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Thời gian: - Năm học 2022-2023 và áp dụng thực hiện trong năm nọc 2023-2024. 4.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng tâm lý học sinh và giáo viên khi đến trường của trường THCS Tản Lĩnh- Ba Vì- Hà Nội. - Các giải pháp nhằm xây dựng lớp học hạnh phúc.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh THCS thông qua công tác chủ nhiệm lớp (THCS Tản Lĩnh- Ba Vì- Hà Nội - Năm học 2023-2024)
1 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. Xây dựng trường học hạnh phúc, mỗi trường học đều hướng tới mục tiêu: xây dựng môi trường giáo dục đem đến niềm vui, hạnh phúc cho cả giáo viên và học sinh, thầy cô thân thiện, học sinh tích cực. Trường học hạnh phúc là nơi không có bạo lực học đường, không có hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo, không có những hành xử xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể nhà giáo và học sinh. Trường học hạnh phúc là nơi thầy cô và học sinh vui sống trong sẻ chia, cảm thông và yêu thương nhau. Đồng thời, nơi đó cũng là mái nhà chung mà mỗi ngày giáo viên và học sinh đến trường là một niềm hạnh phúc. Để kiến tạo được trường học hạnh phúc thì mỗi đơn vị lớp học trong nhà trường cũng cần xây dựng lớp học hạnh phúc. Nhưng thực tế thì sao? Hàng loạt câu chuyện không vui xuất hiện trong học đường vừa qua: tỉ lệ stress học đường tăng nhanh chóng, bạo lực học đường đáng báo động, mối quan hệ thầy trò căng thẳng,...tất cả những điều đó được phản ánh thường xuyên qua các kênh truyền thông, là một điều nhức nhối trong xã hội nói chung và nền giáo dục nói riêng. Vậy làm thế nào để mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày vui, giáo viên đến trường mỗi ngày là một niềm hạnh phúc, quan hệ thầy trò là động lực để học sinh vươn tới tri thức? Để làm được điều này, bản thân mỗi thầy cô giáo là một tấm gương, là người luôn đi tiên phong trong việc đổi mới. Ở một ngôi trường miền núi như trường THCS Tản Lĩnh, học sinh con em dân tộc nhiều, các em chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn hơn so với những học sinh ở vùng khác. Nhiều em hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ các em phải đi làm ăn xa, để lại các em cho ông bà hoặc chị em tự nuôi nhau. Hoặc có em bố mẹ bỏ nhau, sống nhờ nhà trẻ Tản Viên. Các em đang tuổi mới lớn có những biểu hiện tâm lí thay đổi, thích khám phá và bày tỏ bản thân... Hơn nữa là tác động của sự bùng nổ công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội ảnh hưởng đến tâm lý tuổi học trò khiến nhiều em có những suy nghĩ, hành động sai lệch. Các em chán nản, không có chỗ để bấu víu nương tựa, không có ai quan tâm dẫn đến ăn chơi lêu lổng, sa vào các tệ nạn xã hội, thay đổi tính cách Nếu không có sự quan tâm, sẻ chia của thầy cô và mọi người xung quanh sẽ khiến các em trượt dài mãi trên con đường hư hỏng và sẽ mất phương hướng, mất niềm tin vào cuộc sống. Bởi thế, sứ mệnh quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm không chỉ áp đặt những nguyên tắc, những qui định bắt buộc mà còn phải tạo cơ hội cho các em nói lên suy nghĩ, những mong muốn, khát khao của mình. Đây cũng là yếu tố giúp các em tự làm chủ bản thân, tự chịu trách nhiệm về hành vi, việc làm, thái độ của bản thân. Là giáo viên chủ nhiệm nhiều năm, tôi luôn trăn trở cần tạo ra một môi trường hạnh phúc để các em được yêu thương che chở, có niềm tin vào cuộc sống, có động lực học tập, mơ ước đến ngày mai. Xuất phát từ những lý do trên, 2 tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh THCS thông qua công tác chủ nhiệm lớp” để nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn: - Bản thân có điều kiện tự nhìn nhận, đánh giá lại phương pháp giáo dục của mình, khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm, nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm ở những năm học tiếp theo. - Thông qua đề tài, tôi có cơ hội để trao đổi về phương pháp chủ nhiệm cùng với đồng nghiệp. Trên cơ sở đó, tôi có thể mở rộng và vận dụng tùy từng hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, của từng lớp chủ nhiệm để đạt kết quả tốt hơn trong việc giáo dục học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và uy tín của nhà trường. - Học sinh của lớp chủ nhiệm được giáo dục bằng tình yêu thương và sự tôn trọng. Từ đó, tôi đưa ra biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc giúp học sinh lớp chủ nhiệm được phát triển toàn diện về năng lực, phẩm chất, đạo đức giúp các em hào hứng, tích cực học tập trong mỗi giờ học. - Đề tài cũng nhằm giúp cho mục tiêu xây dựng trường học hạnh phúc thành công, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về lớp học hạnh phúc. - Nghiên cứu các giải pháp xây dựng lớp học hạnh phúc. - Nghiên cứu vai trò và tầm quan trọng của lớp học hạnh phúc trong việc phát triển toàn diện học sinh. 4. Thời gian, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Thời gian: - Năm học 2022-2023 và áp dụng thực hiện trong năm nọc 2023-2024. 4.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng tâm lý học sinh và giáo viên khi đến trường của trường THCS Tản Lĩnh- Ba Vì- Hà Nội. - Các giải pháp nhằm xây dựng lớp học hạnh phúc. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Thực trạng về xây dựng lớp học hạnh phúc ở trường THCS Tản Lĩnh 1.1. Đối với nhà trƣờng Thực tế về việc xây dựng lớp học hạnh phúc đã và đang được nhà trường đánh giá và nhìn nhận như một vấn đề thiết yếu và cần thiết bên cạnh việc giáo dục văn hóa cho học sinh. Qua việc khảo sát thực tiễn về việc xây dựng lớp học hạnh phúc ở trường THCS Tản Lĩnh, tôi nhận thấy: 3 - Thứ nhất, về mặt nhận thức: 100% giáo viên tại trường đã có nhận thức về vai trò, ý nghĩa của lớp học hạnh phúc trong việc phát triển toàn diện học sinh trung học phổ thông. - Thứ hai, về quá trình thực hiện: Hiện tại, nhà trường đã triển khai và xây dựng trường học hạnh phúc, lớp học hạnh phúc với nhiều hoạt động thiết thực như xây dựng cơ sở vật chất, quan tâm đến đời sống giáo viên và học sinh. Tổ chức các hoạt động tham quan, vui chơi giải trí... Có thể nói, về thực tế, việc xây dựng trường học hạnh phúc, lớp học hạnh phúc tại trường THCS Tản Lĩnh đã có những bước đầu đạt được những khả quan và ưu điểm nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tại trường vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần khắc phục: - Thứ nhất, việc xây dựng lớp học hạnh phúc vẫn chưa được thực hiện đồng bộ, nhà trường vẫn còn nặng về kiến thức văn hóa, việc tổ chức các hoạt động cho các em vui chơi giải trí mang tính thời vụ, chưa thường xuyên, chưa đa dạng và chưa tạo ra được sự mới mẻ. - Thứ hai, kinh phí dành cho những hoạt động nhằm xây dựng lớp học hạnh phúc còn hạn chế. Chính những nhược điểm này đã ảnh hưởng nhiều tới hiệu quả của việc xây dựng lớp học hạnh phúc, trường học hạnh phúc của trường. 1.2. Đối với giáo viên Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng, các giáo viên đã nhận định được tầm quan trọng của việc xây dựng lớp học hạnh phúc và vai trò của của người giáo viên chủ nhiệm khi tạo ra môi trường hạnh phúc. Thầy cô đã triển khai những hoạt động vui chơi giải trí, tọa đàm, nhưng chưa thường xuyên, bài bản, đơn điệu. Các giờ sinh hoạt lớp thường cứng nhắc, dập khuôn với việc chỉ ra những lỗi học sinh mắc phải khiến học sinh cảm thấy mệt mỏi. Giáo viên chưa chú trọng đến việc tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của học sinh. Trong các giờ học, một số thầy cô chưa có sự đổi mới phương pháp nên không tạo được hứng thú cho học sinh khiến học sinh không thích học, không cảm thấy hạnh phúc mỗi khi đến trường. Có thể thấy việc triển khai lớp học hạnh phúc còn nhiều hạn chế, chưa có giải pháp hữu hiệu để tạo cho học sinh một môi trường hạnh phúc thực sự mỗi khi đến trường. 1.3. Đối với học sinh Năm học 2023- 2024, tôi được phân công chủ nhiệm và dạy lớp 6A3. Khi nhận lớp, tôi nhận thấy lớp có rất nhiều đối tượng khác nhau. Phần đa các em là học sinh ngoan ngoãn hiền lành, có ý thức học tập và rèn luyện. Nhưng bên cạnh đó có một số học sinh cá tính, chưa có tinh thần tập thể; một số học sinh có hoàn cảnh rất khó khăn; nhiều học sinh kỹ năng sống còn hạn chế, thụ động, rụt rè. Đó 4 chính là những thử thách và khó khăn khiến tôi rất trăn trở làm sao để tạo nên được một lớp học hạnh phúc để các em “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Tôi đã tiến hành khảo sát tâm lý học sinh ngay sau khi nhận lớp với câu hỏi: “Cảm xúc của em khi được đến trường như thế nào?” Số học sinh được khảo sát là 45 em. Kết quả khảo sát được tổng hợp như sau: Cảm xúc khi đƣợc đến trƣờng Số lƣợng Tỷ lệ % Chưa bao giờ hạnh phúc 15/45 33.3 % Hiếm khi hạnh phúc 17/45 37.8 % Thỉnh thoảng hạnh phúc 8/45 17.8 % Thường xuyên hạnh phúc 5/45 11.1 % Qua khảo sát, tôi thấy nhiều học sinh chưa cảm thấy có niềm vui và hạnh phúc mỗi khi đến trường. Chính bởi vậy, tôi đã bắt tay vào tìm hiểu và rút ra được những nguyên nhân sau: Thứ nhất: Do đặc điểm của một ngôi trường miền núi, nhiều em có hoàn cảnh khó khăn, các em ít có có điều kiện được vui chơi, giao lưu học hỏi và tiếp xúc nhiều với các hoạt động xã hội khiến cho các em ngày càng nhút nhát, sợ sệt, thiếu tự tin, ngại giao tiếp, không dám thể hiện bản thân. Thứ hai: Một số học sinh trong lớp chưa có sự đoàn kết, chia bè phái. Thứ ba: Một số học sinh bị khiếm khuyết bản thân, thường bị học sinh trong lớp trêu chọc, “tẩy chay”. Thứ tư: Do không cảm thấy hứng thú trong một số môn học. Thứ năm: Do áp lực thi cử, sự kỳ vọng của phụ huynh, giáo viên, nhà trường khiến học sinh mệt mỏi. Thứ sáu: Do những tác động xấu của mặt trái nền kinh tế thị trường, sự bùng nổ công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội đến tâm lý tuổi học trò khiến nhiều em có những suy nghĩ và hành động sai lệch, chệch hướng. Thậm chí là bị lôi kéo vào những tệ nạn rồi cảm thấy chán nản, không muốn đến trường. 2. Giải pháp thực hiện Từ việc tìm hiểu thực trạng và những nguyên nhân trên, tôi đã thực hiện một số giải pháp như sau: 2.1. Giải pháp 1: Nắm bắt chính xác và cụ thể từng đối tƣợng học sinh của lớp chủ nhiệm Khi được Ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp 6A3- lớp học sinh đầu cấp, các em bắt đầu làm quen với bạn mới, thầy cô mới, môi trường mớinên còn rất nhiều bỡ ngỡ, ý thức học chưa tập trung vì còn rất nhiều thứ phải khám phá, tổ chức kỉ luật chưa cao, nề nếp chưa đi vào ổn định Vậy nên việc trước tiên phải làm đó là tìm hiểu hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lý, những ưu điểm, hạn chế của từng học sinh. Tôi đã thực hiện như sau: 5 Ngay buổi họp phụ huynh đầu năm (trước khi vào năm học), tôi đã tìm hiểu thông tin về học sinh cũng như hoàn ảnh cụ thể của gia đình học sinh bằng cách cho phụ huynh điền vào một tờ phiếu những thông tin cần thiết. Trao đổi với những phụ huynh làm trong chi hội từ lớp dưới để nắm bắt đặc điểm tình hình của lớp và của học sinh. Sau đó, tôi tổng hợp, ghi chép lại những học sinh có hoàn cảnh và cá tính đặc biệt để theo dõi và giúp đỡ học sinh. Đối với những học sinh đặc biệt, tôi trực tiếp đến thăm gia đình, kiểm tra việc học tập của học sinh và trao đổi kết hợp với phụ huynh để giúp cho các con có được điều kiện học tập tốt hơn, cảm thấy vui vẻ và thoải mái khi đến trường. Giáo viên đến thăm và kiểm tra việc học tập của học sinh Điểm mới: Với biện pháp này, giáo viên chủ nhiệm thay vì việc nắm bắt tình hình học sinh qua hồ sơ thì cách làm này sẽ nắm bắt được thông tin một cách nhanh nhất và đầy đủ nhất. Việc làm này sẽ tạo được niềm tin và sự yên tâm của phụ huynh. Sự chu đáo của giáo viên chủ nhiệm khiến phụ huynh sẽ có trách nhiệm hơn trong việc kết hợp với thầy cô để giáo dục học sinh. Các em học sinh cũng cảm nhận được sự quan tâm của giáo viên, từ đó các em sẽ cảm thấy vui hơn và có sự cố gắng hơn. 6 PHIẾU LẤY THÔNG TIN HỌC SINH 2.2. Giải pháp 2: Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, thân thiện. Để tạo dựng một lớp học hạnh phúc thì cần phải xây dựng tập thể lớp đoàn kết, thân thiện, phải tạo cho học sinh cảm thấy lớp học chính là nhà và cô giáo là “người mẹ thứ hai” của mình. Muốn vậy, giáo viên chủ nhiệm phải gần gũi các em, phải có tấm lòng yêu thương chia sẻ cùng các em. Đồng thời, giáo viên chủ nhiệm là chỗ dựa vững chắc để học sinh trao đổi tâm sự cùng hướng những niềm vui và cùng tháo gỡ những vướng mắc trong học tập và sinh hoạt, tạo niềm tin cho các em có ý chí vươn lên và coi tập thể lớp là tổ ấm thứ hai của mình. Đầu năm học, khi mới nhận lớp, tôi nhận thấy tinh thần đoàn kết của các con chưa tốt, nhiều học sinh chưa ngoan, còn chia bè phái, chưa biết cảm thông, yêu thương các bạn không may có khiếm khuyết về ngoại hình. Vì vậy tôi đã thực hiện như sau: 2.2.1. Tư vấn tâm lý cho học sinh Để nắm bắt thêm tình hình của lớp, tôi thực hiện kết hợp với Ban cán sự lớp, các giáo viên bộ môn và thông tin từ phía phụ huynh. Sau khi nắm bắt được 7 tình hình, tôi biết được trong lớp có một nhóm học sinh đã tạo nhóm riêng, “tẩy chay” và thường nói xấu học sinh N trong lớp. Phụ huynh đã trực tiếp trao đổi con rất buồn, không muốn đi học, muốn xin chuyển lớp. Các thầy cô bộ môn cũng báo cáo học sinh N thường xin nghỉ tiết vì đau bụng. Tôi đã trực tiếp họp ban cán sự lớp và lên kế hoạch gặp gỡ và tư vấn tâm lý cho từng nhóm đối tượng học sinh này. Cách thực hiện: - Tư vấn trực tiếp cho học sinh vào cuối buổi học. - Khi thực hiện tư vấn, tôi luôn lắng nghe, tạo sự thân thiện bằng ánh mắt, cử chỉ, hành động, và những câu hỏi để tạo mối quan hệ với học sinh. Giúp học sinh thoải mái, gợi mở trong quá trình nói chuyện. - Quan sát biểu cảm của học sinh, thái độ, ánh mắt khi nói chuyện. - Gợi mở cho học sinh để học sinh bày tỏ suy nghĩ và lí do vì sao lại có những hành vi như vậy. - Nêu ra các câu hỏi gợi mở dể học sinh trình bày lí do và tìm cách giải quyết. - Dùng lời nói để khuyên giải, thay đổi cách suy nghĩ về ý thức và những việc làm chưa đúng của bản thân. - Lắng nghe học sinh, im lặng để phân tích vấn đề và phản hồi cho học sinh. Có những cử chỉ, hành vi thân thiện, nhẹ nhàng giúp học sinh nhận ra sai lầm. Trong quá trình phân tích, tôi đưa ra một vài ưu điểm của học sinh để khích lệ làm động lực cho học sinh thay đổi. Kết quả: Sau một vài lần tư vấn, nhóm học sinh đã có sự thay đổi, không còn tách nhóm. Trong giờ ra chơi hay các giờ hoạt động trải nghiệm, học sinh tích cực tham gia các hoạt động cùng nhau. Những lúc có bài tập khó đều biết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Giáo viên tƣ vấn tâm lý học sinh 8 2.2.2. Giáo dục tình yêu thương, sẻ chia lồng ghép trong các tiết học trên lớp: Trong lớp chủ nhiệm của tôi có một học sinh bị khiếm khuyết về ngoại hình và thường bị các bạn trong lớp trêu chọc khiến học sinh rất buồn và tức giận. Nhận thấy học sinh trong lớp chưa có sự đoàn kết, chưa biết yêu thương, chia sẻ và đồng cảm với các bạn kém may mắn hơn mình, ngoài những lời nhắc nhở, phân tích, khuyên bảo hàng ngày, tôi còn lồng ghép giáo dục học sinh trong các tiết học môn Ngữ văn để giáo dục học sinh về sự đồng cảm, sẻ chia, giúp các con nhận ra những hành động chưa đúng của mình. Ví dụ: Khi học bài thơ “Gấu con chân vòng kiềng”, từ nội dung bài học về chú gấu con chân vòng kiềng bị bạn bè chê bai, chế giễu khiến gấu con rất buồn bã, thất vọng, tôi đã liên hệ và giáo dục cho học sinh cần phải biết đồng cảm và yêu thương những người không may thiệt thòi hơn mình. Sau tiết học thứ nhất, tôi cho học sinh xây dựng một kịch bản và cho học sinh diễn tiểu phẩm vào đầu tiết học sau. Trong đó có cả nhưng học sinh trong nhóm chưa ngoan cùng tham gia. Sau tiểu phẩm sẽ cho học sinh nêu cảm nghĩ và chia sẻ về câu chuyện để từ đó học sinh hiểu và biết yêu thương nhau hơn. - Kết quả: Từ sự giáo dục qua các tiết học, học sinh đã dần thay đổi, không còn có sự trêu trọc, chế giễu bạn; biết yêu thương, đồng cảm. Học sinh bị khiếm khuyết đã cảm thấy rất vui và tâm sự với cô rằng các bạn rất tốt, giúp đỡ con rất nhiều trong học tập. Học sinh học sinh diễn tiểu phẩm Học sinh vui chơi thân thiện cùng “Gấu con chân vòng kiềng” nhau trong giờ ra chơi 2.2.3. Tăng cường các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh tạo sự gắn kết, yêu thương. Tổ chức lớp phải gắn liền với các hoạt động phong trào của tập thể, phong trào của nhà trường. Vì vậy, giáo viên cần thông qua các hoạt động tập thể để xây dựng cho lớp học tinh thần đoàn kết, hòa đồng. Sự quan tâm, chia sẻ giữa các thành viên của tập thể lớp được hình thành và phát triển trong những hoạt động chung như thế. 9 Nếu đến trường chỉ để nhồi nhét kiến thức như một cái máy, các em sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi và chán chường. Các em muốn được vui chơi, muốn được hoạt động, muốn được khẳng định bản thân. Và hơn hết, qua các hoạt động tập thể, tinh thần đồng đội sẽ được đẩy lên, sự gắn kết của tập thể cũng sẽ được nhân lên gấp bội. Sự đoàn kết thống nhất giữa các thành viên qua các hoạt động tập thể có ý nghĩa cực kì to lớn đối với việc xây dựng tập thể. Cách thức tổ chức: Thứ nhất: Chủ động nắm bắt kế hoạch đầu năm của Nhà trường và Đoàn thanh niên. Thứ 2: Lên kế hoạch hoạt động cho tập thể lớp. Thứ 3: Xây dựng các hoạt động phù hợp và đa dạng hóa các hình thức tổ chức: có thể kết hợp trong giờ học, giờ Sinh hoạt lớp hay giờ Hoạt động trải nghiệm; khích lệ học sinh thực hiện nhiệm vụ ngoài các giờ học chính khoá. Thứ 4: Cùng tham gia hoạt động với các em để gần gũi và thấu hiểu. Tôi luôn động viên, khuyến khích các em tham gia đầy đủ các hoạt động bề nổi của trường, các hoạt động ngoại khóa do các Đoàn thanh niên, Công Đoàntổ chức, sát cánh với các em trong các phong trào văn hóa, văn nghệ, TDTT nhân ngày 20/11, 26/3 Trong tất cả các hoạt động, tôi luôn đồng hành và cùng tham gia với các con. - Kết quả: Các em được trải nghiệm, được vui chơi, được hợp tác và chia sẻ, từ đó sẽ hiểu, yêu thương nhau, sống có trách nhiệm, xây dựng một tập thể lớp đoàn kết, hạnh phúc. Điểm mới: Thay vì tập trung chạy theo thành tích, đốc thúc học sinh học tập, tôi kết hợp việc học với việc tham gia các hoạt động trải nghiệm để tạo hứng thú và giảm bớt căng thẳng, các tiết học văn hóa hay tiết Sinh hoạt lớp cũng trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả. Điều này tạo cho các em nhiều cơ hội rèn luyện kĩ năng mềm, có thời gian vui chơi cùng bạn bè và mở rộng kiến thức xã hội. Qua đây, các em sẽ cảm thấy vui vẻ hơn khi đến trường, giảm căng thẳng áp lực sau những thời gian học tập mệt mỏi. Cô giáo và học sinh cùng chơi trò chơi dân gian 10 Học sinh vui tết trung thu Học sinh trải nghiệm Học sinh làm thiệp tặng mẹ khéo tay ngày 8/3 nhân ngày 20/10 Tham trò chơi dân gian 26/3 Tham gia hội diễn văn nghệ 20/11 đạt giải Ba đạt giải Nhì 11 Học sinh đi trải nghiệm tại Bát Tràng và Hoàng Thành Thăng Long 2.2.4. Tổ chức các hoạt động từ thiện: Bên cạnh các hoạt động phong trào, tôi còn tổ chức các hoạt động từ thiện, hướng các con biết yêu thương, sẻ chia, giúp bạn nghèo cảm thấy ấm lòng mỗi khi đến lớp. Trong lớp chủ nhiệm của tôi có một học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Gia đình em thuộc hộ nghèo, bố do đi làm xảy ra mâu thuẫn không may dẫn đến án mạng và bị bắt giam, mẹ đi làm thuê, em ở với ông bà nội đã già. Em sống rất khép kín, thường tỏ ra không vui, rất ít khi tham gia vào các hoạt động tập thể. Tôi đã đến thăm gia đình em và chia sẻ với học sinh trong lớp cùng giúp đỡ bạn. Cách thực hiện: - Tuyên truyền tới học sinh trong lớp và các bậc phụ huynh trong buổi họp phụ huynh của lớp. - Kết hợp với ban Chi hội lớp. - Tổ chức tạo quỹ chia sẻ yêu thương vào ngày thứ 7 cuối tuần hàng tháng. - Kết quả: Phụ huynh đã rất ủng hộ và mong muốn cô giáo tổ chức thường xuyên để giúp các con biết yêu thương và sẻ chia. Đặc biệt, học sinh trong lớp đều rất hào hứng. Các em đã dành dụm, tiết kiệm phần quà ăn sáng và rất háo hức chờ đến ngày để được ủng hộ. Số tiền ủng hộ lớp dành mua quà tặng bạn, giúp bạn trong học tập hàng ngày. Từ việc giúp đỡ các bạn trong lớp, học sinh đã lan tỏa yêu thương và giúp đỡ cả những hoàn cảnh khó khăn trong xã với số tiền là: 2.445.000. Niềm vui lớn nhất của tôi đó là các con đã rất biết yêu thương, đồng cảm và sẻ chia lẫn nhau. Học sinh sẻ chia yêu thƣơng 12 Tặng quà các bạn có hoàn cảnh khó khăn 2.3. Giải pháp 3: Học sinh chia sẻ điều muốn nói qua những bức thƣ. Những bức thư sẽ là nơi sẻ chia, thấu hiểu, yêu thương. Tôi tổ chức hoạt động này cho học sinh với mục đích giúp các em được nói ra tâm tư nguyện vọng của mình, được chia sẻ, được góp ý với thầy cô, bạn bè, được thể hiện những mong muốn về sự thay đổi của cha mẹ... Cách nói chuyện trực tiếp đôi khi các em rất khó mở lời vì thế viết một bức thư bày tỏ điều muốn nói sẽ làm các em bớt ngại ngùng mà nói ra điều muốn nói. Cách thức tiến hành: Cho học sinh bày tỏ những điều muốn nói vào một bức thư hoặc một tấm thiệp. Trong bức thư có thể trang trí, vẽ nhưng không viết tên. Bức thư sẽ được dán kín và gửi cho cô giáo chủ nhiệm. Kết quả: Mỗi học sinh đã viết một bức thư và bày tỏ rất nhiều những điều muốn nói với những nội dung khác nhau. Ví dụ: - Em thấy buồn vì cha mẹ chưa quan tâm đến con, thường so sánh con mình với con nhà người ta - Em cảm thấy rất áp lực về việc học tập, bố mẹ bắt đi học thêm quá nhiều dẫn đến mệt mỏi, không muốn đi học. - Em tự nhận thấy mình chưa ngoan khiến bố mẹ buồn lòng và cảm thấy ân hận. - Em cảm thấy không vui, không muốn đến lớp vì các bạn trong lớp còn thiếu đoàn kết, nói xấu lẫn nhau. 13 - Em cô giáo môn A, môn B giảng hay nhưng nói hơi nhanh và cho chúng em quá nhiều bài tập về nhà khiến em thấy sợ học. Trong số những bức thư nhận được, các em bày tỏ rất nhiều điều nhưng có hai bức thư khiến tôi phải suy nghĩ và trăn trở rất nhiều. Cụ thể nội dụng bức thư: Nhờ những bức thư đó, tôi đã biết được rất nhiều những tâm sự thầm kín của các em, Xử lý nhẹ nhàng được rất nhiều vấn đề của lớp. Một số giáo viên dạy cũng đã thay đổi được phần nào cách cư xử, phương pháp dạy để phù hợp hơn với các em. Nên không khí lớp ngày càng vui vẻ và đầm ấm hơn. Các em hào hứng hơn với các tiết học. Bạn bè cũng gần gũi, yêu thương nhau và đoàn kết hơn Với phụ huynh, trong buổi họp phụ huynh cuối kì I, tôi đã chia sẻ những bức thư mà học trò bày tỏ điều muốn nói với bố mẹ mình. Mặc dù trong những bức thư không ghi tên con nhưng nhìn nét chữ và cảm xúc của con bày tỏ phụ huynh đều nhận ra đó là con mình. Đã có những giọt nước mắt, có những nụ cười, có những ngỡ ngàngNhưng trên tất cả vẫn là rất rất nhiều hạnh phúc. Tôi đã nhận được rất nhiều lời cảm ơn của phụ huynh, vì nhờ có lá thư này mà họ có thể hiểu được con họ đang nghĩ gì, hiểu được tình yêu thương của con dành cho họ 14 Qua các bức thư, bố mẹ và con cái đã hiểu nhau nhiều hơn. Phụ huynh có những thay đổi, quan tâm tới các con và có cách ứng xử phù hợp hơn. Tình cảm giữa bố mẹ và con cái ngày càng gần gũi, yêu thương hơn. Tinh thần trách nhiệm và sự yêu thương của cô giáo khiến phụ huynh cũng nhận thấy trách nhiệm của mình và từ đó thường xuyên trao đổi với cô giáo để nắm bắt tình hình của con. 2.4. Giải pháp 4. Giáo viên chủ nhiệm tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh. Trong trường học, việc thực hiện các nguyên tắc không phải chỉ là nghĩa vụ và trách nhiệm của học sinh mà trước hết chính thầy cô giáo phải gương mẫu thực hiện. Với bản thân tôi, nguyên tắc vàng trong ứng xử với học sinh là “Tôn trọng và đối xử công bằng”. Đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh nhằm mục đích xây dựng lớp học hạnh phúc, giúp các em được học tập trong một môi trường công bằng, dân chủ. Từ đó, các em luôn tôn trọng giáo viên, có ý thức trước những việc mình làm và phát triển bản thân một cách toàn diện. Để hạn chế vi phạm của học trò, ngoài việc tuân thủ nguyên tắc trong giáo dục của mình, tôi luôn tôn trọng, đối xử công bằng đối với học sinh. Với những học sinh phạm lỗi, tôi đã áp dụng cách xử lí vi phạm theo 5 bước cũng là cách để các em suy nghĩ và tự giác thay đổi: Bước 1: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai phạm của học sinh trước khi đưa ra hình thức xử phạt. Luôn có sự bao dung, độ lượng khi nhìn nhận những sai phạm của các em. Bước 2: Để học trò đánh giá hành động của mình bằng cách: - Trình bày lại sự việc - Phân tích tình huống, nhận xét thái độ của bản thân và người khác lúc đó (tại sao lại có thái độ như thế); - Nêu ra cách xử lí tình huống theo hướng khác? Bước 3: Phân tích đúng/sai; phù hợp/không phù hợp để học sinh hiểu Bước 4: Để học sinh tự nhận khung hình phạt Bước 5: Áp dụng linh hoạt hình thức xử phạt đã được tập thể quy định. Điểm mới: Đây là cách làm việc khách quan, dân chủ, tôn trọng, không phải khi học sinh mắc sai phạm lỗi hoàn toàn thuộc về các em. Khi học sinh mắc lỗi, giáo viên cần lắng nghe, tìm hiểu xem các em cần gì, nguyên nhân nào dẫn đến sự việc học sinh mắc lỗi. Học sinh muốn nhận được sự cảm thông chia sẻ và bao dung của thầy cô nên tuyệt đối không dùng bạo lực (lời nói, hành động thô bạo) làm tổn thương các em. Từ đó, các em sẽ tự nhận ra lỗi lầm của mình sẽ sửa chữa và hoàn thiện bản thân. 15 2.5. Giải pháp 5: Theo dõi sát sao và đánh giá khách quan học sinh lớp chủ nhiệm. Đánh giá học sinh là một khâu rất quan trọng trong quá trình giáo dục, vì đó là kết quả của một quá trình phấn đấu rèn luyện của học sinh. Nếu đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh chính xác, công bằng, khách quan thì có tác dụng động viên sự phấn đấu vươn lên của các em và thúc đẩy phong trào học tập. Để trường học thân thiện, hạnh phúc, xứng đáng là ngôi nhà, gia đình, tổ ấm thứ hai với mỗi học sinh thì những giá trị yêu thương, quan tâm, sẻ chia cần được thực hành tốt trong mỗi lớp học. Để đánh giá kết quả rèn luyện về mặt hạnh kiểm của học sinh, giáo viên cần làm tốt các khâu: Thứ nhất: Có sự theo dõi chặt chẽ về kết quả các mặt hoạt động của học sinh. Sự theo dõi này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Kết quả theo dõi phải được ghi chép cẩn thận trong sổ chủ nhiệm để làm cơ sở đánh giá. Thứ hai: Đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh phải được thực hiện thường xuyên trong một tuần, một tháng và trong một học kỳ. Sự đánh giá phải thực sự công khai, dân chủ nhằm tạo ra sự thi đua lành mạnh giữa các học sinh trong lớp. Trong đánh giá, tôi thường khen ngợi, biểu dương những học sinh có thành tích tốt để kích thích sự hứng thú phấn đấu. Đối với những học sinh bị khuyết điểm tôi nhắc nhở, phê bình đúng mức để học sinh nhận thấy khuyết điểm của mình và tạo cơ hội cho các em sửa chữa khuyết điểm, không để cho học sinh bị khuyết điểm kéo dài. Và đặc biệt không để các em có cảm giác bị “bỏ rơi”, bị bạn bè “tẩy chay”, xa lánh Thứ ba: Sự đánh giá phải được phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm với các lực lượng giáo dục trong nhà trường như: BGH, Bí thư Đoàn trường, giáo viên bộ môn. Thứ tư: Xây dựng một tiêu chí đánh giá hạnh kiểm của học sinh một cách rõ ràng, cụ thể cho lớp mình phụ trách, căn cứ vào nội quy của trường THCS và dựa vào vào thang điểm đánh giá thi đua của Đội, Đoàn. Điểm mới của biện pháp nằm ở chỗ giáo viên chủ nhiệm thực hiện đánh giá học sinh dựa trên nhiều tiêu chí khách quan, công bằng thay vì dựa trên quan sát chủ quan. Điều này giúp các em công nhận đánh giá một cách thuyết phục, các em sẽ có sự cố gắng phấn đấu hơn trong học tập và luôn cảm thấy công bằng trong lớp học. Từ đó, giúp tạo ra lớp học hạnh phúc, giúp những học sinh yếu nhận ra những khiếm khuyết, hạn chế của bản thân để không ngừng vươn lên hoàn thiện mình. Đồng thời, giáo dục các em phải luôn sống có kỷ luật, kỷ cương, với nếp sống văn minh, tiến bộ. 16 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị: Qua một thời gian áp dụng những phương pháp trên, chúng tôi nhận thấy lớp học đã đạt được những kết quả như sau: 3.1. Đối với học sinh: - Nề nếp lớp học ngày một tốt hơn, quy củ hơn (Cuối năm học lớp chủ nhiệm đã vươn lên dẫn đầu về nề nếp). Học sinh tự giác trong học tập và các hoạt động của Đoàn, nhà trường phát động. - Học sinh tích cực, sôi nổi, hòa đồng và thân thiện. Các em yêu trường, yêu lớp hơn rất nhiều. Học sinh cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc khi đến lớp. Từ đó, học sinh tích cực học tập, hăng hái xây dựng phát biểu bài cũng như tham gia vào các hoạt động tập thể. - Kỹ năng giao tiếp của các em trôi chảy, lưu loát hơn; các em tự tin hơn trong giao tiếp, học tập, mạnh dạn trao đổi những khó khăn vướng mắc với giáo viên chủ nhiệm. - Học sinh ý thức được tinh thần trách nhiệm trong các hoạt động, phong trào thi đua của lớp; tinh thần đoàn kết, kĩ năng hợp tác và khả năng làm việc theo nhóm hiệu quả cao hơn. Bảng khảo sát mức độ hạnh phúc của học sinh khi đến trường trước và sau khi áp dụng sáng kiến Trƣớc khi áp dụng Sau khi áp dụng sáng sáng kiến kiến Mức độ Số học sinh Số học sinh Tỉ lệ Tỉ lệ (45) (44) 1 Chưa bao giờ hạnh phúc % 15/45 33.3 % 0 0 2 Hiếm khi hạnh phúc % 17/45 37.8 % 0 0 3 Thỉnh thoảng hạnh phúc % 8/45 17.8 % 5/44 11.4 % 4 Thường xuyên hạnh phúc % 5/45 11.1 % 39/44 88.6 % Kết quả trên cho ta thấy, tỉ lệ học sinh thường xuyên hạnh phúc tăng cao hơn rất nhiều và không còn học sinh chưa bao giờ hạnh phúc hay hiếm khi hạnh phúc, điều đó chứng tỏ rằng giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp học dựa trên tiêu chuẩn hạnh phúc của học sinh đã bước đầu thành công. Học sinh có nhiều cơ hội chia sẻ, bày tỏ cảm xúc, luôn cảm nhận được sự quan tâm, tôn trọng, lắng nghe ý kiến từ thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh. Học sinh nhận ra được lỗi lầm, hạn chế của họ để khắc phục, sửa chữa, phát triển toàn diện bản thân. Học sinh đã tích cực, chủ động hơn trong học tập và rèn luyện bản thân. Học sinh tự tin trước đám đông, không mặc cảm tự ti về những khuyết điểm, hạn chế của bản thân. Học sinh phát huy được những tiềm năng, những mặt tích cực, điểm 17 mạnh của cá nhân. Việc xây dựng lớp học hạnh phúc được lan tỏa tới các lớp học trong nhà trường, góp phần xây dựng nhà trường ngày càng thân thiện, học sinh học tập tích cức hơn. 3.2. Đối với bản thân và đồng nghiệp Các biện pháp này giúp tôi và đồng nghiệp tháo gỡ được những khó khăn trong công tác chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm hiểu sâu sắc giá trị của hạnh phúc từ đó xây dựng tiết dạy hạnh phúc và lớp học hạnh phúc của mình. Khi xây dựng lớp học hạnh phúc thành công đồng nghĩa với việc xây dựng được mối quan hệ thân thiện thầy- trò, trò kính trọng, tin tưởng và yêu quý thầy cô; thầy cô hiểu, thông cảm với khó khăn của trò, yêu thương và hết lòng vì học sinh. Trong công tác chủ nhiệm, tôi giảm được áp lực quản lý lớp vì học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc, yêu nghề và muốn đến lớp, đến trường mỗi ngày. 3.3. Đối với nhà trường: Với việc áp dụng các biện pháp trên, bản thân tôi đã góp phần vào việc xây dựng trường học hạnh phúc, lớp học hạnh phúc tại trường THCS Tản Lĩnh. Trong năm học qua, chất lượng học sinh về cả học lực và ý thức đều được nâng lên. Các phong trào thi đua của nhà trường đã đạt nhiều thành tích xuất sắc. 4. Hiệu quả của sáng kiến 4.1. Hiệu quả về khoa học: - Đề tài phù hợp với đối tượng học sinh, với điều kiện của nhà trường. - Các giải pháp có tính ứng dụng vào thực tế mang tính khả thi. 4.2. Hiệu quả kinh tế: - Giáo viên có thể tự tổ chức các hoạt động, tham khảo các nguồn tư liệu mở có sẵn trên mạng internet, không tốn kém về kinh phí. - Hạn chế bớt việc mời các chuyên gia về tư vấn tâm lý hay mời MC tổ chức các Teambuilding cho học sinh. Bên cạnh đó, giải pháp còn mang lại những hiệu quả lâu dài: - Tháo gỡ được những khó khăn trong công tác chủ nhiệm, giúp bản thân và đồng nghiệp yêu nghề và có nhiều đổi mới, sáng tạo trong công tác chủ nhiệm. - Giúp học sinh giải tỏa được những áp lực, căng thẳng; tạo được lớp học thân thiện, đoàn kết; học sinh có hứng thú, tích cực học tập và cảm thấy hạnh phúc mỗi khi được đến trường. - Học sinh được rèn luyện các kĩ năng sống trở nên tự tin hơn. 4.3. Hiệu quả về mặt xã hội: - Đề tài có có sự lan tỏa tới các giáo viên và học sinh trong nhà trường, mang lại sự tích cực và hứng thú cho học sinh. - Được phụ huynh quan tâm và ủng hộ tích cực trong các hoạt động của lớp. Trong các buổi hoạt động trải nghiệm nhiều học sinh đã cùng tham gia với các con. 18 - Ban giám hiệu tổ chức sinh hoạt chuyên đề xây dựng lớp học hạnh phúc, nhân rộng mô hình đó tới các lớp học trong toàn trường. KẾT QUẢ HAI MẶT GIÁO DỤC HỌC KÌ I NĂM HỌC 2023-2024 LỚP 6A3- 45 HỌC SINH Học lực Xuất sắc 07 Giỏi 26 Khá 12 Đạt 0 Hạnh Tốt 45 Khá 0 Đạt 0 CĐ 0 kiểm Các thành tích khác trong năm học: Giải văn hóa Các hoạt động phong trào - Cuộc thi Vioedu môn Toán cấp - Thi đua nề nếp: Giải Nhì huyện: 01 Nhất, 02 Nhì, 1 Ba; cấp - Văn nghệ 20/11: Giải Nhì Thành phố: 02 giải Vàng, 01 KK. - Tham gia trò chơi 26/3: Giải Ba - Tuyên truyền sách: Giải Nhì - Cờ vua: Giải Nhì huyện 5. Tính khả thi áp dụng vào thực tế công tác tại đơn vị, địa phƣơng. Đề tại mang lại hiệu quả cao và có khả năng áp dụng phù hợp vào thực tế của nhà trường với tất cả các lớp học. Ngoài ra, sáng kiến này còn có thể áp dụng thực hiện chung cho tất cả các nhà trường góp phần xây dựng trường học hạnh phúc và nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện. 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến. - Nghiên cứu và áp dụng thực hiện trong hai năm học: 2022-2023 và 2023-2024. 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến. - Giáo viên tự nghiên cứu đề tài. - Các hoạt động trải nghiệm có sự hỗ trợ của Ban giám hiệu, Hội phụ huynh của nhà trường, giáo viên chủ nhiệm lớp. Học sinh nhờ phụ huynh chuẩn bị các nguyên vật liệu, đồ dùng cho con trong các buổi hoạt động như: khéo tay hay làm, các trò chơi đơn giản. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Mô hình trường học hạnh phúc là một thông điệp, quyết tâm lớn của ngành giáo dục, và để mô hình trường học hạnh phúc không dừng lại ở khẩu hiệu, phong trào nhất thời, cần nâng cao nhận thức của toàn thể đội ngũ thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, phụ huynh và toàn xã hội trong việc kiến tạo môi trường học tập, giáo dục lành mạnh, nhân văn, tiến bộ. Để người học có được niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc mỗi khi đến trường, mỗi thầy cô giáo đặc biệt thầy cô chủ nhiệm lớp phải trao đi những yêu thương bằng những hành động cụ thể; biết quan tâm đến hoàn cảnh của mỗi em; nắm bắt 19 được tâm lí, năng lực, sở trường của người học để có biện pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả nhất. Quá trình xây dựng lớp học hạnh phúc chúng tôi nhận ra rằng việc khó khăn nhất là mỗi giáo viên phải cố gắng thay đổi bản thân mình để đạt được hạnh phúc. Chúng ta đặt mục tiêu cho sự thay đổi trong từng gian đoạn, suy nghĩ và rút kinh nghiệm mỗi ngày. Qua các buổi trao đổi với các đồng nghiệp về công tác chủ nhiệm, chúng tôi đã chia sẻ đến các thầy cô và được sự đồng tình rất lớn. Mô hình lớp học hạnh phúc sẽ nhân rộng ở các lớp khác trong trường. Để xứng đáng với sứ mệnh vẻ vang và cao cả trong sự nghiệp trồng người, xứng đáng với sự tôn vinh và niềm tin yêu của xã hội, bản thân mỗi nhà giáo chúng ta phải luôn có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vị thế của nghề sư phạm, trọng trách cao cả của mình trong xã hội. Tích cực tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống, ứng xử nhân văn để mỗi nhà giáo thực sự là những tấm gương sáng về nhân cách, đạo đức cho học sinh noi theo. Hãy yêu thương học trò bằng tất cả trái tim và tấm lòng nhân ái của mình, hãy lan tỏa cho các con niềm tin và tình yêu vào cuộc sống, vào tương lai bằng chính những ứng xử đầy tính nhân văn của mình. Và tôi rất tâm đắc một câu nói của thiền sư Thích Nhất Hạnh, một câu nói bao hàm tất cả những giá trị và vị ngọt hướng gửi đến những ai làm về giáo dục “Thầy cô hạnh phúc sẽ thay đổi cả thế giới”. Hãy nghe học sinh nói để thấu hiểu những mong ước giản dị, từ đó mang lại những giá trị hạnh phúc cho học sinh từ những điều giản dị, thân thương nhất. 2. Kiến nghị Để công tác chủ nhiệm của giáo viên đạt được thành tích góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, tôi xin có một số đề xuất như sau: - Bộ GD&ĐT, Sở Giáo dục và Đào tạo, cần tổ chức các lớp tập huấn về phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực nhiều hơn để giáo viên có điều kiện tiếp cận, sáng tạo những hình thức phù hợp cho đối tượng học sinh của mình. - Ban giám hiệu nhà trường trang bị thêm các sách tâm lí học đường, sách phương pháp giáo dục tích cực, tổ chức các buổi thảo luận về phương pháp chủ nhiệm để các thầy cô trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm. Tản Lĩnh, ngày 09 tháng 5 năm 2024 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Người viết sáng kiến (ký tên, đóng dấu) Trần Thị Kim Xuyến 20 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. "Xây dựng văn hoá học đường: một cách tiếp cận từ yếu tố kỉ luật tích cực và cảm nhận hạnh phúc." Tạp chí Giáo dục 22.6 (2022)- Nguyễn Hồng Thuận. 2. Rối nhiễu cảm xúc ở học sinh trung học cơ sở: Luận án TS. Tâm lý học: 623104. Diss. 2018.- Nguyễn Thị Ánh Nguyệt. 3. "Sứ mệnh và vai trò của giáo viên chủ nhiệm." (2010) -Mạc Văn Trang.
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_xay_dung_lop_hoc_hanh_phuc_cho_hoc_sin.pdf

