SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái (GV: Phương Văn Hạnh - Trường THCS Đồng Thái - Năm học 2023-2024)

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tên đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái”
2. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến:
Trong thời đại số hóa hiện nay, nhu cầu chuyển đổi số trong giáo dục ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập không chỉ là một xu hướng mà còn là một yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục. Xã hội hiện đại ngày nay đang ngày càng phụ thuộc vào công nghệ thông tin và môi trường số hóa. Giáo dục và đào tạo cũng cần thích nghi và đồng bộ hóa với xu hướng này để chuẩn bị cho học sinh với môi trường làm việc và học tập trong tương lai.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập giúp mở rộng phạm vi học tập, cho phép học sinh tiếp cận đến kiến thức và thông tin từ khắp nơi trên thế giới, không giới hạn bởi không gian và thời gian. Công nghệ thông tin tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách tương tác, sáng tạo và thú vị hơn, từ đó kích thích sự học tập và nâng cao hiệu quả giảng dạy. Sử dụng công nghệ thông tin giúp giáo viên quản lý dữ liệu học tập, theo dõi tiến độ học tập của học sinh và đánh giá hiệu quả của quá trình giảng dạy một cách chính xác và khoa học. Công nghệ thông tin tạo cơ hội cho học sinh và giáo viên thực hiện các dự án nghiên cứu, sáng tạo và chia sẻ kiến thức một cách sáng tạo và hiệu quả.

Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo, Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội, nhận thức được rằng việc Ứng dụng CNTT, chuyển đổi số phục vụ cho đổi mới công tác quản lí và đổi mới phương pháp dạy học là một trong những hướng đi tích cực, hiệu quả và cần thiết. Đây là vấn đề mà bất cứ đơn vị giáo dục, cán bộ quản lí, giáo viên ở trong các nhà trường đều rất quan tâm.
Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả ứng dụng CNTT – CĐS trong công tác dạy học ở trường THCS Đồng Thái, được sự quan tâm chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện Ba Vì, Trường THCS Đồng Thái nơi tôi đang công tác trong nhiều năm qua đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng, triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT - CĐS trong nhà trường và bước đầu thu được một số kết quả nhất định.
Căn cứ vào kế hoạch tổ chức và ứng dụng CNTT - CĐS của Phòng Giáo dục và Đào tạo Ba Vì, căn cứ vào kế hoạch CNTT – CĐS của nhà trường năm học 2023 - 2024, ngay từ đầu năm học tôi đã chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong dạy học và đã chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái” để nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng của việc tổ chức ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần nâng cao công tác quản lý và nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên - chất lượng học tập của học sinh trường THCS Đồng Thái nơi tôi đang công tác.
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái” được thực hiện ở trường THCS Đồng Thái, huyện Ba Vì nơi tôi đang công tác.
Đối tượng nghiên cứu: Công tác ứng dụng công nghệ thông tin – Chuyển đổi số trong dạy học tại Trường THCS Đồng Thái trong bối cảnh hiện nay.
Thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện trong năm học 2022 – 2023 và năm học 2023 – 2024.

pdf 22 trang Bình An 31/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái (GV: Phương Văn Hạnh - Trường THCS Đồng Thái - Năm học 2023-2024)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái (GV: Phương Văn Hạnh - Trường THCS Đồng Thái - Năm học 2023-2024)

SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái (GV: Phương Văn Hạnh - Trường THCS Đồng Thái - Năm học 2023-2024)
 UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ 
 TRƯỜNG THCS ĐỒNG THÁI 
 ----------o0o---------- 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
Tên sáng kiến: 
 “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số 
 trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái” 
 Tên tác giả : Phương Văn Hạnh 
 Đơn vị công tác : Trường THCS Đồng Thái 
 Chức vụ : Tổ phó tổ KHTN – Chủ tịch công đoàn 
 NĂM 2024 
 2 
 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 1. Tên đề tài: 
“Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở 
 trường THCS Đồng Thái” 
 2. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến: 
 Trong thời đại số hóa hiện nay, nhu cầu chuyển đổi số trong giáo dục ngày 
càng trở nên quan trọng và cần thiết. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng 
dạy và học tập không chỉ là một xu hướng mà còn là một yếu tố quyết định đến chất 
lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục. Xã hội hiện đại ngày nay đang ngày càng 
phụ thuộc vào công nghệ thông tin và môi trường số hóa. Giáo dục và đào tạo cũng 
cần thích nghi và đồng bộ hóa với xu hướng này để chuẩn bị cho học sinh với môi 
trường làm việc và học tập trong tương lai. 
 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập giúp mở rộng phạm 
vi học tập, cho phép học sinh tiếp cận đến kiến thức và thông tin từ khắp nơi trên thế 
giới, không giới hạn bởi không gian và thời gian. Công nghệ thông tin tạo điều kiện 
cho học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách tương tác, sáng tạo và thú vị 
hơn, từ đó kích thích sự học tập và nâng cao hiệu quả giảng dạy. Sử dụng công nghệ 
thông tin giúp giáo viên quản lý dữ liệu học tập, theo dõi tiến độ học tập của học 
sinh và đánh giá hiệu quả của quá trình giảng dạy một cách chính xác và khoa học. 
Công nghệ thông tin tạo cơ hội cho học sinh và giáo viên thực hiện các dự án nghiên 
cứu, sáng tạo và chia sẻ kiến thức một cách sáng tạo và hiệu quả. 
 Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo, Sở giáo dục và đào 
tạo Hà Nội, nhận thức được rằng việc Ứng dụng CNTT, chuyển đổi số phục vụ cho 
đổi mới công tác quản lí và đổi mới phương pháp dạy học là một trong những hướng 
đi tích cực, hiệu quả và cần thiết. Đây là vấn đề mà bất cứ đơn vị giáo dục, cán bộ 
quản lí, giáo viên ở trong các nhà trường đều rất quan tâm. 
 Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả ứng dụng CNTT – CĐS 
trong công tác dạy học ở trường THCS Đồng Thái, được sự quan tâm chỉ đạo của 
Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện Ba Vì, Trường THCS Đồng Thái nơi tôi đang 
công tác trong nhiều năm qua đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng, triển khai 
kế hoạch ứng dụng CNTT - CĐS trong nhà trường và bước đầu thu được một số kết 
quả nhất định. 
 Căn cứ vào kế hoạch tổ chức và ứng dụng CNTT - CĐS của Phòng Giáo dục 
và Đào tạo Ba Vì, căn cứ vào kế hoạch CNTT – CĐS của nhà trường năm học 2023 
- 2024, ngay từ đầu năm học tôi đã chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng 
CNTT và chuyển đổi số trong dạy học và đã chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ 
thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng 3 
Thái” để nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng của việc tổ chức ứng dụng CNTT, 
chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần nâng cao công tác quản lý và nâng cao 
chất lượng giảng dạy của giáo viên - chất lượng học tập của học sinh trường THCS 
Đồng Thái nơi tôi đang công tác. 
 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 
 Đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và 
học tập ở trường THCS Đồng Thái” được thực hiện ở trường THCS Đồng Thái, 
huyện Ba Vì nơi tôi đang công tác. 
 Đối tượng nghiên cứu: Công tác ứng dụng công nghệ thông tin – Chuyển đổi số 
trong dạy học tại Trường THCS Đồng Thái trong bối cảnh hiện nay. 
 Thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện trong năm học 2022 – 2023 và năm 
học 2023 – 2024. 
 PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
I. Hiện trạng vấn đề: 
1. Khảo sát thực tế: 
 Giai đoạn từ năm 2021-2025, định hướng đến năm 2030, Trường THCS Đồng 
Thái xác định mục đích thực hiện ứng dụng CNTT và chuyển đổi số đó là: Phát triển 
hạ tầng CNTT và truyền thông thành hạ tầng số thống nhất, ổn định, linh hoạt; phát 
triển ứng dụng, dịch vụ mới theo hướng dùng chung hạ tầng số, nền tảng số đảm bảo 
khả năng sử dụng dữ liệu số và các công cụ phân tích thông minh để kịp thời đưa ra 
các quyết sách chính xác trong hoạt động quản lý nhà nước. Áp dụng hiệu quả các 
giải pháp CNTT tiên tiến, an toàn, phù hợp thực tiễn để tạo sự đột phá, rút ngắn thời 
gian chuyển đổi số. Lấy người học và người dân làm trung tâm quá trình chuyển đổi 
số; lợi ích của người học, người dân làm thước đo chủ yếu đánh giá mức độ thành 
công của chuyển đổi số trong nhà trường. 
 Đây cũng là cơ hội để nhà trường có những đột phá trong công tác quản lý, 
chỉ đạo và ứng dụng công nghệ số vào dạy, học. Đặc biệt từ năm học 2021-2022, 
trường THCS Đồng Thái đã đặt nền móng cho công cuộc chuyển đổi số bước đầu 
đáp ứng mục đích đề ra. Sau một năm thực hiện, nhà trường xác định Chuyển đổi số 
là cơ hội lớn song cũng không ít những thách thức đặt ra cho những năm học tiếp 
theo. 
 Năm học 2022-2023, năm học mà nhà trường xác định tập trung đầu tư, tạo 
điều kiện cho: Chuyển đổi số - Đội ngũ giáo viên - dạy học Ngoại ngữ để toàn ngành 
phát triển và hội nhập. Nhà trường được công nhận Chuyển đổi số trong dạy học và 
trong quản lý mức độ 3. Kho học liệu của nhà trường đạt giải nhất cấp Huyện. 
 Năm học 2023-2024, nhà trường tiếp tục phấn đấu, quyết tâm ứng dụng CNTT 
- Chuyển đổi số trong quản lý, dạy học. Nối tiếp những thành tựu đã đạt được, xác 4 
định chuyển đổi số trong nhà trường sẽ hỗ trợ đổi mới GD&ĐT theo hướng giảm 
thuyết giảng, truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, tăng khả năng 
tự học, tạo cơ hội học tập cho học sinh mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học, góp 
phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời. Sự bùng nổ của nền tảng số đang hình 
thành nên hạ tầng giáo dục số. Theo đó, nhiều mô hình giáo dục thông minh đang 
được phát triển trên nền tảng ứng dụng CNTT; hỗ trợ đắc lực việc cá nhân hóa học 
tập; truy cập kho kiến thức khổng lồ trên môi trường mạng được nhanh chóng, dễ 
dàng; giúp việc tương tác giữa gia đình, nhà trường, giáo viên, học sinh gần như 
thường xuyên và tức thời. 
 Khả năng ứng dụng CNTT của đội ngũ CB, GV, NV nhà trường đã có bước 
tiến nhưng vẫn còn hạn chế. 
 Hiệu quả thực hiện Ghi 
TT Nội dung đánh giá 
 Tốt Khá TB Yếu chú 
 Giáo viên sử dụng máy tính để thực hiện 
 1 11 16 1 0 
 các hoạt động giảng dạy hàng ngày 
 Giáo viên sử dụng các phần mềm giáo dục 
 2 7 19 2 0 
 để tạo bài giảng và tài liệu giảng dạy. 
 Giáo viên sử dụng Internet để tìm kiếm tài 
 3 liệu giảng dạy và nâng cao kiến thức 14 12 2 0 
 chuyên môn 
 Giáo viên sử dụng các công cụ trực tuyến 
 4 như Google Classroom, Microsoft 16 10 2 0 
 Teams... để quản lý lớp học và giao bài tập 
 Giáo viên sử dụng phần mềm học tập trực 
 5 tuyến để tạo bài kiểm tra và theo dõi kết 14 14 0 0 
 quả học tập của học sinh 
 Giáo viên sử dụng phần mềm tương tác để 
 6 tạo ra các hoạt động học tập thú vị và 16 10 2 0 
 tương tác 
 Giáo viên thường xuyên cập nhật kiến thức 
 7 về công nghệ thông tin và ứng dụng vào 16 10 2 0 
 giảng dạy 
 Giáo viên tham gia các khóa đào tạo, hội 
 8 15 11 2 0 
 thảo về ứng dụng CNTT trong giảng dạy 5 
 Giáo viên tham gia xây dựng các dụng học 
 9 10 16 1 1 
 tập trực tuyến (E-learning) trong dạy học 
 Giáo viên sử dụng các ứng dụng mô 
 10 phỏng, phần mềm thí nghiệm ảo. 7 16 5 0 
 Qua bảng khảo sát trên ta thấy: Mức độ thành thạo ứng dụng CNTT của giáo 
viên trong dạy học trong nhà trường đạt mức độ khá. Việc khai thác thông tin trên 
mạng phục vụ cho dạy học bằng giáo án điện tử được hầu hết các đối tượng được 
điều tra đánh giá là tốt. Nhưng trên thực tế, việc dạy học bằng giáo án điện tử lại 
chưa thực sự được thực hiện thường, liên tục. Giáo viên nhà trường còn yếu trong 
việc xây dựng các dụng học tập trực tuyến (E-learning) trong dạy học và việc sử 
dụng các ứng dụng mô phỏng, phần mềm thí nghiệm ảo. 
2. Thực trạng về việc Ứng dụng CNTT - Chuyển đổi số tại trường THCS Đồng 
Thái, Huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội. 
 a. Những thuận lợi. 
 Trong thời đại số hóa ngày nay, việc áp dụng Công nghệ Thông tin (CNTT) 
và chuyển đổi số trong giáo dục đang trở thành xu hướng không thể phủ nhận. 
Trường THCS Đồng Thái, Huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội cũng không nằm ngoài 
xu hướng này. Việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số tại trường mang lại nhiều lợi 
ích và thuận lợi đối với cả giáo viên, học sinh: 
 + Một trong những lợi ích lớn nhất của việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi 
số tại Trường THCS Đồng Thái là mở rộng phạm vi học tập. Sử dụng CNTT giúp 
học sinh tiếp cận kiến thức từ khắp nơi trên thế giới thông qua Internet, bài giảng 
trực tuyến, tài nguyên học tập trực tuyến. Điều này giúp học sinh có cơ hội học hỏi 
một cách rộng lớn, đa dạng và linh hoạt, từ đó nâng cao trình độ học vấn và kiến 
thức chuyên môn. 
 + Bên cạnh đó, việc sử dụng CNTT tại Trường THCS Đồng Thái cũng tăng 
cường tính tương tác và sự thú vị trong quá trình học tập. Giáo viên có thể tạo ra bài 
giảng sinh động, hấp dẫn thông qua các phần mềm học tập tương tác, hoạt động trực 
tuyến. Học sinh có cơ hội tham gia vào các hoạt động học tập sáng tạo, tương tác, từ 
đó kích thích sự học tập và nâng cao hiệu quả giảng dạy 
 + Việc quản lý thông tin học tập và đánh giá kết quả học tập cũng trở nên 
dễ dàng và chính xác hơn thông qua việc sử dụng CNTT. Hệ thống thông tin giúp 
giáo viên quản lý dữ liệu học tập, theo dõi tiến độ học tập của học sinh và đánh giá 
hiệu quả của quá trình giảng dạy một cách khoa học. 6 
 Như vậy, việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số tại Trường THCS Đồng 
Thái không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo ra môi trường học tập 
tích cực, sáng tạo và hiện đại. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu của thời đại số 
hóa ngày nay mà còn đem lại nhiều lợi ích to lớn cho cả giáo viên, học sinh 
 Ngoài ra, việc Ứng dụng CNTT - Chuyển đổi số tại trường THCS Đồng Thái 
có những điều kiện rất thuận lợi: Nhà trường có cơ sở vật chất đảm bảo, đội ngũ có 
trình độ chuyên môn vững vàng, tâm huyết với nghề, có khả năng tiếp cận nhanh 
với khoa học, công nghệ thông tin. Ban giám hiệu nhà trường, quan tâm, tạo điều 
kiện để đội ngũ giáo viên được phát huy khả năng sáng tạo và năng lực của bản thân. 
Mỗi cán bộ, giáo viên trong trường đều trang bị máy tính tại gia đình, được kết nối 
mạng Internet. Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho giáo viên có điều kiện tự học, tự 
rèn luyện về kỹ năng CNTT, cách khai thác tài nguyên số phục vụ cho công tác 
giảng dạy. Đặc biệt, hàng năm vào đầu mỗi năm học, BGH nhà trường luôn quan 
tâm, tổ chức cho toàn bộ giáo viên tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng về CNTT. 
Đến nay 100% giáo viên của nhà trường đã có chứng chỉ tin học, có khả năng ứng 
dụng CNTT và chuyển đổi số trong dạy học. 
 b. Những khó khăn. 
 Mặc dù việc ứng dụng Công nghệ Thông tin (CNTT) và chuyển đổi số trong 
giáo dục mang lại nhiều lợi ích, tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng cũng tồn tại 
nhiều khó khăn và thách thức: 
 + Một trong những khó khăn đáng chú ý khi ứng dụng CNTT và chuyển đổi 
số tại nhà trường là vấn đề cơ sở hạ tầng công nghệ. Đó là việc cung cấp đủ thiết bị 
CNTT cho giáo viên và học sinh, đảm bảo mạng internet ổn định và phần mềm giáo 
dục phù hợp. Điều này đã ảnh hưởng đến quá trình triển khai và sử dụng CNTT 
trong giảng dạy và học tập. 
 + Năng lực và kiến thức về CNTT: Trình độ tin học, kiến thức và hiểu biết 
của đội ngũ về CNTT chủ yếu do cá nhân tự học hỏi, không được đào tạo bài bản, 
nên kỹ năng về CNTT của đa số GV trong trường còn chưa được chuyên sâu, nhiều 
thuật ngữ, cùng các kỹ thuật máy tính phức tạp chưa nắm bắt được. 
 + Học sinh nhà trường chủ yếu là con em nông thôn, đời sống kinh tế gặp 
nhiều khó khăn, số gia đình có máy vi tính rất ít; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục 
vụ cho dạy và học đặc biệt phục vụ cho việc ứng dụng CNTT của nhà trường vẫn 
còn hạn chế; số máy tính của phòng học Tin học chưa nhiều 23 máy (TB 2 HS/1 
máy tính). Các phòng học thông thường đã có đủ thiết bị dạy học như: Tivi, máy 
chiếu, máy tính nhưng đường truyền Internet còn chưa đảm bảo. 7 
 + Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo về CNTT 
chưa chuyên sâu. Một số giáo viên còn yếu trong kỹ năng khai thác nguồn tư liệu 
trên mạng. 
 + Số hóa, xây dựng, cập nhật học liệu số, thẩm định, chia sẻ học liệu số đòi 
hỏi sự đầu tư lớn về nhân lực (gồm cả nhân lực quản lý và nhân lực triển khai) cũng 
như tài chính để đảm bảo khai thác học liệu số đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu học 
tập, nghiên cứu, tham khảo của giáo viên và học sinh. Vì vậy, hiện nay vấn đề khai 
thác học liệu số (như sách điện tử, thư viện điện tử, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, 
bài giảng điện tử, phần mềm học liệu điện tử) còn mang tính tự phát, chưa thành 
hệ thống, khó kiểm soát chất lượng và nội dung học tập. 
II. Các giải pháp thực hiện: 
 1. Các hoạt động ứng dụng CNTT - Chuyển đổi số trong nhà trường. 
 Trong bối cảnh công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển đổi số ngày càng trở 
thành xu hướng không thể phủ nhận trong giáo dục, Trường THCS Đồng Thái không 
ngừng nỗ lực và đầu tư vào việc áp dụng công nghệ để nâng cao chất lượng giáo dục 
và học tập. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của CNTT và chuyển đổi số trong nhà 
trường, đặc biệt trong công tác quản lý cũng như trong công tác giảng dạy góp phần 
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, nâng 
cao chất lượng giáo dục nên được nhà trường triển khai một cách đầy đủ và thiết 
thực nhất. Hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lí và giảng dạy được Ban giám 
hiệu và giáo viên thực hiện thành công và mang lại hiệu quả cao. 
 Việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong công tác quản lí của nhà trường 
là việc ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lí của Ban giám hiệu nhằm nâng cao 
chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lí trong nhà trường. 
 + Sử dụng phần mềm giáo dục: Trường THCS Đồng Thái đã triển khai việc 
sử dụng phần mềm giáo dục để tạo ra bài giảng tương tác, bài kiểm tra trực tuyến, 
và tài nguyên học tập đa dạng. Điều này giúp tăng tính thú vị và hiệu quả trong quá 
trình học tập. 
 + Thực hiện học tập trực tuyến kết hợp trực tiếp: Trường tổ chức các hoạt 
động học tập trực tuyến như lớp học trực tuyến, buổi thảo luận qua mạng, giao bài 
tập trực tuyến. Điều này giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách linh hoạt và thuận 
tiện. 
 + Xây dựng trang web trường học: Nhà trường đã xây dựng trang web trường 
học được gần 10 năm cung cấp thông tin về lịch học, sự kiện, thông báo, và tài liệu 
học tập cho học sinh và phụ huynh. Việc này giúp tạo ra một kênh thông tin chính 
thức và tiện lợi. 8 
 + Tổ chức khóa đào tạo về CNTT cho giáo viên: Trường tổ chức các khóa đào 
tạo, hội thảo về ứng dụng CNTT trong giảng dạy để nâng cao năng lực và kiến thức 
về công nghệ của giáo viên. Điều này giúp giáo viên tự tin hơn trong việc sử dụng 
công nghệ trong công việc giảng dạy. 
 + Thực hiện đánh giá trực tuyến và quản lý học tập: Trường áp dụng hệ thống 
đánh giá trực tuyến và quản lý thông tin học tập để theo dõi tiến độ học tập của học 
sinh, đánh giá kết quả học tập một cách chính xác và đồng bộ. 
 Việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong Trường THCS Đồng Thái đang 
được triển khai một cách tích cực và hiệu quả, đem lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên 
và học sinh. Những hoạt động này không chỉ giúp tạo ra môi trường học tập hiện đại 
và sáng tạo mà còn nâng cao chất lượng giáo dục và học tập tại trường. 
2. Các biện pháp thực hiện: 
 Căn cứ vào đặc điểm và tình hình thực tế; nhà trường đã xây dựng kế hoạch 
thực hiện nhiệm vụ ứng dụng CNTT - CĐS năm học 2023 – 2024. Trong đó xác 
định mục tiêu của ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong đổi mới quản lí, giảng dạy 
và học tập là: Quản lí hệ thống giáo dục thông minh, ứng dụng CNTTT và chuyển 
đổi số nhằm nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho sinh, tạo một môi 
trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa thầy và trò. Để thực hiện mục tiêu 
đó trường THCS Đồng Thái nơi tôi đang công tác đã thực hiện một số giải pháp cụ 
thể sau: 
 2.1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm về tầm quan trọng, lợi ích của việc 
ứng dụng CNTT, chuyển đổi số cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường, xây dựng 
văn hoá số trong ngành giáo dục. 
 Để tăng cường ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong giáo dục đạt hiệu quả 
cần một chiến lược lâu dài, trong đó lấy người học và người dạy làm trung tâm; lấy 
lợi ích của người học, người dạy, người dân nói chung làm thước đo đánh giá. 
 Chuyển đổi số trong trường THCS tập trung vào hai nội dung chủ đạo là 
chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh 
giá học sinh. Trong quản lý giáo dục bao gồm số hóa thông tin quản lý, tạo lập hệ 
thống cơ sở dữ liệu (CSDL) lớn liên thông, triển khai các dịch vụ trực tuyến để quản 
lý, điều hành, hỗ trợ từ xa một cách nhanh chóng, chính xác. Trong dạy học, kiểm 
tra, đánh giá học sinh bao gồm số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng 
điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, thư viện số). 
Để đảm bảo cho việc thực hiện việc chuyển đổi số trong nhà trường diễn ra thuận 
lợi và thành công trước tiên cần phải tuyên truyền, thống nhất, thông suốt về nhận 
thức trong toàn toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên. Xác định chuyển đổi số là xu 
thế tất yếu của ngành, diễn ra với tốc độ rất nhanh, do đó cần có sự chuẩn bị, đầu tư 9 
xứng tầm, tạo sức mạnh cộng hưởng và quyết tâm cao. Cơ chế, chính sách phải được 
hoàn thiện, tạo hành lang thuận lợi cho chuyển đổi số trong nhà trường. Đó là các 
chính sách liên quan đến đầu tư cơ sở vật chất như trang thiết bị máy móc, hạ tầng 
băng thông kết nối; liên quan đến chất lượng việc dạy học trên môi trường mạng như 
an toàn thông tin mạng; liên quan đến chính trị, tư tưởng, đạo đức người dạy, người 
học như bảo vệ thông tin cá nhân, an ninh thông tin trên môi trường mạng; và các 
quy định liên quan đến điều kiện tổ chức dạy - học trên mạng, kiểm định chất lượng, 
công nhận kết quả khi dạy - học trực tuyến. 
 Thời gian qua, Trường THCS Đồng Thái đã thực hiện tốt việc nâng cao nhận 
thức cho giáo viên, cán bộ quản lý của nhà trường để nắm được tầm quan trọng của 
ứng dụng CNTT và chuyển đổi số, xây dựng văn hóa số trong giáo dục; bồi dưỡng, 
nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ trong việc ứng dụng công nghệ cho toàn thể giáo viên, 
cán bộ quản lý nhà trường, hướng đến mục tiêu thực hiện thành công chuyển đổi số 
trong giáo dục; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo có kiến thức, kỹ 
năng công nghệ thông tin, an toàn thông tin cần thiết để tác nghiệp trên môi trường 
số, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. 
 Bằng nhiều hình thức, quán triệt trong chi ủy chi bộ Đảng, Ban giám hiệu, 
Công đoàn, Đoàn thanh niên và các tổ chức khác trong nhà trường. Cung cấp, tuyên 
truyền các văn bản chỉ đạo của Đảng, của Nhà nước, của Bộ GD&ĐT, của UBND 
xã, của Sở, phòng GD&ĐT về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nhà trường. 
Xây dựng các kế hoạch có tính chất chiến lược lâu dài, kết hợp triển khai theo từng 
mảng công việc, giao trách nhiệm cho các tổ chức trong nhà trường thực hiện các 
nhiệm vụ về ứng dụng CNTT. Tạo sự đồng thuận, nhất trí trong Ban giám hiệu và 
các tổ chuyên môn trong nhà trường. 
 - Vào cuối năm học, nhà trường đều tổ chức các hội nghị sơ kết, tổng kết rút 
kinh nghiệm về những công việc về CNTT và chuyển đổi số trong nhà trường. 
 - Tổ chức các cuộc hội thảo, báo cáo kinh nghiệm, tổ chức đi thăm quan, học 
tập, rút kinh nghiệm các đơn vị bạn, đồng thời xen kẽ trong các hội nghị, trong các 
cuộc họp giao ban, họp hội đồng để tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức về 
CNTT cho toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường. 
 Từ đó, tăng cường chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn ứng dụng CNTT trong 
đổi mới phương pháp dạy học. Giao kế hoạch dạy học có ứng dụng CNTT cho các 
tổ, nhóm chuyên môn. Chỉ đạo cho các tổ nhóm chuyên môn thường xuyên báo cáo 
kinh nghiệm về đổi mới phương pháp nhất là những báo cáo có ứng dụng CNTT 
trong giảng dạy, đồng thời phát động phong trào dạy học có ứng dụng CNTT trong 
các kỳ hội giảng, chào mừng ngày 20/11, 26/3, ... hằng năm giao cho các tổ nhóm 
chuyên môn, cá nhân sưu tầm, tuyển chọn các tiết dạy hay có ứng dụng CNTT để 10 
giáo viên tham khảo, học tập. 
 Chỉ đạo, giao cho chi đoàn thanh niên giáo viên là nòng cốt đi đầu trong học 
tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học. Tạo thói 
quen vào mạng, cập nhật thông tin, sưu tầm dữ liệu, phần mềm giáo dục, đẩy mạnh 
việc ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học. Tạo mọi điều kiện cho 
cán bộ, giáo viên đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ 
về lĩnh vực CNTT và chuyển đổi số trong nhà trường. 
 2.2. Bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho cán bộ, giáo 
viên, nhân viên trong nhà trường. 
 Trong thời đại hiện nay, việc bồi dưỡng và nâng cao năng lực về ứng dụng 
CNTT và chuyển đổi số cho cán bộ, giáo viên và nhân viên trong nhà trường là vô 
cùng quan trọng. Bằng cách cung cấp kiến thức, kỹ năng và hỗ trợ cần thiết, tạo ra 
một môi trường học tập và làm việc hiện đại, sáng tạo và tiên tiến. 
 Ban giám hiệu nhà trường luôn là người tiên phong, gương mẫu trong việc tự 
trau dồi vốn kiến thức về tin học về kỹ năng ứng dụng CNTT trong công tác quản lý 
nhà trường đồng thời động viên, khuyến khích đội ngũ GV, NV tích cực tự học để 
trang bị cho mình những kỹ năng cơ bản và chuyên sâu về CNTT. Nhà trường luôn 
chú trọng triển khai hoàn thiện hệ thống CSDL toàn ngành GDĐT kết nối, liên thông, 
chia sẻ dữ liệu từ Trung ương đến địa phương, nhà trường và đồng bộ với các CSDL 
quốc gia, CSDL chuyên ngành khác góp phần hình thành CSDL mở quốc gia; thực 
hiện số hóa triệt để, sử dụng văn bản điện tử, sổ sách học bạ sổ điểm điện tử thay thế 
văn bản, tài liệu giấy; hoạt động chỉ đạo, điều hành, giao dịch, họp, tập huấn được 
thực hiện chủ yếu trên môi trường mạng. 
 Xác định được mục tiêu ấy, ngay từ đầu mỗi năm học, Ban giám hiệu nhà 
trường đã xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng CNTT - CĐS. Từ đó, giao trách 
nhiệm cho từng cá nhân phụ trách từng nhóm công việc; triển khai đồng loạt việc 
ứng dụng CNTT – CĐS trong từng phần việc. 
 Cụ thể: Trong năm học 2023 - 2024, nhà trường đã tổ chức Bồi dưỡng CNTT-
CĐS về sử dụng hệ thống hồ sơ điện tử, tập huấn về sử dụng chữ ký số, tập huấn về 
sử dụng học bạ điện tử. Nhà trường đặc biệt chú trọng triển khai thí điểm sổ điểm 
điện tử, học bạ điện tử (áp dụng chứng thư số); triển khai ứng dụng kết nối, tương 
tác, trao đổi thông tin giữa phụ huynh với cơ sở giáo dục trên nền tảng số, khuyến 
khích áp dụng các giải pháp miễn phí, các ứng dụng trên thiết bị di động và Website 
giáo dục... 11 
 Đặc biệt, các hoạt động của nhà trường, các văn bản chỉ đạo của ngành đều 
được chuyển tới giáo viên qua hộp thư điện tử, qua cổng thông tin của nhà trường 
tại địa chỉ  từ đó tạo thói quen cho giáo viên cập nhật 
thông tin qua hòm thư điện tử và website của nhà trường, biện pháp này giúp cho 
công tác chỉ đạo kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm thời gian và văn phòng phẩm đồng thời 
giúp giáo viên từng bước nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác qua mạng Internet. 
Nhưng tiện lợi hơn cả là nhà trường tiếp tục phối hợp với Công ty Quảng Ích triển 
khai Sổ liên lạc điện tử eNetViet giúp PHHS nắm bắt được các thông tin của con em 
mình một cách đầy đủ, kịp thời. Đây là kênh thông tin rất quan trọng để nhà trường 
truyền tải tới giáo viên và phụ huynh học sinh các công việc cần thiết và nhanh 
chóng. 
 Đưa việc ứng dụng CNTT thành các tiêu chí đánh giá trong các giờ thao giảng; 
khuyến khích giáo viên soạn giáo án điện tử, kho học liệu điện tử. Ngoài ra, để đẩy 
mạnh và nâng cao giáo viên ứng dụng CNTT, trong các giờ thao giảng, các chuyên 
đề ban giám hiệu yêu cầu giáo viên có ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao, giúp học 
sinh phát triển năng lực. Có tổ chức chia sẻ kinh nghiệm về ứng dụng CNTT hiệu 
quả trong tiết dạy đó. 
 Sử dụng các phần mềm ứng dụng vào công tác quản lý: Quản lý tài chính, 
quản lý giáo dục, quản lý CSVC, công tác phổ cập giáo dục THCS, Xếp thời khóa 
biểuQuản lý thông tin cán bộ giáo viên và các hoạt động khác bằng hệ thống các 
thư mục được sắp xếp khoa học trong máy tính. 
 2.3. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng về CNTT 
cho nhà trường. 12 
 Xác định con người là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thành 
công trong việc ứng dụng CNTT vào trong quản lý và giảng dạy. Do đó, nhà trường 
đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học, các kiến thức, kỹ 
năng về CNTT, an toàn thông tin cần thiết để tác nghiệp trên môi trường số, đáp ứng 
yêu cầu chuyển đổi số. 
 * Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên 
 Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính 
tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua nhiều 
hình thức như: triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng dụng CNTT 
trong dạy học; thông qua các buổi họp hội đồng sư phạm, sinh hoạt chuyên môn tổ 
khối, hội thảo chuyên đề 
 Đặc biệt, để triển khai thành công thì trước hết, lãnh đạo nhà trường phải nhận 
thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy-học, 
phải sử dụng thành thạo các thao tác, ứng dụng văn phòng. Từ đó quan tâm, tạo điều 
kiện và quyết tâm triển khai thực hiện. Nếu chỉ phát động mà không quan tâm, không 
thể hiện quyết tâm và thực hiện những biện pháp bổ sung thì việc ứng dụng CNTT 
của giáo viên cũng không thể mang lại kết quả như mong đợi. 
 * Nâng cao trình độ tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT giáo viên và học 
sinh: 
 Một trong những khó khăn cơ bản của việc triển khai ứng dụng CNTT trong 
day học là tâm lý ngại khó, ngại cái mới của giáo viên (đặc biệt là giáo viên đã lớn 
tuổi). Muốn triển khai hiệu quả, muốn được tất cả các giáo viên đón nhận thì ngoài 
công tác tư tưởng còn cần làm thế nào đó cho họ thấy việc ứng dụng CNTT không 
quá khó và họ hoàn toàn có thể thực hiện được. Nhận thức được điều đó, nhà trường 
rất chú trọng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên thông qua nhiều 
hoạt động, như: 
 + Xây dựng đội ngũ cốt cán về CNTT cho nhà trường 
 CNTT trong nhà trường hiện nay là công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lí 
của Ban giám hiệu, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Muốn ứng 
dụng tốt CNTT vào quản lí, nhà trường đã phân công cho một giáo viên có đủ năng 
lực và tâm huyết phụ trách CNTT, giúp BGH thực hiện tốt việc quản lí trên các công 
cụ hiện nay. Với các tổ chuyên môn, mỗi tổ cử một giáo viên chịu trách nhiệm chính 
để được tập huấn và hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ công tác soạn giảng với CNTT, 
trong các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, chuyên đề. Từ đó giúp BGH giải quyết rất 
nhiều công viêc. 
 + Tổ chức tập huấn đại trà cho cán bộ giáo viên, nhân viên đầu mỗi năm 
học: 13 
 Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm hỗ trợ 
soạn giảng. Các lớp tập huấn này được tổ chức theo hình thức trao đổi giúp đỡ lẫn 
nhau, tập trung chủ yếu vào những kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng trong quá trình 
soạn giảng hàng ngày và phải bắt đầu từ những kỹ năng đơn giản nhất như cách tra 
cứu và tìm kiếm thông tin, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử dụng một 
số phương tiện như máy chiếu, máy quay phim, chụp ảnh, các bước soạn một bài 
trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách thiết kế bài kiểm tra, mà báo cáo viên 
chính là đội ngũ cốt cán của trường. Trong năm học 2023 – 2024 nhà trường đã tổ 
chức được các chuyên đề nâng cao kỹ năng về CNTT cho giáo viên, nhân viên 
 Chuyên đề 1: Triển khai Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư cho 
CB, GV, NV nhà trường. 
 Chuyên đề 2: Chuyên đề hướng dẫn giáo viên soạn giảng bài giảng Elearning. 
 Chuyên đề 3: Hướng dẫn giáo viên sử dụng, khai thác kho học liệu dùng chung 
của nhà trường. 
 Chuyên đề 4: Hướng dẫn giáo viên sử dụng chữ ký số, sử dụng học bạ điện 
tử. 
 Trong các chuyên đề này giáo viên phụ trách CNTT của nhà trường trực tiếp 
truyền đạt. Trong đó điều quan trọng là phải có cách động viên giáo viên tích cực tự 
học, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi 
với đồng nghiệp; tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực. 
 Để làm được điều này, ngoài sự nhiệt tình của đội ngũ cốt cán thì BGH phải 
luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi, cùng làm với giáo viên thì 
mới hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì (trong 
các buổi tập huấn về CNTT, tất cả các phó hiệu trưởng của nhà trường đều tham 
gia). 
 2.4. Tăng cường các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật tin học, hiện 
đại hoá trang thiết bị trong nhà trường. 
 Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp cùng, sự đầu tư CSVC của nhà trường, 
đến nay cơ sở vật chất về tin học và công nghệ thông tin của nhà trường đã tương 
đối đầy đủ. Nhà trường có 1 phòng học bộ môn Tin học với 23 máy tính, đảm bảo 
cho học sinh khối 6, 7, 8 học tập theo Chương trình GDPT 20018. Nhà trường cũng 
có hệ thống máy tính, máy in được kết nối Internet tốc độ cao phục vụ cho giáo viên 
dùng soạn giảng, tìm kiếm tài liệu và giảng dạy, công tác quản lí và công tác văn 
phòng. Hiện nay, ngoài việc duy trì và phát huy công năng của phòng tiếng anh với 
nhiều thiết bị hiện đại nhà trường còn có đầy đủ các trang bị cho các phòng học bộ 
môn. Các phòng học của nhà trường đã được trang bị ti vi có kết nối Internet đáp 
ứng theo chương trình GDPT 2018. 14 
 2.5. Thúc đẩy phát triển học liệu số (phục vụ dạy - học, kiểm tra, đánh giá, 
tham khảo, nghiên cứu khoa học). 
 Với nhà trường, chuyển đổi số trong giáo dục không đơn thuần chỉ ở công tác 
quản lý nhà trường, quản lý hồ sơ mà còn được áp dụng để nâng lên một tầm cao 
mới đó chính là chuyển đổi số đối với phương tiện, công cụ, phương pháp dạy học. 
Đáp ứng xu hướng phát triển của xã hội, các trường học đang dần tiến tới xây dựng 
các lớp học thông minh, lớp học không sách, vở, không bút viết, học sinh đến lớp 
với một máy tính bảng hỗ trợ học tập. 
 Trong quá trình công tác, giảng dạy, nhà trường nhận thấy rằng giáo viên, học 
sinh rất vất vả trong việc chuẩn bị phương tiện, đồ dùng dạy học hay việc ứng dụng 
hợp lý các phần mềm để đổi mới phương pháp dạy học. Chính vì vậy, những năm 
gần đây nhà trường luôn tập trung tìm tòi các biện pháp ứng dụng công nghệ thông 
tin để có thể phát huy tối đa thế mạnh cơ sở vật chất của trường, tận dụng nguồn tài 
nguyên vô tận trên mạng internet. Từ đó, tiết kiệm tối đa chi phí, công sức chuẩn bị 
phương tiện, đồ dùng dạy học của giáo viên và học sinh để nâng cao chất lượng 
giảng dạy. 
 Năm học 2023 - 2024, với những yêu cầu, nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển đổi số 
trong giáo dục đồng thời hưởng ứng Ngày hội công nghệ thông tin ngành Giáo dục 
Hà Nội lần thứ VI. Cuộc thi "Xây dựng Bài giảng điện tử, xây dựng kho học liệu 
điện tử" do Phòng Giáo dục và Đào tạo phát động, Trường THCS Đồng Thái tập 
trung nâng cao chất lượng giảng dạy gắn liền với công tác chuyển đổi số, xây dựng 
nguồn tài nguyên dạy học. 
 2.6. Xây dựng kho học liệu điện tử dùng chung trong nhà trường: 
 Năm học 2023 – 2024, bên cạnh đội ngũ giáo viên, máy móc thiết bị thì kho 
học liệu điện tử là không thể thiếu trong quá trình ứng dụng CNTT – Chuyển đổi số 
trong mỗi nhà trường. 
 Thực hiện theo Kế hoạch của PGD Ba Vì, năm học 2023-2024 nhà trường 
tiếp tục bổ sung, xây dựng kho học liệu điện tử, thư viện điện tử rất phong phú. Hiện 
nay kho học liệu của nhà trường rất lớn chứa đựng nhiều tài liệu. Đặc biệt, là các bài 
giảng điện tử, bài giảng Elearning được tích hợp trên Website của nhà trường, giúp 
giáo viên dễ dàng sử dụng và khai thác tư liệu tại địa chỉ 
 Đây là nơi cung cấp tư 
liệu phong phú, đáng tin cậy cho cán bộ, giáo viên, nhân viên không chỉ của nhà 
trường mà còn của các trường trên địa bàn Huyện Ba Vì 
 2.7. Triển khai chương trình GDPT 2018, đưa mô hình giáo dục STEM lồng 
ghép vào các môn học, chú trọng hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học thông 
qua Cuộc thi KHKT, cuộc thi Tin học trẻ quốc tế Thành phố Hà Nội. 15 
 Nhà trường triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn 
Tin học được đưa vào giảng dạy bắt buộc ngay từ lớp 6; mô hình giáo dục STEM 
bước đầu được lồng ghép trong các môn học, gắn việc học của học sinh thông qua 
các hoạt động ứng dụng công nghệ để giải quyết các bài toán và hiện tượng trong 
cuộc sống. Đặc biệt, nhà trường chú trọng việc hướng dẫn học sinh của nhà trường 
nghiên cứu khoa học, vận dụng các kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn của 
cuộc sống, hướng dẫn học sinh tham gia cuộc thi Tin học trẻ quốc tế Thành phố 
Hà Nội góp phần đổi mới hình thức, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học góp 
phần phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. 
 Học sinh nhà trường tham gia cuộc thi Tin học trẻ quốc tế Thành phố Hà Nội 
 Trên đây là một vài kinh nghiệm mà tôi đã tích luỹ được trong quá trình 
nghiên cứu và thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số 
trong trường THCS Đồng Thái”. Với những giải pháp cụ thể trên, bản thân tôi 
nhận thấy khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học, kiểm tra, đánh giá học sinh của 
giáo viên và trong quản lý giáo của Cán bộ quản lí nhà trường được nâng lên rõ rệt. 
Kết quả về học sinh giỏi cấp Huyện, cấp Thành phố của năm học 2023 – 2024, kết 
quả thi Xây dựng bài giảng Elearning, thiết bị dạy học số, xây dựng kho học liệu 
điện tử, thi Tin học trẻ quốc tế Thành phố Hà Nội, kết quả thi GVDG của giáo viên 
nhà trường là một minh chứng khẳng định khả năng ứng dụng CNTT và chuyển đổi 
số trong quản lý và giảng dạy của nhà trường một cách rất hiệu quả. 
3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại nhà trường 
 Sau khi thực hiện đề tài giáo viên trong nhà trường đã có sự chuyển biến về 
nhận thức, từ quy định (mang tính áp đặt) lúc ban đầu sang tâm thế say mê với việc 16 
ứng dụng CNTT trong giảng dạy cũng như các hoạt động khác; kỹ năng soạn giảng 
các tiết có ứng dụng CNTT của giáo viên được nâng lên rõ rệt, chất lượng bài dạy 
được nâng cao; kỹ năng sử dụng mạng internet có tính chiều sâu; các nguồn học liệu 
mở, các trang web được giáo viên khai thác tích cực. Từ đó, không chỉ nâng cao về 
năng lực chuyên môn mà sự nhận thức, hiểu biết về xã hội cũng được cải thiện đáng 
kể. 
 Đội ngũ giáo viên sử dụng thành thạo máy tính để soạn bài; đến nay gần 100% 
giáo viên có thể tự soạn giảng ở mức thành thạo và sử dụng hiệu quả những phần 
mềm soạn giảng cũng như các thiết bị hỗ trợ để phục vụ công tác chuyên môn. Từ 
những khó khăn lúc ban đầu đến này giáo viên đã có thể thực hiện việc soạn giảng 
các bài giảng điện tử, các tiết học có ứng dụng CNTT một cách tự giác và hiệu quả. 
 Giáo viên có kỹ năng tra cứu thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, nâng cao 
kiến thức chuyên môn và lấy tư liệu hỗ trợ soạn giảng; sử dụng các phần mềm hỗ 
trợ làm đề thi, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh giúp công việc được 
tiến hành khoa học và tiết kiệm được nhiều thời gian. 
 Về phía học sinh, các em đều được trang bị các phương pháp học tập với tiết 
học có ứng dụng CNTT và kỹ năng khải thác thông tin phục vụ học tập từ Internet. 
Các em biết cách tìm kiếm và chắt lọc thông tin phục vụ học tập trên internet thông 
qua các buổi học, bồi dưỡng, các cuộc thi KHKT, giáo dục STEM mà Phòng GD Ba 
Vì và Sở giáo dục Hà Nội đang triển khai, góp phần động viên khích lệ các em say 
mê học tập. 
Cụ thể: 
 + Năm học 2022 – 2023: Kho học liệu điện tử đạt giải nhất cấp huyện 
 + Năm học 2023 – 2024: Trong ngày hội công nghệ thông tin ngành Giáo dục 
và Đào tạo Ba Vì lần thứ VI: 
 - Kho học liệu điện tử đạt giải nhất. 
 - Bản thân tôi có 03 sản phẩm dự thi Cuộc thi Thiết kế bài giảng 
Elearning và thiết bị dạy học số đều đạt giải Khuyến khích. 
 - Nhà trường có 1 Bài giảng Elearning đạt giải nhất cấp Huyện và giải 
khuyến khích cấp Thành phố. 
 - Thi kỹ năng dành cho Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên: Nhà 
trường đạt 01 giải nhất, 02 giải nhì cấp huyện và 01 giải nhì cấp Thành phố. 
 - Thi HSG Tin học trẻ Quốc tế thành phố Hà Nội: Có 04 học sinh dự 
thi cấp Huyện và 02 em lọt vào vòng thi cấp Thành phố. 
 Có thể nói, tất cả những thành tích về hoạt động ứng dụng CNTT trong 
giảng dạy và học tập của nhà trường là những sản phẩm sáng tạo tuyệt vời của những 
người hết lòng vì sự nghiệp giáo dục. Nó không chỉ là tình cảm của thầy cô giáo đối 17 
với học sinh mà còn là tấm lòng của những người năng động, sáng tạo đối với sự 
nghiệp trồng người của chúng ta. Tự trong mỗi con người đó mùa xuân luôn khởi 
sắc và đã làm cho ngành giáo dục của chúng ta luôn rạng rỡ sắc xuân. 
 Thông qua các chuyên đề của giáo viên, các giờ thao giảng và đánh giá của 
ban giám hiệu nhà trường kết quả của năm học mà tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng 
công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS 
Đồng Thái” nơi tôi đang công tác đã có sự chuyển biến tích cực. Điều đó được thể 
hiện rõ trong bảng thống kê trong bảng đánh giá dưới đây: 
 Hiệu quả thực hiện Ghi 
TT Nội dung đánh giá 
 Tốt Khá TB Yếu chú 
 Giáo viên sử dụng máy tính để thực hiện 
 1 20 8 0 0 
 các hoạt động giảng dạy hàng ngày 
 Giáo viên sử dụng các phần mềm giáo dục 
 2 19 8 1 0 
 để tạo bài giảng và tài liệu giảng dạy. 
 Giáo viên sử dụng Internet để tìm kiếm tài 
 3 liệu giảng dạy và nâng cao kiến thức 20 8 0 0 
 chuyên môn 
 Giáo viên sử dụng các công cụ trực tuyến 
 như Google Classroom, Microsoft 
 4 18 10 0 0 
 Teams... để quản lý lớp học và giao bài tập 
 cho học sinh. 
 Giáo viên sử dụng phần mềm học tập trực 
 5 tuyến để tạo bài kiểm tra và theo dõi kết 20 8 0 0 
 quả học tập của học sinh 
 Giáo viên sử dụng phần mềm tương tác để 
 6 tạo ra các hoạt động học tập thú vị và 20 8 0 0 
 tương tác. 
 Giáo viên thường xuyên cập nhật kiến thức 
 7 về công nghệ thông tin và ứng dụng vào 28 0 0 0 
 giảng dạy 
 Giáo viên tham gia các khóa đào tạo, hội 
 8 28 0 0 0 
 thảo về ứng dụng CNTT trong giảng dạy 
 Giáo viên tham gia xây dựng các dụng học 
 9 16 10 2 0 
 tập trực tuyến (E-learning) trong dạy học 18 
 Giáo viên sử dụng các ứng dụng mô 
 10 12 16 0 0 
 phỏng, phần mềm thí nghiệm ảo. 
 Qua bảng thống kê trên ta có thể khẳng định được tác dụng tích cực, sự chuyển 
biến mạnh mẽ về khả năng ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong dạy học mà tôi đã 
thực hiện trong đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong giảng 
dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái” dày công nghiên cứu. Kết quả đó một 
phần đã khẳng định sự thành công bước đầu của đề tài “Ứng dụng công nghệ thông 
tin - Chuyển đổi số trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái” mà 
tôi đã thực hiện ở trường THCS Đồng Thái nơi tôi đang công tác. 
4. Hiệu quả của sáng kiến: 
 4.1. Hiệu quả về khoa học: 
 - Sáng kiến giúp tăng cường sự tương góp phần nâng cao chất lượng giảng 
dạy và học tập, từ đó tạo ra một môi trường học tập hiện đại, sáng tạo và phát triển. 
 - Sáng kiến này thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới trong giảng dạy và học tập, 
khuyến khích giáo viên và học sinh áp dụng công nghệ vào việc giảng dạy và học 
tập một cách sáng tạo. 
 Ngoài ra, sáng kiến giúp giáo viên tạo ra các bài giảng đa dạng, sinh động và 
phong phú hơn. Học sinh có cơ hội tiếp cận kiến thức một cách linh hoạt và hiệu 
quả, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. 
 4.2. Hiệu quả về kinh tế: 
 - Đề tài sáng kiến có hiệu quả về kinh tế do chi phí thấp nhưng hiệu quả của 
sáng kiến cao, giúp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. 
 - Việc thực hiện sáng kiến chủ yếu là do cán bộ, giáo viên và học sinh nhà 
trường đầu tư công sức. 
 - Tiết kiệm cho cha mẹ học sinh kinh phí, các em học sinh được bồi dưỡng 
miễn phí, nhà trường không thu bất cứ một khoản nào trong thời gian dài bồi dưỡng 
học sinh giỏi. 
 4.3. Hiệu quả về xã hội: 
 - Việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số giúp tạo ra một môi trường học tập 
đa dạng và bền vững, khuyến khích sự học hỏi và sáng tạo của học sinh. Điều này 
giúp phát triển năng lực toàn diện của học sinh và tạo ra một cộng đồng học tập tích 
cực. 
 - Việc áp dụng CNTT và chuyển đổi số giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng 
số hóa cho học sinh, giáo viên và cả cộng đồng trường học. Điều này giúp tạo ra một 
xã hội thông minh, linh hoạt và sẵn sàng với thách thức của cuộc sống hiện đại 
 5. Tính khả thi của sáng kiến: 19 
 - Việc áp dụng CNTT và chuyển đổi số giúp giảm việc sử dụng tài liệu giáo 
trình in ấn và giảm chi phí vận chuyển tài liệu. Học liệu được lưu trữ trực tuyến giúp 
tiết kiệm chi phí cho trường học. 
 - Nhà trường có thể khai thác tiềm năng của việc cung cấp các khóa học trực 
tuyến, dịch vụ giáo dục trực tuyến và các sản phẩm học tập số hóa. 
 - Việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy giúp nâng cao hiệu suất lao động 
của giáo viên và nhân viên trường học. Hệ thống quản lý trực tuyến giúp tiết kiệm 
thời gian và công sức, từ đó tăng cường hiệu quả kinh tế của trường. 
 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến: 
 Năm học 2022 – 2023; 2023 - 2024 và các năm học tiếp theo. 
 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến: 
 Kinh phí thực hiện đề tài rất thấp. Chủ yếu là sưu tầm tài liệu liên quan để 
nghiên cứu. Việc tổ chức thực hiện bằng chính nhân lực hiện có của nhà trường đó 
là giáo viên và học sinh nên giảm tối đa kinh phí đầu tư khi thực hiện đề tài. Nhà 
trường chỉ dành một phần kinh phí chi thường xuyên để hỗ trợ giáo viên, bồi dưỡng 
học sinh giỏi và khen thưởng, động viên những giáo viên và học sinh đạt thành tích 
cao trong các kì thi. 
III. Kiến nghị, đề xuất: 
1. Kết luận: 
 Với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực không ngừng của tập thể sư 
phạm nhà trường, đến nay trên 100% giáo viên, nhân viên nhà trường có khả năng 
ứng dụng CNTT ở mức thành thạo và sử dụng hiệu quả các phần mềm soạn giảng 
cũng như các thiết bị hỗ trợ để phục vụ công tác chuyên môn. Về phía học sinh, hầu 
hết các em đã được trang bị phương pháp học tập với tiết học có ứng dụng CNTT và 
kỹ năng khải thác thông tin phục vụ học tập từ máy tính và Internet. 
 Với sự quyết tâm cao của tập thể cán bộ, giáo viên nhân viên nhà trường, sự 
chỉ đạo sát sao của BGH nhà trường trong 3 năm học trở lại đây nhà trường có sự 
chuyển biến mạnh mẽ về khả năng ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong dạy học. 
Trường THCS Đồng Thái có sự chuyển biến mạnh mẽ về ứng dụng CNTTT và 
chuyển đổi số góp phần nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, 
tạo một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa thầy và trò. 
 Trên đây là một vài kinh nghiệm mà tôi đã tích luỹ được trong quá trình 
nghiên cứu và thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số 
trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái”. Với những biện pháp 
cụ thể trên, bản thân tôi nhận thấy việc ứng dụng CNTT ở trường THCS Đồng Thái 
nơi tôi đang công tác đã có những bước tiến đáng kể, góp phần nâng cao công tác 
quản lý, chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh. Có 20 
được kết quả đó là do sự cố gắng nỗ lực của tập thể sư phạm nhà trường, sự quyết 
tâm của Ban giám hiệu, sự đoàn kết, sáng tạo, sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các 
thành viên trong nhà trường. Đây cũng chính là những nguyên nhân chính giúp tôi 
thực hiện tốt đề tài và công việc được phân công ở trường THCS Đồng Thái nơi tôi 
đang công tác. 
 Việc thực hiện đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số trong 
giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái” trong năm học 2022 - 2023 và 
năm học 2023 – 2024 thực sự đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Sau khi thực 
hiện, khả năng ứng dụng CNTT của giáo viên đã được nâng cao, đồng thời chất 
lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh trường THCS Đồng Thái đã 
có bước tiến quan trọng. Đề tài này đã giúp những người cán bộ quản lí có những 
giải pháp hữu hiệu hơn trong việc chỉ đạo chuyên môn ở các trường THCS nói chung 
và trường THCS Đồng Thái nói riêng. Đề tài này đã giải quyết được những vấn đề 
về việc chỉ đạo tổ chức ứng dụng CNTT, chuyển đổi số mà những người phụ trách 
CNTT như tôi còn băn khoăn, trăn trở. Đồng thời với đề tài này tôi muốn góp một 
số biện pháp trong việc chỉ đạo chuyên môn để bạn bè, đồng nghiệp cùng chia sẻ. 
2. Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện đề tài: 
 Sau khi thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin - Chuyển đổi số 
trong giảng dạy và học tập ở trường THCS Đồng Thái”, tôi rút ra một số bài học 
kinh nghiệm cho bản thân, cho nhà trường và mong muốn được đồng nghiệp cùng 
tham khảo: 
 + Việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số vào dạy học góp phần đổi mới phương 
pháp dạy học là một công việc rất cần thiết đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật 
chất và năng lực của đội ngũ Cán bộ, giáo viên. Muốn việc chuyển đổi số trong nhà 
trường diễn ra thuận lợi và thành công trước tiên cần phải tuyên truyền, thống nhất, 
thông suốt về nhận thức trong toàn toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên. Xác định 
chuyển đổi số là xu thế tất yếu của ngành, diễn ra với tốc độ rất nhanh, do đó cần có 
sự chuẩn bị, đầu tư xứng tầm, tạo sức mạnh cộng hưởng và quyết tâm cao. Cơ chế, 
chính sách phải được hoàn thiện, tạo hành lang thuận lợi cho chuyển đổi số trong 
nhà trường. Đó là các chính sách liên quan đến đầu tư cơ sở vật chất như trang thiết 
bị máy móc, hạ tầng băng thông kết nối; liên quan đến chất lượng việc dạy học trên 
môi trường mạng như an toàn thông tin mạng; liên quan đến chính trị, tư tưởng, đạo 
đức người dạy, người học như bảo vệ thông tin cá nhân, an ninh thông tin trên môi 
trường mạng; và các quy định liên quan đến điều kiện tổ chức dạy - học trên mạng, 
kiểm định chất lượng, công nhận kết quả khi dạy - học trực tuyến. 
 + Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ (cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học 
sinh) có kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Trước hết là kỹ năng sử 

File đính kèm:

  • pdfskkn_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_chuyen_doi_so_trong_giang.pdf