SKKN Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi (GV: Đinh Thị Tuyết - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo
- Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi
- Ngày sáng kiến đƣợc áp dụng lần đầu: từ 20 tháng 9 năm 2024. Tại lớp Mẫu giáo bé 3 tuổi C1 Trường MN Ba Trại A
* Bản chất của sáng kiến: - Điều tra thực trạng về môi truờng trong và ngoài lớp học, ngay từ đầu năm học để có phương pháp, hình thức tổ chức cụ thể.
- Tìm ra được 5 giải pháp để giúp trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi phát triển ngôn ngữ. - Sau khi thực hiện đề tài sáng kiến lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến như sau:
+ Giải pháp giúp trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi phát triển ngôn ngữ.
+ Qua nghiên cứu và áp dụng các giải pháp đã trình bày ở trên cho thấy nội dung nghiên cứu và áp dụng biện pháp “Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi” là nội dung có tính khả thi cao, giúp bản thân tôi và đồng nghiệp có được các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, giảm kinh phí học tập và tìm các giải pháp mới từ các chuyên gia.
- Khả năng áp dụng và nhân rộng biện pháp đã được các bạn đồng nghiệp trong trường tham khảo và áp dụng. Tham mưu với ban giám hiệu triển khai các lớp tập huấn chuyên đề phát triển ngôn ngữ đến các giáo viên. Thông qua đề tài này em muốn chuyển tải đến các thầy cô giáo cũng như các đồng nghiệp. Hãy giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để trẻ được phát triển một cách toàn diện nhất.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi (GV: Đinh Thị Tuyết - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƢỜNG MẦM NON BA TRẠI A SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI Lĩnh vực : Giáo dục mẫu giáo Tên tác giả : Đinh Thị Tuyết Đơn vị công tác : Trƣờng Mầm non Ba Trại A Chức vụ : Giáo viên Năm học: 2024 – 2025 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN trường MN Ba Trại A, Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN ngành GD&ĐT huyện Ba Vì Ngày tháng Nơi công Chức Trình độ Họ và tên Tên sáng kiến năm sinh tác danh chuyên môn Một số giải pháp Đinh Thị MN Ba Trại ĐH phát triển ngôn 26-06-1991 Giáo viên Tuyết A sư phạm ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi - Ngày sáng kiến đƣợc áp dụng lần đầu: từ 20 tháng 9 năm 2024. Tại lớp Mẫu giáo bé 3 tuổi C1 Trường MN Ba Trại A * Bản chất của sáng kiến: - Điều tra thực trạng về môi truờng trong và ngoài lớp học, ngay từ đầu năm học để có phương pháp, hình thức tổ chức cụ thể. - Tìm ra được 5 giải pháp để giúp trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi phát triển ngôn ngữ. - Sau khi thực hiện đề tài sáng kiến lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến như sau: + Giải pháp giúp trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi phát triển ngôn ngữ. + Qua nghiên cứu và áp dụng các giải pháp đã trình bày ở trên cho thấy nội dung nghiên cứu và áp dụng biện pháp “Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi” là nội dung có tính khả thi cao, giúp bản thân tôi và đồng nghiệp có được các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, giảm kinh phí học tập và tìm các giải pháp mới từ các chuyên gia. - Khả năng áp dụng và nhân rộng biện pháp đã được các bạn đồng nghiệp trong trường tham khảo và áp dụng. Tham mưu với ban giám hiệu triển khai các lớp tập huấn chuyên đề phát triển ngôn ngữ đến các giáo viên. Thông qua đề tài này em muốn chuyển tải đến các thầy cô giáo cũng như các đồng nghiệp. Hãy giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để trẻ được phát triển một cách toàn diện nhất. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Trại, ngày 22 tháng 03 năm 2025 Ngƣời nộp đơn Đinh Thị Tuyết TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TRƢỜNG MẦM NON BA TRẠI A Ba Vì, ngày 24 tháng 03 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi - Tác giả sáng kiến: ĐINH THỊ TUYẾT - Họ tên người đánh giá: Bùi Thị Thanh Thùy - Cơ quan công tác: Trường Mầm non Ba Trại A Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến thể hiện sự sáng tạo khi áp dụng phương pháp mới để giải quyết vấn đề mà các giải pháp trước hiệu quả chưa cao. Giải pháp này phù hợp với thực tế, tận dụng tốt các nguồn lực sẵn có, dễ triển khai và điều chỉnh, từ đó cải thiện hiệu quả công việc. Điểm đánh giá: 17.5 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp): 5 điểm Sáng kiến nêu bật sự khác biệt rõ rệt giữa giải pháp mới và cũ, kèm theo các số liệu khảo sát và đánh giá trước khi triển khai, từ đó minh chứng cho hiệu quả và sự cải tiến vượt trội của giải pháp mới. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới): 20 điểm Sáng kiến trình bày chi tiết cách thức thực hiện và giải pháp mới, thể hiện sự sáng tạo và mang lại hiệu quả rõ rệt so với phương pháp cũ. Giải pháp này không chỉ cải tiến quy trình công việc mà còn dễ dàng áp dụng trong thực tế. Điểm đánh giá: 17 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Sáng kiến đã so sánh số liệu trước và sau khi áp dụng giải pháp mới, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong hiệu quả công việc. Các kết quả này chứng minh tính khả thi và hiệu quả của sáng kiến trong thực tế. Điểm đánh giá: 7.5 điểm 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Sáng kiến nêu rõ khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân trong ngành giáo dục và có thể mở rộng ra nhiều đơn vị khác. Giải pháp linh hoạt, dễ điều chỉnh, giúp triển khai rộng rãi và đạt hiệu quả chung trong toàn ngành. Điểm đánh giá: 17.5 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu đƣợc hoặc dự kiến có thể thu đƣợc do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Sáng kiến đã được công nhận rộng rãi và mang lại kết quả rõ rệt cho cơ quan. Nó không chỉ nâng cao hiệu quả công tác, cải thiện năng suất và chất lượng công việc, mà còn đem lại lợi ích kinh tế và xã hội, đồng thời cải tiến quy trình làm việc. Điểm đánh giá ND3: 17.5 điểm 4. Nội dung 4: Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, đầy đủ và có bố cục hợp lý, với các nội dung rõ ràng và dễ hiểu, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nắm bắt các giải pháp đã được đề xuất. Điểm đánh giá ND 4: 4 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 85 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt: ☑ - Không đạt: ☐ Ngƣời đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Bùi Thị Thanh Thùy MỤC LỤC PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ ...................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến: .................................................................. 1 1.1. Cơ sở lý luận: ......................................................................................................... 1 1.2. Cơ sở thực tiễn: ...................................................................................................... 1 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến .................................................................................. 3 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu .............................................................. 3 PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN .............................................................. 3 1. Hiện trạng vấn đề: ..................................................................................................... 3 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề ................................................ 6 2.1. Những giải pháp chính: ......................................................................................... 6 2.2. Phân tích các giải pháp .......................................................................................... 6 2.2.1. Giải pháp Xây dựng và sử dụng môi trường phát triển ngôn ngữ ................... 6 2.2.2. Giải pháp Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: ............................... 8 2.2.3. Giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: ........... 11 2.2.4. Giải pháp phát triển ngôn nhữ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: .................... 13 2.2.5. Giải pháp tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ: ......................................................................................................... 14 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị: ...................................... 15 4. Hiệu quả của sáng kiến ........................................................................................... 17 4.1. Hiệu quả về khoa học ........................................................................................... 17 4.2. Hiệu quả về kinh tế .............................................................................................. 18 4.3. Hiệu quả về xã hội: .............................................................................................. 18 5. Tính khả thi: ............................................................................................................. 18 6. Thời gian thực hiện đề tài: ...................................................................................... 19 7. Kinh phí thực hiện đề tài: ....................................................................................... 19 PHẦN III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ...................................................................... 19 1. Kiến nghị: ................................................................................................................ 19 2. Đề xuất: .................................................................................................................... 19 PHẦN IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO HÌNH ẢNH MINH CHỨNG CHO CÁC BIỆN PHÁP PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến: 1.1. Cơ sở lý luận: Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để giao tiếp mà còn là phương tiện quan trọng để thể hiện tư duy, cảm xúc và nhận thức về thế giới xung quanh. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi này giúp trẻ tự tin thể hiện bản thân, phát triển khả năng tư duy logic, hiểu biết về mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Ngôn ngữ không chỉ giúp trẻ học hỏi và tương tác với môi trường xung quanh mà còn là yếu tố quyết định trong việc xây dựng các mối quan hệ xã hội. Trẻ có khả năng ngôn ngữ tốt thường dễ dàng hòa nhập vào nhóm bạn và phát triển các kỹ năng xã hội. Trong giai đoạn trẻ 3- 4 tuổi là độ tuổi quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ. Đây là giai đoạn mà trẻ bắt đầu phát triển khả năng giao tiếp, từ việc học từ vựng, ngữ pháp cho đến cách thức sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp hàng ngày. Việc phát triển ngôn ngữ ở giai đoạn này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ sau này, cả về mặt nhận thức và xã hội. Theo đặc điểm tâm sinh l của trẻ ở độ tuổi này là giai đoạn phát triển ngôn ngữ vượt bậc trẻ có thể nói rõ ràng và tự khắc phục các lỗi về phát âm, ngữ pháp, cách dùng từ. Trẻ có thể nghe và hiểu hết những cuộc hội thoại, khả năng giao tiếp phát triển nhanh. Khả năng phát triển của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như sức khỏe và thể chất, tác động của gia đình và xã hội. iệc được hưởng sự chăm sóc và phát triển tốt từ giai đoạn này sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ. Khi ngôn ngữ phát triển tốt, trẻ dễ dàng giao tiếp với người lớn cũng như trẻ có khả năng điều khiển hành vi của mình. Nhờ có vốn từ mà trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình cho người lớn hiểu và hiểu được của người lớn muốn nói gì, từ đó giúp trẻ tích cực giao tiếp với mọi người. iệc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Giải pháp phát triển ngôn ngữ hiệu quả giúp các chương trình giáo dục mầm non trở nên toàn diện và phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ. Do vậy, nghiên cứu và tìm ra các giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi là rất quan trọng và cấp thiết. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Ở lứa tuổi 3 - 4 tuổi trẻ đang trong giai đoạn phát triển ngôn ngữ mạnh mẽ, từ việc hiểu các từ đơn giản đến khả năng sử dụng câu đầy đủ và giao tiếp cơ bản. Ngôn ngữ là công cụ quan trọng để phát triển tư duy và nhận thức của trẻ. 2 Trẻ 3- 4 tuổi bắt đầu mở rộng vốn từ vựng, làm quen với cấu trúc ngữ pháp và có thể giao tiếp với người khác một cách tự tin hơn. iệc phát triển ngôn ngữ ở độ tuổi này có tác động mạnh mẽ đến khả năng học tập và tương tác xã hội sau này. Từ đó giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp và lĩnh hội tri thức tốt hơn giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. Là cô giáo Mầm non trực tiếp dạy trẻ 3 – 4 tuổi tôi luôn mong muốn tìm ra các biện pháp giúp các con phát triển vốn từ, dạy các con phát âm chuẩn, và sẽ không có những trẻ bị chậm nói dẫn đến bị tự kỷ như một số trẻ ở trường tôi đã từng biết. Không có những trẻ phải thường xuyên xin phép đi học muộn và về sớm để đến lớp học chuyên biệt học nói. Nhiều năm học tôi được phân công phụ trách nhóm trẻ 3 – 4 tuổi . Từng ngày, từng ngày dõi theo sự phát triển vốn từ của trẻ trong lớp với hy vọng khi lên lớp mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi không có bạn nào còn tình trạng như các cháu đang theo học lớp 3 tuổi C3: Cháu Đặng Đức Anh sinh ngày 23/09/2021 đến nay đã hơn 3 tuổi nhưng khả năng phát âm của cháu vẫn rất kém; Cháu Bùi Minh Khôi sinh ngày 01/10/2021 đến nay cứ mỗi tuần 2 buổi chiều gia đình lại xin đón cháu sớm hơn 1 tiếng đồng hồ để cho con đi học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò từ khoảng 15h30 đến 17h tại xã Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội. Như trường hợp cháu Nguyễn Duy Gia Khánh sinh ngày 15/11/2021 hiện là học sinh lớp tôi và cũng là học sinh cũ lớp tôi năm học 2023-2024. Tôi nhận thấy khả năng phát âm và vốn từ của cháu rất bất thường có vẻ như vốn từ của cháu gia tăng rất chậm và khả năng phát âm của cháu trong hai năm học không có sự thay đổi nhiều. Ngoài ra lớp tôi còn một số cháu có khả năng giao tiếp không tốt do vốn từ và cách diễn đạt kém như: Cháu Bùi Minh Tú sinh ngày 12/09/2021; Cháu Dương Quỳnh Anh sinh ngày 20/05/2021. Sẽ vô cùng đáng thương và tương lai các cháu sẽ ra sao khi khả năng ngôn ngữ của trẻ kém phát triển. Bất kể giáo viên phụ trách lớp mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi như tôi cũng đều dễ dàng nhận thấy vốn từ, khả năng diễn đạt của các con phát triển hàng ngày. Tôi xây dựng môi trường ngôn ngữ, môi trường giao tiếp và tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho các con ở mọi lúc mọi nơi. Từ những l do trên, dựa vào kinh nghiệm của mình, kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp, học tập từ các buổi tập huấn chuyên đề và tham khảo thêm sách báo, tạp chí, truyền thông, truyền hình, internet, Và từ đó rút ra kinh nghiệm cho phù hợp với mục tiêu phát triển của lứa tuổi trẻ 3 – 4 tuổi tại trường mầm non nơi tôi đang công tác. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi”. 3 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến Nhằm giúp trẻ 3- 4 tuổi lớp tôi phát triển khả nghe - hiểu, đọc - viết và giao tiếp được với các bạn với cô giáo, trả lời câu hỏi của cô giáo một cách có logic, có trình tự, mạch lạc để trẻ có thể hiểu biết hơn về thế giới xung quanh, phát triển tư duy của trẻ. Giúp trẻ mạnh dạn tự tin trước mọi người. Làm phong phú vốn từ cho trẻ. 3. Thời gian, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Thời gian nghiên cứu Thời gian nghiên cứu đề tài: Đề tài được nghiên cứu trong năm học: 2024 – 2025 (Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025) và tiếp tục nâng cao thực hiện ở những năm học tiếp theo. 3.2. Đối tƣợng nghiên cứu Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi lớp C1 trường Mầm non nơi tôi công tác. 3.3. Phạm vi nghiên cứu Nhóm trẻ lớp 3 tuổi C1 trường Mần non nơi tôi công tác. PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề: Trên thực tế, việc xây dựng môi trường, lựa chọn và tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non nơi tôi đang công tác vẫn còn những hạn chế nhất định như: - Giáo viên xây dựng môi trường mang tính trưng bày, hình thức. Không có nhiều đồ dùng, học liệu cho trẻ trải nghiệm, nên tính hữu dụng và hiệu quả chưa cao. Còn rất nhiều giáo viên vẫn sử dụng, lựa chọn những đồ dùng, học liệu không có sẵn phải đi mua, các phiếu bài tập, học liệu hầu hết chỉ sử dụng được một lần không thể tái sử dụng nên rất tốn kém và lãng phí. - Đề tài đa phần xuất phát từ giáo viên, giáo viên lên kế hoạch nội dung giáo dục, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức từ đầu năm học. Có những đề tài trẻ hứng thú và có cả những đề tài trẻ chưa thực sự hứng thú do đề tài cô lựa chọn không được phong phú, đa dạng và đặc biệt không xuất phát từ nhu cầu của trẻ. - Cách tổ chức một số hoạt động còn chưa thực sự hấp dẫn, chưa lấy trẻ làm trung tâm: Giáo viên dạy trẻ cả những điều trẻ đã biết, đã có kinh nghiệm, G thường chú trọng đến kết quả mà chưa thực sự chú trọng quá trình trẻ hoạt động. Do đó, nhiều hoạt động chưa khơi gợi được hứng thú, chí tò mò của trẻ theo đúng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. 4 - Một số bộ phận giáo viên có kiến thức cơ bản về phương pháp giáo dục tiên tiến theo hướng tiếp cận Reggio Emilia nhưng còn chưa sâu, chưa nắm bắt hết hướng tiếp cận. Giữa phương pháp cũ và phương pháp mới còn nhầm lẫn. Do đó khi ứng dụng vào các hoạt động đặc biệt là hoạt động phát triển ngôn ngữ còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng, chưa được linh hoạt, hiệu quả chưa cao. Một số giáo viên đã có tuổi còn có tư tưởng không muốn đi theo hướng đổi mới, vẫn cố thủ phương pháp giáo dục cũ. Nên có sự không đồng nhất giữa giáo viên và giáo viên. - Với việc chỉ trao đổi với phụ huynh qua giờ đón - trả trẻ và qua nhóm zalo nhóm lớp còn rất nhiều hạn chế như: thời gian rất ngắn và sự hạn chế về công nghệ thông tin cũng như một số phụ huynh không có điện thoại thông minh dẫn đến phụ huynh không nắm bắt được trọn vẹn, không nhìn nhận rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. à đa số phụ huynh chưa ghi nhận tầm quan trọng của giáo dục mầm non. * Thực trạng điều tra ban đầu. - Thuận lợi Ban giám hiệu luôn quan tâm tạo điều kiện và khuyến khích tôi cũng như các giáo viên trong trường được lựa chọn các phương pháp giáo dục tiên tiến, để đưa vào chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ của lớp. Trong năm học 2024- 2025 Nhà trường đã mời giảng viên Trường cao đẳng sư phạm Trung ương cô Nguyễn Cẩm Giang về giảng dạy chuyên đề “Phương pháp dạy học tiên tiến theo hướng tiếp cận Reggio Emilia” và chuyên đề “Phát triển ngôn ngữ” cho đội ngũ giáo viên; Không những vậy chúng tôi còn được đi học hỏi, bồi dưỡng chuyên môn, tham quan học tập ở các trường bạn. Với may mắn là người được trực tiếp đi tiếp thu, tiếp cận sớm với chuyên đề “Dạy học theo dự án – Xây dựng môi trường theo hướng tiếp cận Reggio Emilia” từ ngày 26/08/2023. Và tiếp tục được dự các buổi chuyên đề, cũng như là lớp được lựa chọn cho Cô Nguyễn Cẩm Giang “cầm tay, chỉ việc” hướng dẫn xây dựng môi trường theo hướng tiếp cận Reggio Emilia. Tôi đã phối hợp với giáo viên cùng lớp, cùng nhau lên tưởng và xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ đầu năm học. Trong lớp, 2 cô đều đạt trình độ chuyên môn trên chuẩn. Có lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ. Giáo viên nắm vững phương pháp tổ chức các hoạt động. Bản thân tham gia thi giáo viên dạy giỏi cấp trường đạt giải nhất và tập thể lớp tham gia thi xây dựng môi trường xanh- an toàn- hạnh phúc đạt giải nhất cấp trường năm học 2023 -2024. Có nhiều năm được phân công nhiệm vụ phụ trách lớp 3 – 4 tuổi. Tôi luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn và nâng cao chất lượng dạy trẻ. 5 Đa số Phụ huynh quan tâm đến con em mình. - Khó khăn Đầu năm học lớp tôi tiếp tục đón thêm trẻ mới nên trẻ còn lạ cô, lạ bạn quấy khóc nhiều; nhận thức của trẻ không đồng đều do tháng sinh của trẻ chênh nhau. Đặc điểm tâm lý của trẻ độ tuổi này nhanh nhớ, chóng quên, một số trẻ vốn từ hạn chế, chưa biết cách giao tiếp và biểu đạt mong muốn, nhu cầu của bản thân. Một số phụ huynh chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ trong giai đoạn này. Họ không biết được khi nào thì ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thường và khi nào có dấu hiệu chậm phát triển. Điều này dẫn đến việc không can thiệp kịp thời khi trẻ gặp vấn đề về ngôn ngữ. * Bảng điều tra khảo sát trƣớc khi thực hiện đề tài: Năm học 2024 – 2025 tôi được nhà trường phân công dạy lớp 3 tuổi C1. - Tổng số cháu của lớp là 21 trẻ: Số trẻ nam là 8 trẻ, Số trẻ nữ là 13 trẻ. - Số liệu điều tra: Để thực hiện tốt biện pháp nghiên cứu, đầu năm học tôi cùng đồng chí giáo viên trong lớp tiến hành khảo sát với các nội dung đánh giá về mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ và có kết quả với tổng số trẻ trong lớp 21 cháu như sau: Thời điểm khảo sát: 20/09/2024 Trung Tốt Khá Yếu bình TT Tiêu chí Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ lượng lệ lượng lệ lượng lệ lượng lệ Khả năng nghe hiểu và 24 52 19 5 1 làm theo yêu cầu đơn 5 11 4 1 % % % % giản Khả năng nói bày tỏ tình cảm, nhu cầu, và 19 33 29 19 2 hiểu biết của bản thân 4 7 6 4 % % % % bằng câu đơn, câu đơn mở rộng. Khả năng trả lời và đặt 19 29 38 14 3 4 6 8 3 câu hỏi % % % % Khả năng làm quen một số ký hiệu thông 19 24 33 24 4 4 5 7 5 thường trong cuộc % % % % sống Khả năng làm quen với 10 19 47 24 5 2 4 10 5 đọc, viết tiếng Việt % % % % 6 Với bảng số liệu khảo sát như trên, tôi nhận ra trẻ lớp tôi ngôn ngữ phát triển chậm hơn so với lứa tuổi. Tôi luôn mong muốn sẽ tìm ra nhiều giải pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và thực hiện kiên trì thường xuyên hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng để phát triển vốn từ cho trẻ. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 2.1. Những giải pháp chính: Giải pháp 1: Xây dựng và sử dụng môi trường phát triển ngôn ngữ Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Giải pháp 3: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học. Giải pháp 4: Tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Giải pháp 5: Phối kết hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 2.2. Phân tích các giải pháp Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tư duy, thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức. Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễ dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Chính vì vậy, trong quá trình chăm sóc- giáo dục trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số giải pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ như sau: 2.2.1. Giải pháp Xây dựng và sử dụng môi trƣờng phát triển ngôn ngữ Môi trường luôn là một trong những yếu tố có tính ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ. Không chỉ vậy, môi trường còn mang yếu tố chi phối đến tư duy, học tập của trẻ. Nếu tạo được môi trường cho trẻ hoạt động tốt thì sẽ kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ với kết quả cao. Môi trường sẽ tạo nên một không gian ngôn ngữ đầy sống động cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc và học tập cùng ngôn ngữ nhiều hơn. Cần tạo môi trường nơi trẻ cảm thấy thoải mái và tự tin khi giao tiếp. Mỗi trẻ có tốc độ phát triển ngôn ngữ khác nhau, vì vậy hãy kiên nhẫn và tạo cơ hội học tập thường xuyên. Để xây dựng được môi trường đậm chất ngôn ngữ như vậy cho trẻ hoạt động, tôi đã xây dựng hai loại môi trường: Môi trường phát triển kỹ năng nghe nói; Môi trường phát triển kỹ năng đọc viết. * Môi trƣờng phát triển kỹ năng nghe- nói : Thực tế các hoạt động phát triển kỹ năng nghe- nói chỉ được đưa vào hoạt động một ngày của trẻ, mà giáo viên chưa biết cách xây dựng môi trường cho trẻ 7 hoạt động đạt hiệu quả. Khi xây dựng môi trường phát triển kỹ năng nghe- nói tôi sử dụng: Băng đĩa, casset thu sẵn câu chuyện, bài thơ, bài hát, tiếng kêu con vật, âm thanh tự nhiên, để cho trẻ nghe, cảm nhận và mô phỏng lại. Sử rụng các loại rối, tranh, nhân vật rời, thậm chí cả đồ chơi, gấu bông, các loại củ quả quen thuộc. để cho trẻ kể, nói về các sự vật đó. Tôi sắp xếp những đồ dùng trên tại góc văn học cho trẻ sử dụng, hoạt động. (Hình ảnh góc văn học) * Môi trƣờng phát triển kỹ năng đọc- viết: Vẫn có rất nhiều giáo viên mầm non cho rằng hoạt động đọc- viết chỉ dành cho trẻ độ tuổi mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi nên chưa chú trọng xây dựng môi trường cũng như tổ chức các hoạt động cho trẻ 3 – 4 tuổi. Nhưng kỹ năng đọc- viết của trẻ 3 – 4 tuổi là một trong những mục tiêu nằm trong khung mục tiêu của Bộ giáo dục đưa ra. Đó là trẻ ở độ tuổi 3 – 4 tuổi biết “Làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống; Làm quen với cách đọc và viết tiếng Việt: Hướng đọc, hướng viết; hướng viết của các nét chữ, đọc ngắt nghỉ sau các dấu”. Tôi xây dựng khu vực đọc sách tại góc văn học. Dùng cây gỗ để thiết kế giá để sách cho trẻ, huy động phụ huynh mang sách chuyện, đồ chơi, gấu bông cũ để trong góc cho trẻ sử dụng. Bổ sung nhiều cây cảnh, trên mỗi chậu cây cảnh đều có tên cây tạo không gian gần gũi, trong lành kết hợp với ánh sáng tự nhiên cho trẻ thư giãn khi trẻ hoạt động. (Hình ảnh góc văn học) Nội dung phát triển kỹ năng viết cho trẻ tôi xây dựng tại góc “học tập”. Tại đây, ngoài bút màu, bút chì, chổi vẽ, phấn, Giấy, bảng con, Tôi chuẩn bị thêm một số nguyên vật liệu tự nhiên và tái chế dễ tìm kiếm: miếng gỗ, sỏi, bảng to, lõ giấy vệ sinh, bìa cattong. Tôi phân loại và sắp xếp các dụng cụ, nguyên vật liệu theo chất liệu, công năng sử dụng. Cho trẻ thuận tiện khi hoạt động. (Hình ảnh góc Học tập) Sau khi xây dựng môi trường phát triển kỹ năng nghe- nói; đọc- viết và cho trẻ hoạt động tại các nhóm chơi, tôi nhận thấy rằng trẻ thích đi học, nhanh quen cô, quen bạn. Trẻ tích cực hoạt động tại các nhóm chơi. Trẻ có thể giao tiếp với nhau rất mạch lạc, rõ ràng, linh hoạt mà không cần đến sự giúp đỡ của cô. Với môi trường tôi xây dựng, trẻ được phát triển ngôn nhữ một cách rất tự nhiên, hiệu quả qua trực quan và học hỏi, bắt chước kinh nghiệm của nhau. 8 2.2.2. Giải pháp Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: * Giờ đón trẻ: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi là một quá trình quan trọng trong giai đoạn phát triển của trẻ. Giờ đón trẻ tại trường là thời điểm l tưởng để thực hiện các hoạt động giúp trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả. Giáo viên chào hỏi và giao tiếp với trẻ khi đón trẻ, có thể chào hỏi và đặt câu hỏi đơn giản như: “Hôm nay con có vui không?”, “Con đã làm gì hôm nay?”. Những câu hỏi này khuyến khích trẻ suy nghĩ và trả lời. Hãy lắng nghe cẩn thận những gì trẻ nói và phản hồi lại bằng cách mở rộng câu chuyện của trẻ. í dụ, nếu trẻ nói "Con vẽ hình con cá", cô có thể nói: "Con cá của con trông như thế nào? Nó có màu gì?". Sử dụng trò chơi, câu đố vui tạo tình huống cho trẻsử dụng nhiều từ ngữ để diễn đạt suy nghĩ và hành động. Khuyến khích trẻ giao tiếp cùng các bạn, để trẻ được tự do diễn đạt. (Ảnh đón trẻ và trao đổi với phụ huynh) Thông qua những hoạt động như vậy trong giờ đón trẻ, trẻ không chỉ phát triển khả năng ngôn ngữ mà còn học cách giao tiếp xã hội, thể hiện cảm xúc và phát triển tư duy. * Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc: Hoạt động chơi với đồ chơi ở các góc giúp trẻ được khám phá, trải nghiệm rất nhiều điều từ môi trường xung quang giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, tư duy, các giác quan, thẩm mỹ và tình cảm quan hệ xã hội. Đặc biệt với môi trường phát triển ngôn ngữ lớp tôi đã xây dựng. Tại đây, trẻ được tự tìm tòi, khám phá ra cách sử dụng theo cách trẻ mong muốn. Một số trẻ kỹ năng còn hạn chế thì qua việc được trực quan cô và bạn hoạt động thì các con bước đầu cũng đã biết làm quen, hoạt động. Khi chơi cùng nhau có các tình huống chơi sẽ khuyến khích trẻ phát âm, trò chuyện, trao đổi giao lưu cùng bạn chơi, giao lưu giữa các nhóm chơi. Tại góc tạo hình cho trẻ được tham gia vào các hoạt động vẽ tranh, cắt dán, tạo hình các đồ vật bằng đất sét hoặc giấy. Khi tham gia, trẻ có trò chuyện với cô giáo hoặc bạn bè về những gì mình làm. Các hoạt động này giúp trẻ phát triển khả năng tư duy sáng tạo, đồng thời tạo cơ hội để trẻ học hỏi các từ vựng liên quan đến màu sắc, hình dạng, vật liệu, và cảm xúc. Trẻ có thể tham gia vào các trò chơi đóng vai như gia đình, cửa hàng, bác sĩ, trường học, v.v. Đây là cơ hội để trẻ thực hành ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể. Và học cách sử dụng từ ngữ để mô phỏng các tình huống 9 thực tế, từ đó phát triển kỹ năng giao tiếp, làm quen với nhiều từ vựng khác nhau, cải thiện khả năng diễn đạt và giải thích. í dụ: Trẻ có thể đóng vai làm người bán hàng và người mua hàng trong một cửa hàng, học cách sử dụng các câu hỏi, câu trả lời. Trẻ được giao tiếp với bạn khi chơi. (Hình ảnh trẻ chơi ở góc phân vai) * Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua các hoạt động ngoài trời là một phương pháp rất hiệu quả, vì nó không chỉ giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh mà còn tạo cơ hội cho trẻ học hỏi và giao tiếp một cách tự nhiên. Hoạt động cho trẻ đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi cá nhân, hỏi tập thể để trẻ được gọi tên các hiện tượng tự nhiên: Mưa, nắng, trời âm u,... Ngoài ra tôi còn hỏi trẻ những sự kiện, tình huống xảy ra trong quá trình trẻ chơi: Tại sao lá rau lại có nhiều lỗ?/ Không biết quả trứng này sẽ nở ra con gì nhỉ?/ Chuyện gì sẽ sảy ra nếu cây hoa không được tưới nước? Giúp trẻ học từ vựng mới, phát triển khả năng mô tả và giao tiếp Ở vườn trường, tôi cùng trẻ trồng và chăm sóc các loại rau. Trong quá trình đó tôi luôn trò chuyện cùng trẻ: Con đang làm gì? Đây là rau gì?... Tôi phối hợp cùng các cô nuôi cho trẻ được tham gia vào hoạt động thu hoạch rau, cho trẻ vận chuyển rau giúp cô nuôi và trẻ rất thích thú khi được làm công việc đó. Cho trẻ tham gia các trò chơi ngoài trời nhóm như "chạy rượt", "chơi đuổi bắt", hay "trò chơi thổi bong bóng". Khuyến khích trẻ giao tiếp với bạn bè trong khi chơi. Dùng các câu lệnh hoặc câu hỏi để tăng cường khả năng nói và lắng nghe. Giúp trẻ học cách chia sẻ thông tin, giải thích và lắng nghe kiến của người khác, từ đó phát triển kỹ năng giao tiếp xã hội và ngôn ngữ. Hay tôi thường cùng trẻ ngồi dưới bóng cây, quan sát và kể những câu chuyện tưởng tượng về những điều xung quanh. Để khuyến khích trẻ dùng các từ ngữ mô tả sự vật và hiện tượng xung quanh để tạo ra một câu chuyện thú vị, chẳng hạn như "Một con gấu đi vào khu rừng và thấy một dòng suối." Giúp phát triển khả năng kể chuyện, sáng tạo và làm giàu từ vựng cho trẻ Sử dụng âm thanh tự nhiên từ môi trường ngoài trời, như tiếng chim hót, tiếng gió, hoặc tiếng nước chảy, để tạo ra các trò chơi. Để trẻ nghe và tôi cho trẻ nhắc lại các âm thanh, hoặc tạo ra các trò chơi như "Bắt chước âm thanh". Có thể sử dụng nhạc cụ đơn giản hoặc vỗ tay theo nhịp. Trẻ học cách nhận diện âm thanh, đồng thời cải thiện khả năng ngữ điệu và nhịp điệu trong giao tiếp. Ngoài ra tôi cung cấp giấy và bút màu cho trẻ, khuyến khích trẻ vẽ những gì trẻ thấy ngoài trời như: cây, bầu trời, con vật, và các hiện tượng tự nhiên... 10 Tạo cơ hội cho trẻ có thể diễn đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình thông qua ngôn ngữ hình ảnh, đồng thời học cách diễn đạt các tưởng một cách rõ ràng. Thế giới tự nhiên đối với trẻ là rất kỳ diệu và trẻ luôn có nhu cầu khá phá. Vì vậy hoạt động ngoài trời là một cách tuyệt vời để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi. Bằng cách kết hợp giữa vui chơi, khám phá và giao tiếp, trẻ sẽ có cơ hội học hỏi, làm giàu vốn từ vựng và cải thiện kỹ năng giao tiếp một cách tự nhiên. Quan trọng là tạo ra môi trường tích cực, khuyến khích trẻ sáng tạo và giao tiếp. (Ảnh trẻ đi dạo vƣờn hoa, vƣờn rau; Trẻ trải nghiệm cánh đồng lúa) * Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh: Trong lúc ăn tôi đặt câu hỏi về món ăn, màu sắc, hương vị hoặc cách ăn. í dụ: “Hôm nay con ăn món gì?”, “Con thích ăn rau xanh không?”, “Món này có vị gì?”. Khuyến khích trẻ mô tả các món ăn qua màu sắc, hình dáng, hay mùi vị. Điều này giúp trẻ làm quen với các từ vựng mới và tăng khả năng mô tả. Trước khi ngủ kể cho trẻ những câu chuyện đơn giản, có thể là các câu chuyện hằng ngày hoặc chuyện cổ tích. iệc này giúp trẻ thư giãn và phát triển khả năng nghe, hiểu, nhận diện các từ ngữ. Có hôm trước khi đi ngủ, tôi hỏi trẻ về những việc đã làm trong ngày, ví dụ: “Hôm nay con chơi gì?”, “Con thấy vui không?” Điều này giúp trẻ nhớ lại và sử dụng từ ngữ để mô tả sự kiện trong ngày. Đặt câu hỏi tưởng tượng: “Con nghĩ khi nào mình sẽ ngủ? Con sẽ mơ về gì?”... Những câu hỏi này giúp trẻ phát triển khả năng tư duy trừu tượng và kết nối ngôn ngữ với cảm xúc. Khi hướng dẫn trẻ rửa tay, lau mặt, hoặc thay quần áo, tôi thường sử dụng các từ ngữ liên quan đến các bộ phận cơ thể, các đồ vật vệ sinh. í dụ: "Con dùng xà phòng để rửa tay", "Chúng ta lau mặt để khuân mặt luôn sạch sẽ". Khi thực hiện các hoạt động vệ sinh, tôi giải thích quá trình từng bước để trẻ dễ hiểu, và thực hiện. í dụ: “Đầu tiên, chúng ta phải bật nước, làm ướt tay dưới vòi nước sau đó thoa xà phòng lên tay, rồi chà vào nhau ,....” Khuyến khích trẻ nói về việc vệ sinh bằng việc cho trẻ kể lại quy trình vệ sinh của mình: “Con làm thế nào để rửa tay?”, “Khi lau mặt, con như thế nào?” Kết quả: Khi trẻ được tiếp cận ngôn ngữ trong các tình huống thực tế như ăn, ngủ, vệ sinh không chỉ giúp trẻ học từ vựng mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp, tư duy logic và khả năng tổ chức suy nghĩ. (Ảnh cô vệ sinh cho trẻ, cô cho trẻ ăn, cô cho trẻ ngủ) 11 2.2.3. Giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: * Thông qua Hoạt động khám phá: Đây là hoạt động quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp chính xác vốn từ cho trẻ. Trẻ ở lứa tuổi 3 – 4 tuổi trẻ thường nói nói không đủ câu, nói ngọng, nói ngược. Qua việc được tiếp cận với phương pháp giáo dục tiên tiến theo hướng tiếp cận Reggio Emilia, tôi đã lựa chọn nội dung cho trẻ nhận biết theo nhu cầu của trẻ và có cả những nội dung do tôi lựa chọn nhưng đều dựa trên hứng thú của trẻ. Những nội dung và đồ dùng trực quan tôi lựa chọn những thứ gần gũi với trẻ, mang tính thẩm mĩ. Bên cạnh đó hệ thống câu hỏi cần rõ ràng ngắn gọn, trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ chủ ngữ, vị ngữ. Thông qua khám phá nhằm cho trẻ nhận biết được tên gọi, đặc điểm, công dụng, của sự vật, hiện tượng trên cơ sở đó mở rộng vốn từ vể danh từ, động từ, tính từ tương ứng cho trẻ phát âm. Rèn luyện trẻ nghe, hiểu lời nói; tập nói từ/ câu đơn, câu đơn mở rộng trong các ngữ cảnh. Giúp trẻ nói đúng cấu trúc câu, đúng ngữ pháp và đặc biệt giúp tăng nhanh vốn từ cho trẻ. Ví dụ: Cô dạy trẻ nhận biết và phát âm: Đây là con vịt- lông vịt có màu trắng- con vịt bơi dưới ao; Quả thanh long màu hồng - có vị ngọt; .... (Ảnh cô dạy trẻ hoạt động Khám phá bắp ngô) * Thông qua hoạt động làm quen với văn học: Làm quen văn học là một trong những phương tiện giúp trẻ phát triển ngôn ngữ hiệu quả nhất. Bởi ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ nghệ thuật. Khi lựa chọn tác phẩm văn học cho trẻ 3 – 4 tuổi cần đến các tiêu chí: + Đối với truyện: Chọn các câu truyện có 400 - 500 tiếng; nội dung gần gũi, quen thuộc. + Đối với thơ: Không quá 30 dòng; Ngôn ngữ: giàu hình ảnh so sánh, sinh động; Giàu nhịp điệu, vần điệu; Thể thơ: 3, 4, 5 tiếng, lục bát. Qua hoạt động văn học giáo viên đặt các loại câu hỏi: Câu hỏi chia sẻ cảm súc; câu hỏi liên hệ kinh nghiệm của trẻ; câu hỏi hiểu, nhớ tác phẩm; câu hỏi tưởng tượng, sáng tạo; câu hỏi giáo dục để trẻ đàm thoại, trẻ trả lời theo khả năng ngôn ngữ của mình ..... Ví dụ: Dạy trẻ bài thơ “Lòng mẹ” Có miếng ngọt, miếng ngon Mẹ dành cho con hết Đắng cay chỉ mẹ biết Nhọc nhằn chỉ mẹ hay Mẹ lo đứng, lo ngồi Khi con đau con ốm 12 Với thể thơ 5 tiếng, 16 dòng rất phù hợp với độ tuổi trẻ 3- 4 tuổi Đặt các dạng câu hỏi: Cô vừa đọc bài thơ gì?; Mẹ đã làm những gì cho bạn nhỏ?; Mẹ chăm sóc con như thế nào?/ Hàng ngày mẹ làm những việc gì để chăm sóc con?... Cô kể câu truyện Bài học đầu tiên của Gấu, Cô đàm thoại với trẻ về nội dung câu truyện: Gấu xin phép mẹ đi đâu? Gấu làm đổ giỏ nấm của ai? Gấu nói gì khi làm đổ giỏ nấm của Sóc? Nếu là gấu, con sẽ nói gì với sóc? Gấu bị làm sao khi nhìn mẹ con khỉ? Ai cứu gấu? Nếu con là gấu, con sẽ nói gì với bác voi? Được tặng quà hoặc được ai đó giúp, con sẽ nói gì? Khi có lỗi, con nói gì? (Ảnh hoạt động kể chuyện cô giáo quan tâm nhiều hơn đến bạn Quỳnh Anh) * Thông qua hoạt động Âm nhạc: Khác với trẻ 5 tuổi, trẻ 3 – 4 tuổi có bạn hát theo cô được cả bài, có bạn chỉ hát theo cô được 1,2 từ cuối của câu. Tuy nhiên để thu hút sự chú ý của trẻ cô giáo cũng phải suy nghĩ nghiên cứu phương pháp và hình thức thực hiện. Cô lựa chọn các bài hát phù hợp với độ tuổi Mẫu giáo bé, trình bày bài hát tình cảm, nhẹ nhàng, rõ lời kết hợp với nhạc. Hoặc có thể dạy trẻ vận động theo nhạc, vận động minh họa theo lời bài hát ... (Ảnh cô dạy trẻ hát, cô giáo quan tâm đến cháu Hoàng Phúc) Kết quả: Thông qua các hoạt động học mặc dù với trẻ 24 - 36 tháng mỗi hoạt động học chỉ diễn ra 15 đến 20 phút nhưng có nghĩa vô cùng quan trọng cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trẻ được học những đề tài mà trẻ hứng thú, quan tâm. Hoạt động theo quy trình từ dễ đến khó từ đơn giản đến phức tạp, trẻ được cô giáo uốn nắn từ cách trả lời câu hỏi đến cách diễn đạt câu, phát âm chuẩn. Vốn từ của trẻ được tăng lên, trẻ bập bẹ từng tiếng rồi nói được câu ngắn 2 đến 3 tiếng và nhiều hơn. Có những bạn đã đọc thuộc hết bài thơ, hát thuộc bài hát,... mà không cần đến sự giúp đỡ của cô. * Thông qua hoạt động tạo hình: Tuy không phải hoạt động đặc trưng của phát triển ngôn ngữ, nhưng ở hoạt động tạo hình, trẻ có nhiều cơ hội để phát triển ngôn ngữ viết. Trong các hoạt động tạo hình, tôi chuẩn bị và sắp xếp đồ dùng mang tính mời gọi. Những học liệu của trẻ vô cùng gần gũi, an toàn và đặc biệt không tốn kém về kinh tế nhưng mang lại hệu quả cao về thẩm mỹ, trẻ rất hứng thú như: Sỏi, gỗ, quả thông, vỏ các loại quả, hột hạt, lá cây,.... Trẻ sẽ viết, vẽ, .... lên đó. Nếu như trước kia, trẻ lớp tôi chỉ được vẽ, viết lên giấy, bảng dễ gây sự nhàm chán thì nay trẻ có thể vẽ, viết lên các nguyên vật liệu tự nhiên khác vô cùng đa dạng và thích thú. 13 Tôi nhận thấy rằng, với lời mời chơi thông qua đồ dùng học liệu và các hoạt động tạo hình tôi tổ chức. Thì trẻ lớp tôi rất tích cực tham gia và từ đó trẻ có nhiều cơ hội để rèn luyện và phát triển ngôn ngữ viết của mình. Không những vậy, ở hoạt động thổi màu nước cũng là một hoạt động cho trẻ rèn luyện cơ quan phát âm. (Ảnh đồ dùng, học liệu trong các hoạt động tạo hình) 2.2.4. Giải pháp phát triển ngôn nhữ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi là một phương pháp hiệu quả, giúp trẻ học mà không cảm thấy bị áp lực. Đối với trẻ 3- 4 tuổi hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo mà đóng vai theo chủ đề là hoạt động trung tâm, trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích lũy được nhiều vốn từ. Qua trò chơi trẻ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng dần lưu loát hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Trong tất cả các hoạt động một ngày của trẻ, tôi đều lồng ghép các trò chơi để trẻ có cơ hội nghe- nói. Ngoài trò chơi vận động, tôi còn cho trẻ chơi những trò chơi luyện cơ quan phát âm như: Hôn gió, thổi bóng, thổi cháo, liếm mật ong/ sữa quanh miệng, lè lưỡi, phồng má,... Trẻ được học cách nhận diện âm thanh và vần trong từ thông qua các trò chơi như đố vui về âm thanh, các trò chơi vần hoặc kể chuyện có âm thanh lặp lại. Giúp trẻ phát triển khả năng ngữ âm, nhận diện âm thanh và cách tạo ra các âm thanh lặp lại, hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ. Tôi cũng thường cho trẻ chơi trò giải câu đố đơn giản hoặc chơi trò chơi với những câu hỏi đố vui có từ ngữ. Để trẻ phát triển khả năng suy luận, tìm kiếm sự liên kết giữa từ ngữ và nghĩa Các trò chơi đơn giản như: Trò chơi 10 ngón tay xinh; Trò chơi dẫm xốp bong bóng; Ngón tay nhúc nhích; Bọ dừa; Nu na nu nống; Chi chi chành chành; Trò chơi con muỗi .... Mỗi trò chơi đều có những bài đồng dao có cấu trúc câu ngắn dễ đọc phù hợp với trẻ. Kết quả: Thông qua các trò chơi trẻ được luyện cơ quan phát âm, đọc những câu đồng dao dễ thuộc, kết hợp những cử chỉ ngộ nghĩnh, âm điệu vui tươi, sống động nhí nhảnh gần gũi với cuộc sống, giúp trẻ thêm hào hứng học tập và trẻ rất thích. (Ảnh trẻ chơi 10 ngón tay xinh; trò chơi nu na nu nống) 14 2.2.5. Giải pháp tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi là một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển trí tuệ và giao tiếp của trẻ. Để hỗ trợ quá trình này, tuyên truyền với phụ huynh đóng vai trò then chốt, giúp phụ huynh nhận thức đúng đắn và áp dụng các phương pháp hiệu quả trong việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tôi trao đổi với phụ huynh về nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đối với những cháu mới đi học vốn từ của trẻ còn hạn hẹp, hơn nữa trẻ rất hay nói ngọng, nói ngược thì vai trò của phụ huynh trong việc phối hợp với cô giáo trong việc trò chuyện với trẻ là rất cần thiết bởi nó giúp trẻ được vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm, sửa ngọng, sắp xếp lại các từ theo đúng nghĩa. Nhận thức rõ về điều này ngay từ đầu năm học tôi đã đưa ra kế hoạch để tuyên truyền cho phụ huynh thấy rõ được tầm quan trọng của việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Trong những năm học trước, tôi thường trao đổi với phụ huynh trong giờ đón- trả trẻ hoặc qua nhóm zalo. Nhưng năm học 2024-2025 khi tiếp cận sâu và thực hiện theo hướng đổi mới, tôi còn chia sẻ, giao lưu và trao đổi với phụ huynh ngay cả trong các hoạt động. Bằng hình thức mời phụ huynh cùng tham dự. à kết quả đạt được ngoài mong đợi của chúng tôi. Bởi nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo các bậc phụ huynh. Như trong hoạt động “Yêu thương 8/3”. Các bậc phụ huynh đã được cùng con tham gia các hoạt động: Giao lưu văn nghệ; Cùng thể hiện tình yêu dành cho con và đón nhận tình cảm của các con qua việc nói lời yêu thương, thể hiện cử chỉ yêu thương; Cùng con chuẩn bị và liên hoan. (Ảnh phụ huynh tham gia hoạt động “ Yêu thƣơng 8/3”) à tôi cũng thường trao đổi với phụ huynh về hoạt động khám phá trên lớp nhắc phụ huynh về nhà hỏi lại trẻ để trẻ trả lời lại hoặc kích thích để trẻ tư duy và nhắc lại trẻ đã được thấy, nhìn những gì xảy ra trong ngày. Và luôn mong muốn lắng nghe những phản hồi của phụ huynh về trẻ để từ đó có những biện pháp hữu hiệu giúp trẻ tích cực tham gia hoạt động nhận biết. Đồng thời hàng tháng, hàng tuần tồi đều có kế hoạch cụ thể của trẻ ở trên lớp và trên bảng tuyên truyền của lớp để phụ huynh nắm rõ bài học của con ở lớp và phối hợp với giáo viên để rèn thêm vốn từ cho con khi ở nhà. Kết quả: Qua công tác phối kết hợp với phụ huynh tôi thấy đạt được kết quả rất tốt, được các bậc phụ huynh ủng hộ vật chất và tinh thần. Cứ
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_3_4_tuoi_g.pdf

