SKKN Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS (GV: Trương Công Trường - Trường THCS Phú Đông - Năm học 2023-2024)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến (nêu rõ lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến và vấn đề mà sáng kiến giải quyết): Môn GDCD cấp THCS
-Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS.
- Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ ngày 01/09/2023 đến 20/04/2024 tại Trường THCS Phú Đông
Mô tả bản chất của sáng kiến (Mô tả ngắn gọn, đầy đủ và rõ ràng các bước thực hiện giải pháp cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp; nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở thì cần nêu rõ tình trạng của giải pháp đã biết, những nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết).
Các giải pháp mới đã tiến hành để giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy học là việc sử dụng hệ thống phương pháp giảng dạy và việc sử dụng phương pháp học tập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu học tập đề ra phù hợp với cấp học, người học, chương trình học cụ thể đã được xác định.
- Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học.
- Tùy theo đặc trưng của từng phương pháp, kĩ thuật; tùy vào nội dung từng đơn vị kiến thức để giáo viên chọn thời điểm thích hợp sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học cho hiệu quả thông qua các hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức mới, luyện tập và hoạt động vận dụng.
- Ở mỗi thời điểm, mỗi hoạt động, giáo viên sử dụng linh hoạt phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực sẽ tạo hứng thú, phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ, sẽ mang lại niềm say mê, yêu thích môn học.
c. Những nguyên tắc cần đảm bảo khi sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.
- Phương pháp, kĩ thuật dạy học phải phù hợp với lứa tuổi , tâm sinh lí của học sinh, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, cơ sở vật chất của nhà trường để phát huy hết khả năng sáng tạo cho các em học sinh.
- Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phải phù hợp với từng đơn vị kiến thức, có nội dung liên quan đến kiến thức hoặc kĩ năng cơ bản của bài học. Tránh việc sử dụng phương pháp, kĩ thuật tùy tiện sẽ phản tác dụng giáo dục.
- Cách tổ chức thực hiện phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phải đảm bảo đúng quy trình, đúng đặc trưng của từng phương pháp, kĩ thuật dạy học của từng bộ môn.
- Giờ dạy, giáo viên phải sử dụng đa dạng, phong phú các phương pháp, kĩ thuật dạy học để tránh gây nhàm chán cho học sinh.
- Giáo viên cần nắm chắc cách thức tổ chức, sử dụng từng phương pháp, kĩ thuật dạy học để hướng dẫn ngắn gọn, dễ hiểu, rõ ràng, tránh làm học sinh hiểu sai, làm sai yêu cầu của thầy (cô).
- Giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng , thiết bị dạy học phù hợp với từng phương pháp, kĩ thuật dạy học. Đồ dùng, phương tiện phục vụ dạy học phải đảm bảo các nguyên tắc: tiện dụng, dễ làm, rõ ràng đẹp mắt, nổi bật nội dung kiến thức bài học (sử dụng được nhiều lần).
- Trong một giờ dạy học, không nên lạm dụng quá nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học sẽ gây nhàm chán cho học sinh.
- Khi tổ chức học tập, giáo viên phải quan sát và khuyến khích tất cả học sinh tham gia.
- Giáo viên không chê bai khi các em tham gia hoạt động nhưng kết quả chưa đúng yêu cầu vì như thế sẽ làm ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh.
- Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Nhà trường cần có đủ cơ sở vật chất như: máy tính. Ti vi và đầy đủ các phương tiện dạy học tích cực khác.
Giáo viên thường xuyên cập nhật các phương pháp dạy học và các kĩ thuật dạy học mới. Học sinh cần chủ động trong quá trình học. Tích cực tham gia các hoạt động dự án, hoạt động nhóm.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở)
Qua việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giờ Giáo dục công dân. Khi áp dụng có sự đối chứng: Với 2 lớp 7A và 8B khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và trước khi chưa áp dụng trong năm học 2023-2024. Bằng các phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu khoa học sư phạm, qua tổng kết tôi thu được kết quả như sau:
- Thứ nhất, về tinh thần, ý thức dạy và học: học sinh lớp được áp dụng đề tài có tinh thân học chủ động, sôi nổi vả vui vẻ hơn hẳn, giờ học nhẹ nhàng xóa đi sự căng thẳng mệt mỏi cho các em. Học sinh yêu thích môn học hơn, luôn mong đợi đến giờ GDCD, được thể hiện và khẳng định khả năng sáng tạo, năng lực của bản thân.
- Học sinh rất say mê hứng thú học tập, tích cực hăng hái tham gia vào những hoạt động dạy học, hăng hái xây dựng bài. Học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức chứ không học thụ động như trước. Các em tự giác lắng nghe thầy cô và đưa ra ý kiến phản hồi tích cực. Giờ học trở nên sinh động, hào hứng, các hoạt động giữa thầy và trò được kết hợp hiệu quả. Trong quá trình học tập, học sinh rèn luyện được phẩm chất, nhân cách tốt.
- Học sinh có sự thay đổi vượt bậc trong nhận thức, trong cách cư xử với mọi người. Các em có tinh thần trách nhiệm trong công việc, có tính kỉ luật cao, biết yêu thương và sẵn sáng giúp đỡ mọi người, đoàn kết với bạn bè, tôn trọng kính yêu thầy cô, vâng lời ông bà, bố mẹ.
- Bản thân tôi dạy những tiết ở lớp đó cũng cảm thấy nhẹ nhàng, vui vẻ, hiệu quả rõ rệt hơn.
- Thứ hai, về kết quả học tập: tôi thấy những đối tượng học sinh được áp dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực này có nhiều tiến bộ, khối lượng kiến thức dạy được tăng lên, phát huy được khả năng tư duy độc lập, khả năng tự học của các em. Do vậy chất lượng học tập học sinh tăng lên hơn hẳn so với lớp không áp dụng phương pháp này:
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở)
- Lớp 7A trước và sau khi áp dụng đề tài.
- Lớp 8A trước và sau khi áp dụng đề tài.
Bản thân tôi nhờ áp dụng việc “Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS” năm học vừa qua tôi đã đạt được một số kết quả rất đáng khích lệ như. Làm các chuyên đề cấp trường và cấp huyện. Thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Có 2 học sinh đạt giải Nhì và giải ba học sinh giỏi cấp huyện môn GDCD.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS (GV: Trương Công Trường - Trường THCS Phú Đông - Năm học 2023-2024)
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG THCS PHÚ ĐÔNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS” Lĩnh vực/môn: Giáo dục công dân Tên tác giả: Trương Công Trường Đơn vị công tác: Trường THCS Phú Đông – Ba Vì – Hà Nội Chức vụ: Giáo viên NĂM HỌC: 2023 – 2024 MẪU 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm trường THCS Phú Đông Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm huyện Ba Vì Ngày Trình tháng Nơi công Chức độ Họ và tên Tên sáng kiến năm tác danh chuyên sinh môn Vận dụng một số phương Trường pháp, kĩ thuật dạy học Trương Công 13/03/19 Tổ phó tổ THCS Phú Đại học tích cực trong giảng dạy Trường 79 KHXH Đông môn Giáo dục công dân ở cấp THCS. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến (nêu rõ lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến và vấn đề mà sáng kiến giải quyết): Môn GDCD cấp THCS -Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ ngày 01/09/2023 đến 20/04/2024 tại Trường THCS Phú Đông Mô tả bản chất của sáng kiến (Mô tả ngắn gọn, đầy đủ và rõ ràng các bước thực hiện giải pháp cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp; nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở thì cần nêu rõ tình trạng của giải pháp đã biết, những nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết). Các giải pháp mới đã tiến hành để giải quyết vấn đề - Phương pháp dạy học là việc sử dụng hệ thống phương pháp giảng dạy và việc sử dụng phương pháp học tập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu học tập đề ra phù hợp với cấp học, người học, chương trình học cụ thể đã được xác định. - Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. - Tùy theo đặc trưng của từng phương pháp, kĩ thuật; tùy vào nội dung từng đơn vị kiến thức để giáo viên chọn thời điểm thích hợp sử dụng phương 2 pháp, kĩ thuật dạy học cho hiệu quả thông qua các hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức mới, luyện tập và hoạt động vận dụng. - Ở mỗi thời điểm, mỗi hoạt động, giáo viên sử dụng linh hoạt phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực sẽ tạo hứng thú, phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ, sẽ mang lại niềm say mê, yêu thích môn học. c. Những nguyên tắc cần đảm bảo khi sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. - Phương pháp, kĩ thuật dạy học phải phù hợp với lứa tuổi , tâm sinh lí của học sinh, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, cơ sở vật chất của nhà trường để phát huy hết khả năng sáng tạo cho các em học sinh. - Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phải phù hợp với từng đơn vị kiến thức, có nội dung liên quan đến kiến thức hoặc kĩ năng cơ bản của bài học. Tránh việc sử dụng phương pháp, kĩ thuật tùy tiện sẽ phản tác dụng giáo dục. - Cách tổ chức thực hiện phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phải đảm bảo đúng quy trình, đúng đặc trưng của từng phương pháp, kĩ thuật dạy học của từng bộ môn. - Giờ dạy, giáo viên phải sử dụng đa dạng, phong phú các phương pháp, kĩ thuật dạy học để tránh gây nhàm chán cho học sinh. - Giáo viên cần nắm chắc cách thức tổ chức, sử dụng từng phương pháp, kĩ thuật dạy học để hướng dẫn ngắn gọn, dễ hiểu, rõ ràng, tránh làm học sinh hiểu sai, làm sai yêu cầu của thầy (cô). - Giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng , thiết bị dạy học phù hợp với từng phương pháp, kĩ thuật dạy học. Đồ dùng, phương tiện phục vụ dạy học phải đảm bảo các nguyên tắc: tiện dụng, dễ làm, rõ ràng đẹp mắt, nổi bật nội dung kiến thức bài học (sử dụng được nhiều lần). - Trong một giờ dạy học, không nên lạm dụng quá nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học sẽ gây nhàm chán cho học sinh. - Khi tổ chức học tập, giáo viên phải quan sát và khuyến khích tất cả học sinh tham gia. - Giáo viên không chê bai khi các em tham gia hoạt động nhưng kết quả chưa đúng yêu cầu vì như thế sẽ làm ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh. - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Nhà trường cần có đủ cơ sở vật chất như: máy tính. Ti vi và đầy đủ các phương tiện dạy học tích cực khác. 3 Giáo viên thường xuyên cập nhật các phương pháp dạy học và các kĩ thuật dạy học mới. Học sinh cần chủ động trong quá trình học. Tích cực tham gia các hoạt động dự án, hoạt động nhóm. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở) Qua việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giờ Giáo dục công dân. Khi áp dụng có sự đối chứng: Với 2 lớp 7A và 8B khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và trước khi chưa áp dụng trong năm học 2023-2024. Bằng các phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu khoa học sư phạm, qua tổng kết tôi thu được kết quả như sau: - Thứ nhất, về tinh thần, ý thức dạy và học: học sinh lớp được áp dụng đề tài có tinh thân học chủ động, sôi nổi vả vui vẻ hơn hẳn, giờ học nhẹ nhàng xóa đi sự căng thẳng mệt mỏi cho các em. Học sinh yêu thích môn học hơn, luôn mong đợi đến giờ GDCD, được thể hiện và khẳng định khả năng sáng tạo, năng lực của bản thân. - Học sinh rất say mê hứng thú học tập, tích cực hăng hái tham gia vào những hoạt động dạy học, hăng hái xây dựng bài. Học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức chứ không học thụ động như trước. Các em tự giác lắng nghe thầy cô và đưa ra ý kiến phản hồi tích cực. Giờ học trở nên sinh động, hào hứng, các hoạt động giữa thầy và trò được kết hợp hiệu quả. Trong quá trình học tập, học sinh rèn luyện được phẩm chất, nhân cách tốt. - Học sinh có sự thay đổi vượt bậc trong nhận thức, trong cách cư xử với mọi người. Các em có tinh thần trách nhiệm trong công việc, có tính kỉ luật cao, biết yêu thương và sẵn sáng giúp đỡ mọi người, đoàn kết với bạn bè, tôn trọng kính yêu thầy cô, vâng lời ông bà, bố mẹ. - Bản thân tôi dạy những tiết ở lớp đó cũng cảm thấy nhẹ nhàng, vui vẻ, hiệu quả rõ rệt hơn. - Thứ hai, về kết quả học tập: tôi thấy những đối tượng học sinh được áp dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực này có nhiều tiến bộ, khối lượng kiến thức dạy được tăng lên, phát huy được khả năng tư duy độc lập, khả năng tự học của các em. Do vậy chất lượng học tập học sinh tăng lên hơn hẳn so với lớp không áp dụng phương pháp này: - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng 4 sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở) - Lớp 7A trước và sau khi áp dụng đề tài. Tốt Khá Đạt CĐ Lớp 7A (34 HS) SL TL SL TL SL TL SL TL Năm học 2022-2023 7 21,8 % 12 35,2% 14 43,7% 1 2,9% Năm học 2023-2024 10 29,4% 15 44,1% 9 26,4% 0 0% - Lớp 8A trước và sau khi áp dụng đề tài. Tốt Khá Đạt CĐ Lớp 8A(32 HS) SL TL SL TL SL TL SL TL Năm học 2022-2023 7 21,8% 11 34,3% 13 38,2% 1 3% Năm học 2023-2024 11 34,3% 14 43,7% 7 21,8% 0 0% Bản thân tôi nhờ áp dụng việc “Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS” năm học vừa qua tôi đã đạt được một số kết quả rất đáng khích lệ như. Làm các chuyên đề cấp trường và cấp huyện. Thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Có 2 học sinh đạt giải Nhì và giải ba học sinh giỏi cấp huyện môn GDCD. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Phú Đông, ngày 05 tháng 05 năm 2024 Người yêu cầu (Ký và ghi rõ họ tên) Trương Công Trường I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Ngay từ lúc sinh thời Bác Hồ có nói: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Câu nói của Bác đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục đối với thế hệ trẻ. Đúng thế: “làm thầy thuốc có thể cứu sống một mạng người, làm thầy giáo có thể cứu sống một thế hệ”. Người thầy là người luôn cống hiến hết mình để ươm trồng lớp lớp những thế hệ măng non cho đất nước. Bằng lương tâm và trách nhiệm mỗi thầy cô gửi gắm biết bao tâm huyết của mình trong sự nghiệp trồng người qua từng trang giáo án, qua từng bài giảng trên lớp. Những băn khoăn, trăn trở về thế hệ trẻ có tài, có đức để phục vụ đất nước là thành quả cao quý của mỗi thầy cô giáo. Môn Giáo dục Công dân là môn học quan trọng giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách, cảm xúc, tình cảm, niềm tin đạo đức. Từ đó, các em tự hoàn thiện nhân cách, hướng tới cái chân - thiện - mĩ, trở thành người phát triển toàn diện vừa có đức, vừa có tài “vừa hồng vừa chuyên sâu”. Giáo dục công dân cũng là kho tri thức vô giá, là hành trang để các em mang theo suốt hành trình của mình ở hiện tại và trong tương lai. 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. Nghị quyết số 29- NQ/TW khoá XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng đã khẳng định: Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước. Các quan điểm, định hướng của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại Nghị quyết 29-NQ/TW phù hợp với xu thế phát triển giáo dục của thế giới và thực tiễn phát triển của nước ta. (Hội nghị trực tuyến tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, Ngày14/12/2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo). Dạy học hiện nay theo định hướng phát triển năng lực người học, hướng tới các kĩ năng giao tiếp, hợp tác, ngôn ngữ, sử dụng công nghệ thông tin vì thế là người giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, tôi luôn trăn trở phải làm thế nào để giờ dạy học đạt hiệu quả cao nhất, làm thế nào để giáo dục đạo đức học sinh tốt nhất đó là vấn đề đáng quan tâm. Luật Giáo dục và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và đào tạo đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về 2 đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa ” (Điều 23 Luật giáo dục). Vì thế, môn GDCD trong nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, môn GDCD được thực hiện ở ba cấp học: Ở cấp tiểu học gọi là môn Đạo đức; ở cấp THCS gọi là môn GDCD; ở cấp THPT gọi là môn Giáo dục kinh tế pháp luật. Mục tiêu của môn GDCD ở cấp THCS nhằm: Giúp cho học sinh có hiểu biết về những chuẩn mục đạo đức, pháp luật cơ bản và giá trị, ý nghĩa của các chuẩn mực đó; tự hào về truyền thống gia đình, quê hương, dân tộc; tôn trọng, khoan dung, quan tâm, giúp đỡ người khác; tự giác, tích cực học tập và lao động; có thái độ đúng đắn, rõ rang trước các hiện tượng, sự kiện trong đời sống; có trách nhiệm với bản than, gia đình, nhà trường, xã hội, công việc và môi trường sống. Giúp học sinh có tri thức phổ thông, cơ bản về đạo đức, kĩ năng sống, kinh tế, pháp luật; đánh giá được thái độ, hành vi của bản thân và người khác; tự điều chỉnh và nhắc nhở, giúp đỡ bạn bè, người thân điều chỉnh thái độ, hành vi theo chuẩn mực đạo đức, pháp luật; thực hiện được các công việc để đạt mục tiêu, kế hoạch hoàn thiện, phát triển bản thân; biết cách thiết lập, duy trì mối quan hệ hòa hợp với những người xung quanh, thích ứng với xã hội biến đổi và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống của cá nhân, cộng đồng, phù hợp với giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức, quy tắc của cộng đồng, quy định của pháp luật và lứa tuổi. Để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học với định hướng “lấy học sinh làm trung tâm” giáo viên cần đa dạng hoá các phương pháp dạy học đảm bảo hiệu quả cao và học sinh tích cực, chủ động trong học tập. Vì vậy việc dạy đạo đức, pháp luật giáo viên không chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình, đàm thoại mà còn phải sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để mang đến hiệu quả cao cho giờ học. Trong nhà trường, môn GDCD thường bị coi là môn phụ nên các giờ học diễn ra một cách đơn điệu, khô khan, giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình. Trong giờ, học sinh ít được hoạt động, các em học thụ động, giờ học nhạt nhẽo, nhàm chán. Hơn nữa giáo viên dạy bộ môn Giáo dục công dân phần đông là dạy kiêm nhiệm nên họ ít quan tâm đến việc đầu tư cho bài giảng. Do đó hiệu quả giờ dạy đạo đức, pháp luật chưa cao, các em hiểu biết về các chuẩn mực đạo đức, pháp luật còn mơ hồ. Vì vậy, trong năm học 2023 – 2024 tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân ở cấp THCS”. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. - Thời gian: Từ tháng 9/2023 đến tháng 5/2024. - Đối tượng nghiên cứu 3 Ở đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong môn Giáo dục công dân. - Phạm vi nghiên cứu Với đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu ở lớp 6A,7A,8A trường THCS tôi trực tiếp giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân trong năm học 2023-2024 và cũng áp dụng để giảng dạy Giáo dục công dân các lớp khối 6,7,8,9. Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng vai trò của việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học để từ đó đưa ra những giải pháp hợp lí nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học môn Gáo dục công dân ở THCS. - Nghiên cứu lý luận về các phương pháp, kĩ thuật dạy học vận dụng như thế nào trong môn GDCD. - Từ đó đề ra những giải pháp hiệu quả và cụ thể trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD trong trường THCS. - Qua nghiên cứu đề tài này, tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm từ việc vận dụng linh hoạt, hiệu quả các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy môn GDCD. II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của nội dung/giải pháp cần nghiên cứu. Nước ta đang bước vào giai đoạn CNH - HĐH với mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững, hình thành được các vùng, trung tâm kinh tế, đô thị động lực, có mạng lưới kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; giữ vững các cân đối lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; môi trường sinh thái được bảo vệ, thích ứng với biến đổi khí hậu; đời sống vật chất, tinh thần nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW khoá XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng đã khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc”. Cũng như các môn học khác môn GDCD cần có sự đổi mới về phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học là một yêu cầu quan trọng và cần thiết. Từ đó, việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học GDCD là đòi hỏi không thể thiếu để nâng cao chất lượng dạy học, để khai thác tính năng động, sáng tạo, tính tự lập, tự chủ của học sinh đúng với yêu cầu của giáo dục trong thời kì đổi mới “lấy người học làm trung tâm”. Luôn tạo ra những giờ học hay, sinh động, hiệu quả, lôi cuốn học sinh Giáo dục công dân là môn học quan trọng trong chương trình. Bởi đây là môn học phát triển từ môn đạo đức ở Tiểu học. Nó cũng trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp (tiết kiệm, lễ độ, biết ơn), những chuẩn mực pháp luật (quyền của trẻ em, quyền bất khả xâm phạm 4 về chỗ ở, thư tín, điện thoại, điện tín, Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân, Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình) để học sinh có đủ điều kiện giao tiếp, ứng xử đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để đáp ứng đúng yêu cầu của bộ môn, đòi hỏi mỗi người thầy luôn là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giáo dục, luôn tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học; người thầy sẽ là người định hướng để giúp học sinh tự chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động, sáng tạo. Bởi thế vai trò của thầy, cô trong mỗi giờ lên lớp vô cùng quan trọng. Vẫn biết môn GDCD có tầm quan trọng như thế nhưng qua quá trình giảng dạy và tìm hiểu thực tế, tôi thấy môn học này có những thuận lợi và khó khó khăn sau: * Về phía giáo viên - Thuận lợi: Trong các nhà trường đã có giáo viên được đào tạo chuyên về bộ môn Giáo dục công dân. Bởi thế việc giảng dạy phân môn này cũng thuận lợi. + Hằng năm, giáo viên đều đươc sự quan tâm của Bộ giáo dục, Sở giáo dục và đào tạo. Phòng giáo dục và Đào tạo huyện nên tổ chức thường xuyên các đợt tập huấn về chuyên môn như tập huấn về phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, về cách ra đề kiểm tra và đánh giá học sinh nên cũng giúp giáo viên không còn bỡ ngỡ, lúng túng trong giảng dạy. + Nhà trường cũng được trang bị phương tiện, Ti vi, máy tính, máy chiếu, đồ dùng dạy học, tranh ảnh, sách giáo khoa, sách giáo viên đầy đủ để phục vụ cho việc giảng dạy ngày càng tốt hơn. - Khó khăn: Một số giáo viên còn xem nhẹ môn học, không đầu tư nhiều nên giờ dạy GDCD chưa đạt hiệu quả cao, chưa đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu mà bộ môn đề ra. + Mỗi giờ lên lớp giáo viên chủ yếu truyền thụ kiến thức là chính chứ chưa chú trọng đến rèn kĩ năng trình bày, kĩ năng xử lí tình huống cho các em. Thầy (cô) dạy hết kiến thức sách giáo khoa, yêu cầu học sinh làm bài tập là xong. Đôi khi chưa hết tiết học đã cho các em ngồi nói chuyện hoặc làm việc khác, chưa có sự liên hệ, mở rộng sâu với những kiến thức thực tiễn. Trong các giờ học, thầy hoạt động là chính. Giáo viên lên lớp giảng từ đầu giờ đến cuối giờ, học sinh chỉ ngồi nghe, ghi chép, ít được trình bày quan điểm, ý kiến cá nhân. + Giáo viên chưa quan tâm đến việc sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học. Thầy (cô) lên lớp còn dạy chay, giờ học có tranh ảnh không khai thác, máy chiếu ít sử dụng, chỉ sử dụng đơn thuần sách giáo khoa mà thôi. + Giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học cũ, truyền thống như thuyết trình, vấn đáp nên việc truyền thụ kiến thức còn thụ động một chiều: thầy đọc - trò chép, thầy nói - trò nghe, dạy qua loa đại khái, ít đổi mới phương pháp. Vì thế giờ dạy học đơn điệu, tẻ nhạt. + Vì xem nhẹ môn GDCD nên các nhà trường thường phân công dạy kiêm nghiệm. Với quan niệm đây là môn phụ, môn học dễ nên ai dạy cũng được: giáo viên môn Văn, Sử, Địa và cả Hóa, Sinh, Nhạc, Mĩ thuật cũng được phân công 5 dạy. Do dạy trái chuyên môn nên giáo viên dạy chưa đúng đặc trưng bộ môn. * Về phía học sinh - Thuận lợi: Học sinh ngoan, một số em yêu thích môn học, tích cực tham gia các hoạt động học tập. + Trong quá trình học các em đã có sự hứng thú, say mê học tập. + Các em cũng hoàn thành bài tập và nhiệm vụ giáo viên giao cho. - Khó khăn: Nhiều học sinh vẫn xem nhẹ môn học nên ít dành thời gian cho bộ môn GDCD. + Có học sinh không hoàn thành hoặc không làm những nhiệm vụ giáo viên giao trên lớp cũng như ở nhà. + Đa số các em không vận dụng kiến thức môn học vào xử lí tình huống thực tiễn, không áp dụng trong cuộc sống nên nảy sinh hiện tượng đáng quan tâm như: đạo đức xuống cấp, nạn bạo lực học đường, thiếu tôn trọng thầy cô, bạn bè - Trong các giờ học, các em thụ động tiếp thu kiến thức. Nhiều em còn nhút nhát, rụt rè, chưa có kĩ năng trình bày trước tập thể, khả năng xử lí, giải quyết tình huống còn chậm, chưa hiệu quả. Học sinh thiếu năng động, ít sáng tạo trong học tập. Các em thiếu kĩ năng trong giao tiếp, cư xử với bạn bè, thầy cô, mọi người chưa đúng chuẩn mực đạo đức, pháp luật đã học. 2. Các giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. 2.1. Các giải pháp mới đã tiến hành để giải quyết vấn đề 2.1.1. Giúp học sinh nắm được các kiến thức chung về phương pháp, kĩ thuật dạy học a. Khái niệm phương pháp, kĩ thuật dạy học - Phương pháp dạy học là việc sử dụng hệ thống phương pháp giảng dạy và việc sử dụng phương pháp học tập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu học tập đề ra phù hợp với cấp học, người học, chương trình học cụ thể đã được xác định. - Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. b. Thời điểm để sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. - Tùy theo đặc trưng của từng phương pháp, kĩ thuật; tùy vào nội dung từng đơn vị kiến thức để giáo viên chọn thời điểm thích hợp sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học cho hiệu quả thông qua các hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức mới, luyện tập và hoạt động vận dụng. - Ở mỗi thời điểm, mỗi hoạt động, giáo viên sử dụng linh hoạt phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực sẽ tạo hứng thú, phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ, sẽ mang lại niềm say mê, yêu thích môn học. c. Những nguyên tắc cần đảm bảo khi sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. 6 - Phương pháp, kĩ thuật dạy học phải phù hợp với lứa tuổi , tâm sinh lí của học sinh, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, cơ sở vật chất của nhà trường để phát huy hết khả năng sáng tạo cho các em học sinh. - Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phải phù hợp với từng đơn vị kiến thức, có nội dung liên quan đến kiến thức hoặc kĩ năng cơ bản của bài học. Tránh việc sử dụng phương pháp, kĩ thuật tùy tiện sẽ phản tác dụng giáo dục. - Cách tổ chức thực hiện phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực phải đảm bảo đúng quy trình, đúng đặc trưng của từng phương pháp, kĩ thuật dạy học của từng bộ môn. - Giờ dạy, giáo viên phải sử dụng đa dạng, phong phú các phương pháp, kĩ thuật dạy học để tránh gây nhàm chán cho học sinh. - Giáo viên cần nắm chắc cách thức tổ chức, sử dụng từng phương pháp, kĩ thuật dạy học để hướng dẫn ngắn gọn, dễ hiểu, rõ ràng, tránh làm học sinh hiểu sai, làm sai yêu cầu của thầy (cô). - Giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng , thiết bị dạy học phù hợp với từng phương pháp, kĩ thuật dạy học. Đồ dùng, phương tiện phục vụ dạy học phải đảm bảo các nguyên tắc: tiện dụng, dễ làm, rõ ràng đẹp mắt, nổi bật nội dung kiến thức bài học (sử dụng được nhiều lần). - Trong một giờ dạy học, không nên lạm dụng quá nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học sẽ gây nhàm chán cho học sinh. - Khi tổ chức học tập, giáo viên phải quan sát và khuyến khích tất cả học sinh tham gia. - Giáo viên không chê bai khi các em tham gia hoạt động nhưng kết quả chưa đúng yêu cầu vì như thế sẽ làm ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh. 2.1.2. Các hình thức và biện pháp thực hiện Với vai trò và tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học và điều quan trọng là việc vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực sẽ mang lại hiệu quả cao trong dạy học. Dựa vào những kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm trong việc áp dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả môn GDCD ở trường THCS. 2.2. Một số phương pháp dạy học tích cực. 2.2.1. Phương pháp dạy học dự án. Phương phá dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh dưới sự điều khiển và giúp đỡ của giáo viên tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được. - Đặc trưng cơ bản + Người học là trung tâm của quá trình dạy học + Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gần với các 7 chuẩn + Dự án đươc định hướng theo câu hỏi khung chương trình + Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dang và thường xuyên + Dự án có tính liên hệ với thực tế + Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình thực hiện + Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học + Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án - Quy trình thực hiện + Bước 1: Lập kế hoạch Khơi gợi hứng thú Lựa chọn chủ đề Xây dựng tiểu chủ đề Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập + Bước 2: Thực hiện dự án Thảo luận với các thành viên khác Thu thập thông tin Xử lí thông tin Trao đổi và xin ý kiến GV hướng dẫn + Bước 3: Tổng hợp kết quả Ví dụ khi dạy bài: “Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên” GDCD lớp 8. Phần vận dụng. Giáo viên giao cho các nhóm học sinh lập dự án về bảo vệ môi trường ở trường học theo các gợi ý sau. - Xác định mục tiêu của kế hoạch (mục tiêu bảo vệ môi trường ở trường, lớp). - Lập kế hoạch thực hiện và liệt kê những việc làm cụ thể để đạt được mục tiêu đó. - Thực hiện theo kế hoạch và thường xuyên đánh giá quá trình thực hiện để có thể điều chỉnh kế hoạch một cách phù hợp, nhàm đạt được mục tiêu đề ra. Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập. - Giáo viên hướng dẫn học sinh thông qua hệ thông câu hỏi: 1. Em hãy viết một thông điệp nói lên ý thức bảo vệ môi trường ở trường, lớp em và chia sẻ trước lớp. 2. Em hãy cùng bạn thiết kế tập san về chủ đề "Trường em xanh, sạch, đẹp" Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập. Các thành viên trong nhóm trao đổi, thống nhất nội dung, hình thức thực 8 hiện nhiêm vụ, cử báo cáo viên. Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận. Giáo viên: Yêu cầu học sinh lên trình bày, tham gia hoạt động nhóm tích cực. - Hướng dẫn học sinh cách trình bày (nếu cần); giúp đỡ, gợi ý học sinh trong tình huống sắm vai. Học sinh: Các nhóm báo cáo việc thực hiện dự án trước lớp. - Trao đổi, lắng nghe, nghiên cứu, trình bày nếu còn thời gian - Nhận xét và bổ sung cho nhóm bạn (nếu cần). Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ. - Yêu cầu học sinh nhận xét câu trả lời. - Giáo viên cùng học sinh tổng kết, đánh giá kết quả, sau đó rút kinh nghiệm, bổ sung cho nhau, tạo thành bản thiết kế tốt nhất. 2.2.2. Phương pháp trò chơi * Bản chất, vai trò của phương pháp trò chơi Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó để học hinh thực hành. Học sinh tham gia trò chơi mang lại khả năng độc lập, tự chủ, rèn năng lực tự học, năng lực giao tiếp, hợp tác cho các em. Phương pháp này sẽ tạo hứng thú, sự sôi nổi, không khí vui vẻ cho giờ học. * Cách thức thực hiện: - Giáo viên phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho học sinh nắm được. - Giáo viên cho học sinh chơi thử (nếu cần thiết). - Học sinh tiến hành chơi. - Giáo viên đánh giá sau trò chơi. - Giáo viên cho học sinh trao đổi và nêu ý nghĩa giáo dục của trò chơi. * Lưu ý khi sử dụng phương pháp trò chơi - Giáo viên sử dụng phương pháp này linh hoạt trong các bước tổ chức lên lớp nhưng được thực hiện chủ yếu ở các hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức mới, hoạt động luyện tập và vận dụng. - Với phương pháp trò chơi, giáo viên vận dụng linh hoạt nhiều trò chơi trong giờ dạy như trò chơi: ô chữ, đuổi hình bắt chữ, tiếp sức, rung chuông vàng, hái hoa dân chủ, ai nhanh hơn... Các trò chơi đều có thể sử dụng trong tất cả các giờ dạy học Giáo dục công dân sẽ tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn và tạo sự vui vẻ, tạo tâm thế tốt để các em tự lĩnh hội kiến thức dễ dàng “Học mà chơi, chơi mà học” - Giáo viên cần quan sát kĩ các em khi tham gia chơi để kịp thời chỉnh sửa, động viên khích lệ chính xác mới phát huy được hiệu quả của trò chơi. Khuyến khích tất cả học sinh cùng tham gia. * Ví dụ: Khi dạy bài: “Quản lí tiền” (Giáo dục công dân 7), Tìm hiểu nội 9 dung: Cách tạo nguồn thu nhập cá nhân. GV tổ chức cho HS chơi trò chơi “Tiếp sức đồng đội”. Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập. - Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh ? Các bạn học sinh trong hình ảnh trên tạo thêm thu nhập bằng cách nào? * Trò chơi “Tiếp sức đồng đội” Luật chơi: + Giáo viên chia lớp thành hai đội. ? Nêu các cách tạo nguồn thu nhập cho bản thân phù hợp với lứa tuổi? + Thời gian: Trò chơi diễn ra trong vòng năm phút. + Cách thức: Các thành viên trong nhóm thay phiên nhau viết các đáp án lên bảng, nhóm nào viết được nhiều đáp án đúng hơn thì nhóm đó sẽ chiến thắng. Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập - Học sinh: + Nghe hướng dẫn. + Hoạt động cá nhân trả lời câu hỏi +Tham gia chơi trò chơi nhiệt tình, đúng luật. - Giáo viên: Quan sát, theo dõi quá trình học sinh thực hiện, gợi ý nếu cần Bước 3: báo cáo kết quả và thảo luận Giáo viên: - Yêu cầu học sinh trả lời - Hướng dẫn học sinh cách trình bày (nếu cần). Học sinh: - Trình bày kết quả làm việc cá nhân - Học sinh chơi trò chơi “Tiếp sức” Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ - Học sinh nhận xét phần trình bày của bạn - Giáo viên sửa chữa, đánh giá, rút kinh nghiệm, chốt kiến thức. 2.2.3. Phương pháp “Dạy học nhóm” * Bản chất, vai trò của phương pháp dạy học nhóm Dạy học nhóm là trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc của các thành viên trong nhóm. Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp, ngôn ngữ, trình bày của học sinh. * Cách thức thực hiện - Giáo viên xác định chủ đề, giao nhiệm vụ và chia nhóm. 10 - Quy định thời gian làm việc nhóm, các nhóm cử nhóm trưởng điều khiển, thư kí ghi câu trả lời của nhóm. - Học sinh các nhóm làm việc. - Đại diện học sinh từng nhóm báo cáo kết quả. - Học sinh các nhóm khác đánh giá kết quả của nhóm bạn. - Giáo viên đánh giá, nhận xét kết quả làm việc của từng nhóm. * Lưu ý khi sử dụng phương pháp dạy học nhóm - Giáo viên cần chia nhóm phù hợp (có nhiều cách chia nhóm: theo số thứ tự, tháng sinh, ngẫu nhiên...), số lượng đồng đều, xen kẽ các học sinh có lực học giỏi, khá với học sinh có học lực trung bình, yếu, kém. - Câu hỏi thảo luận rõ ràng, có vấn đề cần huy động nhiều học sinh giải quyết. - Kê xếp bàn ghế hợp lí cho nhóm hoạt động. - Giáo viên nên vận dụng phương pháp dạy học nhóm trong các giờ học phù hợp với kiến thức bài học, đặc biệt là những đơn vị kiến thức khó, những vấn đề cần giải quyết... cần huy động ý kiến đóng góp của một nhóm nhỏ học sinh. - Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng trong các hoạt động lên lớp như: khởi động, hình thành kiến thức mới, luyện tâp, vận dụng * Ví dụ: Khi dạy bài 1 “Tự hào truyền thống dân tộc Việt Nam”. Giáo dục công dân 8, tôi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm ngay ở phần 1. Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu về một số truyền thống dân tộc Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập: - Giáo viên giao nhiệm vụ cho HS thông qua hệ thống câu hỏi của phiếu bài tập Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thông tin Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu học sinh thảo luận theo tổ, nhóm và trả lời câu hỏi vào phiếu bài tập - Các thông tin trên nói về những truyền thống nào của dân tộc Việt Nam? - Chia sẻ hiểu biết của em về các truyền thống đó. - Qua các thông tin trên, giá trị của truyền thống dân tộc Việt Nam được thể hiện như thế nào? Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập - Học sinh làm việc nhóm, suy nghĩ, trả lời. - Học sinh hình thành kĩ năng khai thác thông tin trả lời Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận - Học sinh cử đại diện lần lượt trình bày các câu trả lời. - Giáo viên: Quan sát, theo dõi quá trình học sinh thực hiện, gợi ý nếu cần Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ - Giáo viên nhận xét, đánh giá, chốt vấn đề 11 2.3 Một số kĩ thuật dạy học tích cực. 2.3.1. Kĩ thuật “khăn trải bàn” * Bản chất, vai trò của kĩ thuật khăn trải bàn. - Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh, phát triển mô hình có sự tương tác giữa các học sinh. - Rèn cho học sinh kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề. Học sinh đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như hợp tác; sự phối hợp làm việc cá nhân và làm việc nhóm tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hoá. Nâng cao mối quan hệ giữa học sinh, tăng cường sự hợp tác giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau, nâng cao hiệu quả học tập. * Cách thức tiến hành: - Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0. Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính và các phần xung quanh. Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm. Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh. - Thực hiện kĩ thuật "khăn trải bàn" qua 2 giai đoạn: + Giai đoạn học sinh hoạt động độc lập: Các thành viên trong nhóm ngồi vào vị trí hoạt động tư duy tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề...), mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi theo cách nghĩ, cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy của mình được quy định trong "khăn trải bàn" độc lập tương đối với các thành viên khác. + Giai đoạn học sinh hoạt động tương tác: Trên cơ sở ý kiến của mỗi các nhân, học sinh thảo luận nhóm thống nhất ý kiến sau đó viết ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn. + Sau khi thống nhất ý kiến chung, đại diện các nhóm trình bày kết quả. + Các nhóm khác tham gia phản hồi góp ý kiến, giáo viên nhận xét, kết luận. * Một số lưu ý khi tổ chức kĩ thuật “khăn trải bàn” - Giáo viên chia nhóm phù hợp về số lượng, xen kẽ học sinh khá giỏi, trung bình với học sinh yếu, kém. Để việc trao đổi, học tập, tương tác giữa các thành viên trong nhóm đạt hiệu quả cao. - Số HS trong mỗi nhóm không chia quá đông (từ 4 đến 8 em). - Trong quá trình thảo luận thống nhất ý kiến, học sinh ghi những ý kiến chung vào giữa khăn trải bàn, những ý kiến trùng nhau cần được chọn lựa. Những ý kiến không thống nhất, cá nhân có quyền bảo lưu và được giữ lại ở phần xung quanh khăn trải bàn. * Ví dụ: Khi dạy Bài 1 môn GDCD lớp 6 “Tự hào về truyền thống gia đình dòng họ”. Dạy mục 3: Giữ gìn và phát huy truyền thống gia đình, dòng họ. Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập. 12 - Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh thông qua kĩ thuật khăn trải bàn - Giáo viên: Chia lớp thành 4 nhóm Nhóm 1: Theo em, việc làm của Linh và gia đình sẽ mang đến cảm xúc như thế nào cho người thân? Nhóm 2: Em có suy nghĩ gì về mong muốn của bạn An? Nhóm 3: Từ việc làm của gia đình bạn Linh và bạn An, theo em mỗi người cần làm gì để giữ gìn, phát huy truyền thống gia đình, dòng họ? Nhóm 4: Hãy nêu những việc làm biểu hiện không giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ? + Bước 1: Suy nghĩ độc lập: (3’). + Bước 2: Chia sẻ với nhóm: (3’). + Bước 3: Thống nhất trong nhóm và cử đại diện trình bày trước lớp. Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập. - Học sinh nghe hướng dẫn, làm việc cá nhân, nhóm suy nghĩ, trả lời. - Giáo viên hướng dẫn học sinh bám sát yêu cầu của đề bài, hướng dẫn học sinh hoàn thành nhiệm vụ. Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận. Giáo viên: - Yêu cầu học sinh lên trình bày. - Hướng dẫn học sinh cách trình bày (nếu cần). Học sinh: - Trình bày kết quả làm việc nhóm - Nhận xét và bổ sung cho nhóm bạn (nếu cần). Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ. - Nhận xét thái độ học tập và kết quả làm việc nhóm của học sinh. - GV đưa ra các tiêu chí để đánh giá học sinh: + Kết quả làm việc của học sinh. + Thái độ, ý thức hợp tác nghiêm túc trong khi làm việc. Giáo viên sửa chữa, đánh giá, chốt kiến thức. 2.3.2. Kĩ thuật “ Động não” * Bản chất, vai trò của kĩ thuật động não - Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra "cơn lốc” các ý tưởng) - Phát triển khả năng tư duy, sáng tạo cho học sinh. * Cách thức tiến hành: - Giáo viên nêu tình huống có vấn đề. - Học sinh suy nghĩ và đưa ra những ý kiến của mình 13 - Giáo viên tổng hợp các ý kiến của học sinh đánh giá, nhận xét chung. * Một số lưu ý khi tổ chức kĩ thuật “động não” - Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý kiến của học sinh. - Khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến. - Vận dụng trong hoạt động khởi động, hình thành kiến thức mới, luyện tập, vận dụng. * Ví dụ: Khi dạy bài 12 “Quyền trẻ em” (Giáo dục công dân 6). Sau khi tìm hiểu xong các quyền của trẻ em, giáo viên thực hiện kĩ thuật động não. - Giáo viên đặt câu hỏi: Có ý kiến cho rằng: trẻ em được hưởng các quyền chăm sóc, bảo vệ, quyền tham gia mà không cần có trách nhiệm gì. Ý kiến của em như thế nào? - Học sinh sẽ suy nghĩ trong thời gian 2 đến 3 phút, lên trình bày ý kiến của mình: Trẻ em được hưởng các quyền đã quy định trong Hiến pháp, pháp luật như quyền được bảo vệ, tham gia, quyền được phát triển ...thì các em vẫn cần có trách nhiệm với gia đình như yêu thương, giúp đỡ, kính trọng ông bà, cha mẹ. - Ý kiến tiếp theo: Học sinh có nghĩa vụ học tập - Giáo viên nhận xét, khen ngợi học sinh. 2.3.3. Kĩ thuật “Trình bày một phút” * Bản chất, vai trò của kĩ thuật “Trình bày 1 phút” Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời học sinh đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho giáo viên thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào. Kĩ thuật này sẽ phát huy năng lực tự chủ, tự tin, trình bày, ngôn ngữ và khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng khái quát nội dung kiến thức bài học của học sinh. * Cách thức thực hiện - Cuối giờ học (hoặc sau một đơn vị kiến thức), giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?... - Học sinh suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của học sinh có thể dưới nhiều hình thức khác nhau. - Mỗi học sinh trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm. * Một số lưu ý khi tổ chức kĩ thuật “Trình bày một phút” - Kĩ thuật “Trình bày một phút” áp dụng sau khi học xong một đơn vị kiến thức hoặc một bài. Giáo viên đặt ra câu hỏi mang tính khái quát để học sinh trình bày suy nghĩ về một đơn vị kiến thức vừa học xong - Giáo viên có thể định hướng cho học sinh hỏi thầy cô các câu hỏi liên 14 quan đến đơn vị kiến thức của bài học. Thầy sẽ giải đáp các thắc mắc đó. * Ví dụ: Khi dạy bài 6 “Phòng chống bạo lục gia đình” (Giáo dục công dân 8), sau khi dạy xong bài, chuyển sang hoạt động vận dụng, giáo viên sử dụng kĩ thuật trình bày 1 phút * Cách thức tiến hành: Bước 1. Giáo viên giao nhiệm vụ - GV hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết yêu cầu sau: Theo em gia đình có ý nghĩa như thế nào đối với bản thân mình. - GV hướng dẫn học sinh suy nghĩ viết ra giấy sau đó sẽ trình bày trong vòng 1 phút ý kiến của mình. Bước 2: HS suy nghĩ chuẩn bị kết quả báo cáo trước lớp . - GV hướng dẫn HS liên hệ phần kiến thức đã học để trả lời; đồng thời có phương án để điều chỉnh nhiệm vụ học tập. Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả: - Một số học sinh trình bày trong vòng 1 phút ý kiến cá nhân của mình. Bước 4. Đánh giá: Giáo viên đánh giá quá trình thực hiện của học sinh về thái độ, tinh thần học tập và khả năng thuyết trình của học sinh. 2.3.4. Kĩ thuật “Các mảnh ghép” * Đặc điểm Kĩ thuật “Các mảnh ghép” là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, các nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm; - Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ để, nội dung). - Kích thích sự tham gia tích cực của HS. - Nâng cao vai trò của cá nhân trong trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2). * Tổ chức thực hiện - Vòng 1: Nhóm chuyên gia + Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ. Ví dụ: nhóm 1; nhiệm vụ A; nhóm 2 nhiệm vụ B, nhóm 3 nhiệm vụ C.(có thể nhiều nhóm cùng nhiệm vụ). + Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình. + Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giaovaf trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu. - Vòng 2; nhóm các mảnh ghép + Hình thành nhóm 3-6 người mới (1-2 người từ nhóm 1; 1-2 người từ nhóm 2; 1-2 người từ nhóm 3) + Câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhomsmoiws chia sẻ đầy đủ với nhau. 15 + Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả chủ đề, nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết. + Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả. *Ví dụ; khi dạy mục 2: Biểu hiện của tôn trọng sự thật. Bài: Tôn trọng sự thật-Lớp 6. Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ * Vòng chuyên sâu (7 phút) - Chia lớp ra làm 3 nhóm hoặc 6 nhóm: - Yêu cầu các em ở mỗi nhóm đánh số 1,2,3, (nếu 3 nhóm) hoặc 1,2,3,4,5,6,... (nếu 6 nhóm)... - Phát phiếu học tập số 1 & giao nhiệm vụ: Nhóm I: Việc học sinh cần làm để thầy cô giáo biết khi: Bạn ngồi bên cạnh hay nhìn bài của mình để được điểm tốt? Một nhóm bạn mất đoàn kết, hoặc cãi nhau? Bạn thân của mình không học bài, làm bài tập ở nhà? Nhóm 2: Việc học sinh cần làm để bố mẹ biết, khi : Bị điểm kém trong học tập? Bị bạn trong lớp, trong trường bắt nạt ? Nhóm 3: Việc em cần làm khi chứng kiến kẻ gian lấy trộm đồ của người khác, Hay hành vi cố tình: làm hỏng công trình công cộng... * Vòng mảnh ghép (10 phút) - Tạo nhóm mới (các em số 1 tạo thành nhóm I mới, số 2 tạo thành nhóm II mới, số 3 tạo thành nhóm III mới & giao nhiệm vụ mới: 1. Chia sẻ kết quả thảo luận ở vòng chuyên sâu? 2. Từ trao đổi trên, em hãy cho biết tôn trọng sự thật có biểu hiện như thế nào trong cuộc sống? Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập + Vòng chuyên sâu - Học sinh: Làm việc cá nhân 2 phút, ghi kết quả ra phiếu cá nhân. +Thảo luận nhóm 5 phút và ghi kết quả ra phiếu học tập nhóm (phần việc của nhóm mình làm). Giáo viên: hướng dẫn học sinh thảo luận (nếu cần). + Vòng mảnh ghép (10 phút) - Học sinh: 3 phút đầu: Từng thành viên ở nhóm trình bày lại nội dung đã tìm hiểu ở vòng mảnh ghép. + 7 phút tiếp: thảo luận, trao đổi để hoàn thành những nhiệm vụ còn lại. Bước 3: báo cáo kết quả và thảo luận GV: Yêu cầu HS lên trình bày. - Hướng dẫn HS cách trình bày (nếu cần). HS:Trình bày kết quả làm việc cá nhân - Học sinh chơi trò chơi. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ -Học sinh nhận xét phần trình bày nhóm bạn
File đính kèm:
skkn_van_dung_mot_so_phuong_phap_ki_thuat_day_hoc_tich_cuc_t.pdf

