SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non (GV: Đàm Thị Hồng Nhung - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Mẫu Giáo

- Ngày áp dụng sáng kiến: Bắt đầu từ tháng 9/2022.

- Mô tả bản chất của sáng kiến:

Bản thân tôi nghiên cứu : Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non mục đích giúp

Đánh giá thực trạng dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non. Giúp trẻ chuyển tải những gì mình biết, những khả năng thực thụ giúp trẻ biết phải làm gì và làm như thế nào, trong những tình huống khác nhau của cuộc sống hàng ngày. Từ đó phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Giúp trẻ 5 – 6 tuổi có kỹ năng tự phục vụ tốt hơn.

- Trẻ được trải nghiệm những hoạt động hàng ngày của một xã hội thu nhỏ như: làm việc, sinh hoạt, vận động, giao tiếp trong cuộc sống, xoay quanh bản thân, gia đình và môi trường xã hội

- Trẻ được củng cố, rèn luyện các kỹ năng tự phục vụ như (rửa mặt, rửa tay, rót nước, gấp khăn, đi dép...)

- Trẻ có cơ hội học tập trải nghiệm

- Cơ hội về kiến thức, kỹ năng trong thực tế cuộc sống

- Khuyến khích trẻ khám phá, tìm tòi: Con biết gì về các kỹ năng? Làm thế nào để biết?

- Phát huy tính tự giác và rèn kỹ năng tự phục vụ cho bản thân

- Khơi dậy niềm yêu thích của trẻ với các bộ môn kỹ năng sống

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

doc 30 trang Bình An 31/03/2026 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non (GV: Đàm Thị Hồng Nhung - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non (GV: Đàm Thị Hồng Nhung - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)

SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non (GV: Đàm Thị Hồng Nhung - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ
 TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A
 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG 
RÈN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU GIÁO 
 5- 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
 Lĩnh vực/Môn: Giáo dục mẫu giáo
 Cấp học: Mầm non
 Tên tác giả : Đàm Thị Hồng Nhung
 Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại A
 Chức vụ : Giáo viên
 Năm học: 2022 – 2023 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: 
 Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN trường MN Ba Trại A,
 Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN ngành GD&ĐT huyện Ba Vì. 
 Trình độ 
 Ngày tháng Nơi công Chức 
 Họ, tên chuyên Tên sáng kiến
 năm sinh tác danh
 môn
 Một số biện pháp 
 Đàm Thị Trường nâng cao chất lượng 
 Hồng 07/02/1992 Mầm Non Giáo viên Đại Học rèn kỹ năng tự phục 
 Nhung Ba Trại A vụ cho trẻ mẫu giáo 
 5 – 6 tuổi ở trường 
 mầm non
 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Mẫu Giáo
 - Ngày áp dụng sáng kiến: Bắt đầu từ tháng 9/2022. 
 - Mô tả bản chất của sáng kiến: 
 Bản thân tôi nghiên cứu : Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ 
năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non mục đích giúp 
Đánh giá thực trạng dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm 
non, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng 
tự phục vụ cho trẻ mầm non. Giúp trẻ chuyển tải những gì mình biết, những khả 
năng thực thụ giúp trẻ biết phải làm gì và làm như thế nào, trong những tình 
huống khác nhau của cuộc sống hàng ngày. Từ đó phát triển toàn diện nhân cách 
trẻ. Giúp trẻ 5 – 6 tuổi có kỹ năng tự phục vụ tốt hơn. 
 - Trẻ được trải nghiệm những hoạt động hàng ngày của một xã hội thu 
nhỏ như: làm việc, sinh hoạt, vận động, giao tiếp trong cuộc sống, xoay quanh 
bản thân, gia đình và môi trường xã hội 
 - Trẻ được củng cố, rèn luyện các kỹ năng tự phục vụ như (rửa mặt, rửa 
tay, rót nước, gấp khăn, đi dép...)
 - Trẻ có cơ hội học tập trải nghiệm
 - Cơ hội về kiến thức, kỹ năng trong thực tế cuộc sống - Khuyến khích trẻ khám phá, tìm tòi: Con biết gì về các kỹ năng? Làm 
thế nào để biết?
 - Phát huy tính tự giác và rèn kỹ năng tự phục vụ cho bản thân
 - Khơi dậy niềm yêu thích của trẻ với các bộ môn kỹ năng sống 
 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật 
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
 Ba Trại, ngày 10 tháng 4 năm 2023
 Người nộp đơn
 Đàm Thị Hồng Nhung
 UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 TRƯỜNG MN BA TRẠI A Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ 
 Họ tên tác giả: Đàm Thị Hồng Nhung
 Tên đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục 
 vụ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
 Lĩnh vực: Giáo dục mẫu giáo
 Điểm 
 Điểm 
STT Tiêu chuẩn tối 
 đạt
 đa
 1 Sáng kiến có tính mới
1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 30
1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 20
1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 10
1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây 0
Nhận xét:
 2 Sáng kiến có tính áp dụng
2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 30
2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị 20
 có cùng điều kiện
2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 10
2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị 0
Nhận xét:
 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 30
3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 20
3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị 10
3.4 Không có hiệu quả cụ thể 0
Nhận xét:
 4 Điểm trình bày
4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 10
4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý 5
Nhận xét:
 Tổng cộng: Đánh giá: □ Đạt (>70 điểm) □ Không đạt
 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ
 Hoàng Thị Nhân MỤC LỤC
 NỘI DUNG TRANG
A. PHẦN THỨ NHẤT. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. Lý do chọn đề tài. 1
1.1. Cơ sở lý luận 1
1.2. Cơ sở thực tiễn 1
2. Mục đích nghiên cứu. 2
3. Đối tượng nghiên cứu . 2
4. Đối tượng khảo sát và thời gian thực nghiệm. 2
5. Phương pháp nghiên cứu. 2
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu. 2
B. PHẦN THỨ HAI. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ 
 2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Cơ sở lý luận 2
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. 3
2.1. Đặc điểm tình hình 3
2.2. Khảo sát thực trạng 4
3. Các biện pháp thực hiện 4
4. Mô tả, phân tích các biện pháp 4
4.1. Biện pháp 1: Lựa chọn những kỹ năng phù hợp, xây dựng kế 
 4
hoạch rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ . 
4.2. Biện pháp 2: Bổ xung đồ dùng đồ chơi, xây dựng môi trường 
 6
học tập thân thiện 
4.3. Biện pháp 3: Lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục dạy trẻ kỹ 
năng tự phục vụ cho trẻ thông qua hoạt động học và trong các 8
hoạt động khác 
4.4. Biện pháp 4: Tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh dạy 
 12
trẻ kỹ năng tự phục vụ.
5. Kết quả so sánh đối chiếu 13
C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 14
1. Kết luận 14
2. Khuyến nghị 15
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 
E. CÁC MINH CHỨNG 1
 A. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Tên đề tài:
 Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu 
giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Cơ sở lý luận:
 Bác Hồ kính yêu đã từng nói: 
 “Vì lợi ích mười năm trồng cây,
 Vì lợi ích trăm năm trồng người”
 Sở dĩ Bác nói như vậy là để khẳng định với chúng ta rằng việc giáo dục 
trẻ để trẻ trở thành những công dân tốt cho xã hội cho đất nước là một nhiệm vụ 
hàng đầu. Nhưng để trở thành những công dân tốt sau này thì trước hết hôm nay 
trẻ phải biết tự chăm sóc bản thân, trẻ phải có tính tự lập ngay từ khi còn ngồi 
trên ghế nhà trường. Chính vì vậy việc rèn luyện những kĩ năng tự phục vụ cho 
trẻ em nói chung và trẻ mầm non nói riêng là nhiệm vụ rất cần thiết. Nếu trẻ có 
những thói quen, kĩ năng tự phục vụ tốt sẽ giúp cho cơ thể trẻ phát triển tốt, 
chống đỡ được các bệnh tật, thích nghi được với điều kiện sống... hình thành 
những thói quen cơ bản để giúp trẻ có nhiều nề nếp tốt. 
 Để giúp trẻ có kỹ năng tự phục vụ nghĩa là chúng ta giúp trẻ trải nghiệm 
những hoạt động hàng ngày của một xã hội thu nhỏ như: làm việc, sinh hoạt, 
vận động, giao tiếp trong cuộc sống, xoay quanh bản thân, gia đình và môi 
trường xã hội. Trẻ cần được học và rèn luyện ngay từ nhỏ, từ những bản năng tự 
nhiên như việc học ăn, học nói, học đi, đứng, ngủ nghỉ... đến việc học để có kiến 
thức và nhận thức về bản chất của cuộc sống, tôn trọng môi trường sống, môi 
trường thiên nhiên xung quanh và giao tiếp, ứng xử trung thực, khôn ngoan, lịch
sự với mọi người.
 Trẻ em ngày nay rất thông minh, hoạt bát, lém lỉnh hơn nhiều so với trẻ em 
trước kia. Tuy nhiên các con rất thiếu kỹ năng sống, kỹ năng tự phục vụ thiếu 
khả năng tự lập và hay dựa dẫm vào người lớn. Khi gặp tình huống chúng 
thường nhờ đến người lớn mà không tự mình tìm cách giải quyết. Do đó, việc 
rèn kỹ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ trong trường mầm non là việc làm vô 
cùng cần thiết.
1.2. Cơ sở thực tiễn: 
 Năm học 2022- 2023 tôi được phân công dạy lớp 5 tuổi . Tôi luôn mong 
muốn mang lại cho các con một môi trường giáo dục tốt nhất giúp các con mạnh 
dạn tự tin trong cuộc sống. Để làm được việc đó, điều đầu tiên tôi hướng tới là 
hướng dẫn các con kỹ năng tự phục vụ bản thân. 2
 Nhưng trên thực tế, mặc dù trẻ đã biết thực hiện một số kỹ năng tự phục 
vụ như kê bàn cùng cô, lấy ghế về chỗ tuy nhiên số lượng trẻ thực hiện còn rất 
hạn chế. Đa số trẻ con thụ động, lúng túng chưa nhiệt tình khi thực hiện các kỹ 
năng tự phục vụ. Trẻ có thái độ ỉ nại, chờ đợi sự giúp đỡ của cô giáo hay bạn 
khác. Chính vì vậy, trong các hoạt động hàng ngày ở lớp trẻ vẫn chưa phát huy 
hết khả năng tự phục vụ của bản thân. 
 Từ thực tiễn trên cho thấy kỹ năng tự phục vụ của trẻ còn nhiều hạn chế. 
Điều này khiến tôi băn khoăn chăn chở, do vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Một số 
biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5- 6 
tuổi ở trường mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu. 
 Đánh giá thực trạng dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường 
mầm non, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ 
năng tự phục vụ cho trẻ mầm non. Giúp trẻ chuyển tải những gì mình biết, 
những khả năng thực thụ giúp trẻ biết phải làm gì và làm như thế nào, trong 
những tình huống khác nhau của cuộc sống hàng ngày. Từ đó phát triển toàn 
diện nhân cách trẻ. Giúp trẻ 5 – 6 tuổi có kỹ năng tự phục vụ tốt hơn. 
3. Đối tượng nghiên cứu.
 Một số biện pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu 
giáo 5- 6 tuổi ở trường mầm non 
4. Đối tượng khảo sát và thực nghiệm.
 Trẻ lớp 5 tuổi A3 tại Trường mầm non Ba Trại A.
5. Phương pháp nghiên cứu.
 - Phương pháp điều tra. Phương pháp phân tích. Phương pháp tổng hợp tài 
liệu và khảo sát thực tiễn. Phương pháp thu thập thông tin, so sánh và phân tích 
đánh giá.
6. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023
 B. PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI
 ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Cơ sở lý luận.
 Với khẩu hiệu: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, việc giáo dục trẻ 
ngay từ khi còn nhỏ là rất quan trọng trong sự nghiệp giáo dục nhằm hình thành 
và phát triển nhân cách của trẻ sau này. Bác Hồ kính yêu đã từng dạy “Tuổi nhỏ 
làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”. Đúng vậy, chúng ta cần phải rèn kỹ năng 
sống, đặc biệt là kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ và bắt đầu từ 3
việc nhỏ nhất như: Rửa tay, quét nhà, rửa mặt, tự xúc cơm, tự vệ sinh cá nhân... 
Kỹ năng tự phục vụ là một yếu tố quan trọng có thể giúp trẻ tăng cường tính độc 
lập và cảm giác về sự thành công. 
 Vì vậy lứa tuổi mầm non là giai đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội giá trị sống để 
phát triển nhân cách. Kỹ năng tự phục vụ là những nền tảng để hình thành nhân 
cách trẻ. Phát triển về các mặt thể chất, tình cảm - xã hội, ngôn ngữ, nhận thức, 
giúp trẻ sẵn sàng đi học lớp một ở trường phổ thông sau này. Vì vậy để hình 
thành và phát triển tính tự phục vụ cho trẻ nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói 
riêng giáo viên mầm non phối kết hợp với cha mẹ trẻ có những biện pháp giáo 
dục phù hợp nhằm phát huy khả năng tự phục vụ, làm cơ sở cho sự hình thành 
nhân cách cho trẻ sau này.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.1. Đặc điểm tình hình:
 * Đặc điểm tình hình lớp:
 Năm học 2022- 2023 tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5 tuổi A3. 
Lớp có 2 cô, với tổng số 28 trẻ: 11 nữ, 17 nam. Năm học trước, do dịch bệnh 
covid-19 kéo dài thời gian trẻ được đến lớp ngắn nên khả năng nhận thức của 
trẻ không đồng đều, đặc biệt kỹ năng tự phục vụ của trẻ còn hạn chế. Với đặc 
điểm tình hình như vậy khi thực hiện đề tài này tôi thấy có một số thuận lợi và 
khó khăn sau:
 * Thuận lợi: 
 - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các chị 
em đồng nghiệp đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đồ dùng tài liệu và bồi dưỡng 
chuyên môn. Lớp được phân chia theo đúng độ tuổi.
 - Giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn, được tập huấn về nội 
dung dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non do Phòng giáo dục tổ chức và 
qua các buổi bồi dưỡng chuyên môn tại trường, tích cực nghiên cứu tài liệu về 
giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non.
 - Giáo viên nhiệt tình, sáng tạo, làm đồ dùng phục vụ cho hoạt động rèn 
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ và luôn được sự ủng hộ của phụ huynh.
 *Khó khăn:
 - Đa số phụ huynh làm nông nghiệp nên công tác phối hợp với giáo viên 
còn chưa thường xuyên, phụ huynh chưa quan tâm rèn kỹ năng tự phục vụ cho 
trẻ.
 - Một số trẻ còn nhút nhát không tự tin khi tham gia vào các hoạt động, 
một số trẻ lại quá hiếu động nên khi hoạt động chưa chú ý vào sự hướng dẫn của 
cô, nên chưa có kỹ năng tự phục vụ. 4
 - Chưa có nhiều tài liệu sách, báo về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 
để giáo viên nghiên cứu tham khảo. 
2.2. Khảo sát thực trạng.
 *Khảo sát trẻ
 Kết quả khảo sát đầu năm (Khảo sát 28 trẻ)
 Đạt Chưa đạt
STT Nội dung khảo sát
 SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %
1 Kỹ năng bê ghế, cất ghế 19 68 9 32
2 Kỹ năng rửa tay rửa mặt 19 68 9 32
3 Kỹ năng lấy nước 18 64 10 36
4 Kỹ năng cởi giầy, đi giầy, cất dép. 17 61 11 39
5 Kỹ năng kéo khóa 14 50 14 50
6 Kỹ năng mặc áo, cởi áo (gấp quần áo) 14 50 14 50
7 Kỹ năng sử dụng kéo 15 54 13 46
8 Kỹ năng cách chải tóc 13 46 15 54
3. Các biện pháp thực hiện.
 Biện pháp 1: Lựa chọn những kỹ năng phù hợp, xây dựng kế hoạch rèn kỹ 
năng tự phục vụ cho trẻ.
 Biện pháp 2: Bổ xung đồ dùng đồ chơi, xây dựng môi trường học tập thân thiện.
 Biện pháp 3: Lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục dạy trẻ kỹ năng tự 
phục vụ cho trẻ thông qua hoạt động học và trong các hoạt động khác.
 Biện pháp 4: Tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh dạy trẻ kỹ năng tự 
phục vụ.
4. Mô tả, phân tích các biện pháp.
4.1. Biện pháp 1: Lựa chọn những kỹ năng phù hợp, xây dựng kế hoạch rèn 
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.
 * Lựa chọn những kỹ năng tự phục vụ phù hợp dạy trẻ 
 - Lựa chọn những kỹ năng tự phục vụ cần dạy trẻ ở lứa tuổi này rất quan 
trọng. Nếu cô lựa chọn những nội dung đúng phù hợp để rèn cho trẻ thì sẽ mang 
lại hiệu quả cao và giúp cho trẻ có những kỹ năng tự phục vụ phù hợp
với lứa tuổi. Nếu nội dung không phù hợp với lứa tuổi của trẻ như yêu cầu
cao quá thì sẽ dẫn đến trẻ làm việc quá sức ảnh hưởng đến sự phát triển thể
lực ở trẻ. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu rất kỹ khi lựa chọn những kỹ năng tự
phục vụ phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Do đó tôi đã lựa chọn những nội dung sau:
 + Trẻ biết tự vệ sinh cá nhân của trẻ khi được nhắc nhở như: rửa tay,
rửa mặt, vệ sinh răng miệng, đi giày dép. 5
 + Trẻ biết tự chăm sóc bản thân: tự mặc, cởi quần áo, mặc quần áo phù
hợp với thời tiết, gấp quần áo, gập chăn gối khi ngủ dậy
 + Trẻ biết cất đồ dùng cá nhân gọn gàng, cất đồ chơi đúng nơi quy định
 + Trẻ biết chuẩn bị cho giờ học như: lấy và chia đồ dùng học. Kê bàn
ghế chuẩn bị cho giờ ăn, chia thìa, cất ghế.
 Sau khi xác định được những kỹ năng tự phục vụ cần dạy trẻ ở lứa tuổi
này tôi sẽ tiến hành khảo sát xem trẻ đã làm được những việc gì và đạt ở mức
độ nào. Từ đó tôi sẽ đưa ra một số biện pháp để rèn trẻ một số kỹ năng tự
phục vụ cho trẻ. 
 * Xây dựng kế hoạch rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
 Việc xây dựng kế hoạch giúp tôi định hướng đúng, chính xác những nội 
dung rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong cả năm học, giúp tôi chủ động trong 
từng thời gian cụ thể, tránh việc làm tự phát theo hứng, gặp đâu làm đấy dẫn 
đến tình trạng trùng lặp, bỏ sót. Xây dựng kế hoạch còn giúp tôi kết hợp lựa 
chọn các nội dung, phương pháp và hình thức rèn luyện cho trẻ một cách hợp 
lý khoa học và có hiệu quả. Chính vì vậy, ngay từ khi xây dựng kế hoạch giáo 
dục năm học, tôi đã trao đổi và thống nhất với giáo viên trong lớp bám sát với kế 
hoạch của nhà trường, để lồng ghép các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ theo từng 
tháng sao cho phù hợp với khả năng của trẻ theo từng giai đoạn. Dựa vào đặc 
điểm tình hình thực tế của trẻ trong lớp và xây dựng có hệ thống đảm bảo 
nguyên tắc từ dễ đến khó, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ.
 Dưới đây tôi đã xây dựng kế hoạch rèn kỹ năng tự phuc vụ cho trẻ 5 – 6 
tuổi tại lớp tôi như sau: 
STT Tháng Các kỹ năng Ghi chú
 - Rèn kỹ năng bê ghế, cất ghế
 1 Tháng 9
 - Rèn kỹ năng rửa mặt, rửa tay 
 - Rèn kỹ năng chải tóc
 2 Tháng 10 - Rèn kỹ năng lấy nước
 - Rèn kỹ năng cắt móng tay
 - Rèn kỹ năng tự mặc quần áo, cởi áo, gấp quần
 3 Tháng 11
 - Rèn kỹ năng khéo khóa
 - Rèn kỹ năng rót khô từ cốc trong sang cốc trong
 4 Tháng 12
 - Rèn kỹ năng chuyển hạt bằng tay cỡ nhỏ
 - Rèn kỹ năng quét nhà, cọ cốc chén.
 5 Tháng 1
 - Rèn kỹ năng sử dụng kéo. 6
STT Tháng Các kỹ năng Ghi chú
 - Rèn kỹ năng lau chùi nước
 6 Tháng 2
 - Rèn kỹ năng kẹp quần áo
 - Rèn kỹ năng chuyển hạt bằng thìa cỡ nhỏ
 7 Tháng 3
 - Rèn kỹ năng tết tóc
 - Rèn kỹ năng rót nước
 8 Tháng 4 - Rèn kỹ năng rót khô từ cốc đục sang cốc trong
 - Rèn kỹ năng xử lí khi ho
 - Rèn kỹ năng chuyển hạt bằng tay cỡ vừa.
 9 Tháng 5
 - Rèn kỹ năng chuyển hạt bằng kẹp đá
4.2. Biện pháp 2: Bổ xung đồ dùng đồ chơi, xây dựng môi trường học tập 
thân thiện
 * Tham mưu về cơ sở vật chất
 Để hoạt động rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ đạt kết quả cao, ngay từ đầu 
năm học tôi đã tham mưu với BGH nhà trường đầu tư mua sắm trang thiết bị để 
phục vụ cho việc học tập cũng như việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Nhà 
trường đã mua sắm một số đồ dùng cho trẻ thực hành ở góc kỹ năng như bộ chải 
tóc, bộ cốc trong, bộ chuyển hột hạt, bộ sâu hạt bên cạnh đó nhà trường đã 
trang bị thêm tủ để đồ cho trẻ như: Cặp sách, ba lô cho trẻ, giá dép, bàn, ghế
 (Hình ảnh 1: Một số đồ dùng ở góc kỹ năng được nhà trường mua sắm)
 * Xây dựng môi trường học tập thân thiện cho trẻ 
 + Môi trường trong lớp học:
 Trường, lớp học an toàn, sạch sẽ, thoáng mát, đủ ánh sáng, đủ đồ dùng,
đồ chơi phù hợp với lứa tuổi... là những điều kiện thuận lợi giúp trẻ hoạt động. 
Chính vì vậy môi trường học tập là yếu tố không thể thiếu trong quá trình hình 
thành và rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Vì vậy giải pháp không thể thiếu 
là tạo môi trường phù hợp thân thiện để dạy trẻ. 
 Chính vì vậy tôi đã chủ động xây dựng góc kỹ năng tự phục vụ phong phú 
như kỹ năng tết tóc, kỹ năng buộc dây giày, kỹ năng rót nước cam, kỹ năng xúc 
hạt, kỹ năng tự đánh răng Trẻ được vui chơi ở góc theo cách thức “Học bằng 
chơi, chơi bằng học” Trẻ có nhiều cơ hội thực hành và học hỏi nhiều thứ. Trẻ có 
nhiều lựa chọn và thực hiện các hoạt động, các bài tập theo hứng thú của mình. 
Trẻ có cơ hội lựa chọn học liệu và hoạt động của trẻ chủ động hơn trong khi 
chơi. Đồng thời trẻ có thể cùng nhau chia sẻ, hợp tác chia sẻ kinh nghiệm. 
Thông qua góc kỹ năng được thực hiện các bài tập trẻ sẽ rèn luyện tính độc lập, 
biết tự phục vụ bản thân có thêm kỹ năng và trở lên ngăn nắp, nề nếp hơn. 7
 Ở góc này từ những mảng tường trắng, tôi đã tìm tòi và tận dụng để làm 
góc mở cho trẻ tự rèn luyện kỹ năng tự phục vụ như: Góc kỹ năng thực hành 
cuộc sống (hay còn gọi là kỹ năng tự phục vụ) là nơi trẻ có điều kiện được trải 
nghiệm thực tế, khuyến khích khơi dậy tính tò mò, phát triển trí tưởng tượng, 
năng động, mạnh dạn, tự tin. 
 (Hình ảnh 2: Góc kỹ năng thực hành cuộc sống)
 Ví dụ: Tháng 11 tôi rèn kỹ năng kéo khóa, cài khuy áo. Để thu hút sự 
hứng thú, ham học hỏi, tính tò mò của trẻ. Tôi trang trí góc thật nhiều loại đồ 
dùng, đồ chơi đẹp mắt, phù hợp với tính năng sử dụng cho trẻ hoạt động như: 
Váy được cắt bằng nỉ có khóa, có khuya áo.
 (Hình ảnh 3: Trẻ thực hành kỹ năng kéo khóa áo)
 + Môi trường ngoài lớp học:
 Ngoài ra khu vực rửa tay tôi thiết kế một bảng gồm các bước theo quy 
trình có hình ảnh minh hoạ cụ thể, dễ hiểu dán trên tường gần vòi rửa tay để khi 
nào trẻ quên có thể nhìn lên và làm theo các bước rửa tay đúng cách.
 + Môi trường giao tiếp thân thiện cho trẻ khi ở lớp, thân thiện giữa cô 
giáo và phụ huynh:
 Để tạo được môi trường thân thiện giữa cô giáo và phụ huynh, tôi luôn 
chủ động trao đổi, thông tin thường xuyên, kịp thời với cha mẹ trẻ để tạo sự 
thống nhất trong chăm sóc và giáo dục trẻ bên cạnh đó tôi luôn nhẹ nhàng, gần 
gũi trẻ, là người bạn thân thiết của trẻ, quan tâm, luôn lắng nghe và chia sẻ với 
trẻ. Tôn trọng sở thích riêng của trẻ, giải thích cho trẻ hiểu khi trẻ làm sai; động 
viên, khuyến khích trẻ khi trẻ làm đúng, làm được việc tốt. Ngoài ra, tôi còn tạo 
cho trẻ môi trường giao tiếp thông qua các giờ học, giờ chơi.
 * Làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo: 
 Để thu hút trẻ tích cực tự rèn luyện các kỹ năng tự phục vụ cho bản thân ở 
góc này tôi cũng thường xuyên và sưu tầm nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có, 
hay làm nhiều đồ dùng đồ chơi sáng tạo đẹp mắt để cho trẻ có thể thực hành và 
phát huy hết khả năng rèn kỹ năng tự phục vụ bản thân mình. Tôi cùng trẻ làm 
một số đồ dùng ở góc kỹ năng để cho trẻ tham gia thực hành như: Sách kỹ năng, 
các loại quần, áo được cắt bằng thảm nỉ, giày dép được làm bằng thảm nỉ có xâu 
dây, cài khuy áo (áo có cúc,áo có khóa, áo cúc cài), luồn dây giày, bộ phơi quần 
áo, bộ đan lát Tất cả các đồ dùng, đồ chơi trên đều ở trạng thái mở, trẻ dễ 
dàng lấy và sử dụng. 
 Ví dụ: Tháng 2 tôi rèn kỹ năng kẹp quần áo. Tôi sử dụng kẹp gỗ nhỏ vừa tay 
của trẻ, vải vụn cắt quần, áo, váy cho trẻ kẹp quần áo lên dây phơi hoặc móc. 
 (Hình ảnh 4: Trẻ chơi góc kỹ năng cách kẹp quần áo) 8
 Ví dụ: Tháng 3 tôi rèn kỹ năng tết tóc, tôi đã làm đồ dùng cho trẻ tự rèn 
kỹ năng tết tóc ngay trên mảng tường của lớp. Đồ dùng được làm bằng đĩa ăn 
một lần làm khuôn mặt, sợi len làm tóc
 (Hình ảnh 5: Trẻ thực hành tết tóc trên đồ dùng sáng tạo) 
 Tóm lại: Với những việc làm cụ thể ở trên, tôi đã tạo được môi trường
học tập khá thân thiện với trẻ và phụ huynh trẻ. Trẻ thích đến lớp, mỗi khi đến 
lớp trẻ rất thích thú tham gia vào các hoạt động do cô tổ chức. 
4.3. Biện pháp 3: Lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục dạy trẻ kỹ năng tự 
phục vụ cho trẻ thông qua hoạt động học và trong các hoạt động khác
 Hiện nay việc đổi mới hình thức theo hướng tích hợp và lồng ghép các 
hoạt động giáo dục. Nó giúp cho trẻ hoạt động tích cực hơn. Chính vì vậy tôi 
luôn chú ý xây dựng lồng ghép kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong hoạt động học 
và trong các hoạt động khác. Thông qua các hoạt động này tôi đã lồng ghép tổ 
chức cho trẻ thực hiện các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.
 * Rèn kỹ năng tự phục vụ ở hoạt động học.
 Hoạt động học là hoạt động được tổ chức có sự định hướng và hướng dẫn 
trực tiếp của giáo viên. Nội dung dạy được tổ chức có hệ thống theo sát mục 
đích, kế hoạch đã được hoạch định trong giáo án nhằm cung cấp kiến thức, kỹ 
năng cho trẻ giúp trẻ hiểu để trẻ cảm nhận đầy đủ và sâu sắc nội dung bài học 
liên quan đến giáo dục kỹ năng tự phục vụ, nghĩa là kiến thức có nội dung giáo 
dục kỹ năng tự phục vụ. Do vậy tôi lồng ghép, tích hợp một cách nhẹ nhàng, tự 
nhiên về kỹ năng tự phục vụ trong các tiết học ví dụ như:
 Ví dụ 1: Hoạt động khám phá 
 Chủ đề “Trường mầm non”. Đề tài: Tìm hiểu về nội quy lớp học
Rèn trẻ kỹ năng tự phục vụ: Cất đồ dung đồ chơi, giày dép đúng nơi quy định.
Tôi cho các con tìm hiểu những nội quy của lớp: Nội quy cất đồ dùng, đồ chơi 
đúng nơi quy định, cất ba lô và cất dép, để rác đúng chỗ bắt đầu từ khi đến 
lớp. Tôi cùng các con thống nhất đưa ra các nội quy để thực hiện.
 Giáo dục trẻ cất đồ dùng gọn gàng ngăn nắp đúng nơi quy định không vứt 
đồ dùng đồ chơi bừa bãi.
 Chủ đề: Bản thân. Đề tài: Tìm hiểu trang phục bạn trai, bạn gái
 Rèn trẻ kỹ năng tự phục vụ: Cách mặc, cởi áo; cài khuy áo
 Sau khi cho trẻ “Tìm hiểu trang phục bạn trai, bạn gái” Tôi cho trẻ trải 
nghiệm cách mặc áo (đóng cúc) dưới hình thức trò chơi “Nhanh và khéo” 
 Từ đó hình thành cho trẻ kỹ năng tự phục vụ khi tắm trẻ tự biết cởi áo, khi 
tắm song trẻ tự mặc áo, khi áo bẩn trẻ biết tự thay áo. 9
 Giáo dục trẻ biết giữ gìn vệ sinh bản thân, trang phục gọn gàng biết mặc 
quần áo khi trời lạnh, biết cởi bớt áo khi trời nóng.
 (Hình ảnh 6: Hướng dẫn trẻ gấp quần áo)
 Ví dụ 2: Hoạt động tạo hình 
 Đề tài: “Cắt dán đồ dùng đồ chơi bé thích”
 Rèn kỹ năng tự phục vụ: “Cách sử dụng kéo”
 Ở hoạt động này tôi rèn cho trẻ kỹ năng khéo léo, cẩn thận khi sử dụng 
kéo cô hướng dẫn trẻ biết cách cầm kéo bằng 2 tay, sử dụng kéo bằng 3 ngón tay 
lồng vào tay cầm của kéo tay phải cầm kéo, tay trái cầm giấy, cắt thật khéo léo 
các đường thẳng tạo nên hình chữ nhật để làm khăn mặt.
 Trong hoạt động này tôi rèn cho trẻ kỹ năng khéo léo, cẩn thận khi sử 
dụng kéo. Ngoài ra, khi trẻ hoạt động nhóm tôi lồng ghép rèn cho trẻ kỹ năng tự 
phục vụ là biết lấy ghế về nhóm và cất ghế đúng nơi quy định. 
 Giáo dục trẻ trong khi cắt không vứt giấy bừa bãi, biết giữ gìn vệ sinh 
thân thể sạch sẽ, sử dụng kéo cẩn thận không đùa nghịch trong khi sử dụng kéo.
 (Hình ảnh 7: Cô hướng dẫn trẻ sử dụng kéo tiết tạo hình)
 Ngoài việc giáo dục trẻ kỹ năng tự phục vụ lồng ghép ở các tiết học tôi còn 
thông qua các hoạt động khác như : Hoạt động đón trả trẻ, hoạt động góc, hoạt động 
ngoài trời, hoạt động lao động, hoạt động ăn, ngủ, hoạt động chiều... Trong các giờ 
học này tôi giáo dục trẻ dưới hình thức củng cố bài và ở góc kỹ năng hay hoạt động 
chiều tôi dạy cho trẻ một số kỹ năng mới.
 * Hoạt động đón, trả trẻ
 - Giờ đón trẻ: Tôi lồng ghép kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, trẻ biết cất đồ dùng 
cá nhân gọn gàng, đúng nơi quy định. 
 Ví dụ : Khi trẻ đến lớp tôi rèn cho trẻ kỹ năng tự phục vụ, trẻ biết cất ba 
lô, cặp sách, giày, dép, mũ vào đúng nơi quy định và biết lấy ghế về tổ ngồi, 
khi ra về trẻ biết tự cất ghế lấy đồ dùng cá nhân.
 - Giờ trả trẻ: Trước khi về cô nhắc nhở trẻ trước khi về cất ghế đúng
nơi quy định, cất gọn gàng ngăn nắp. Khi trẻ cất ghế một số trẻ cầm ghế chưa
đúng cô lưu ý bao quát sửa sai, cô nhẹ nhàng hướng dẫn trẻ cách bê ghế bằng
2 tay: 1 tay cầm thành ghế, 1 tay cầm mặt ghế bê ghế ngang tầm bụng, cất
đúng chỗ, gọn gàng, cất dép đi trong nhà vào đúng nơi quy định mới ra về. 
Giáo dục trẻ biết lễ phép chào hỏi lễ phép, lấy và cất đồ dùng đúng nơi quy định.
 (Hình ảnh 8: Trẻ cất ghế - đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định)
 * Hoạt động góc
 Hoạt động góc là hoạt động mà trẻ mầm non rất thích thú. Ở các góc chơi 
trẻ thể hiện các vai chơi, đóng làm người lớn bắt chước làm những công việc 10
của người lớn. Cũng chính tại hoạt động chơi góc trẻ sẽ “bộc lộ” sự sáng tạo 
được những kinh nghiệm của bản thân.
 Ví dụ 1: Trong chủ đề nhánh: “Một số nghề trong xã hội” hoạt động vui 
chơi có nhiều góc chơi, trong mỗi góc lại có nhiều nhóm chơi nhỏ. Khi cô giới 
thiệu các góc chơi, nhiệm vụ của từng vai chơi, trẻ bắt đầu tự chọn hoạt động 
của mình. Có trẻ chọn góc phân vai, có trẻ chọn góc xây dựng Được đóng vai 
bố mẹ, bế em, trải tóc cho em, cài cúc áo, đi tất, cho em ăn, ăn những bữa ăn gia 
đình Từ những hoạt động hang ngày của người lớn mà trẻ đã vận dụng vào xã 
hội thu nhỏ thông qua hoạt động góc. 
 (Hình ảnh 9: Trẻ chơi ở góc phân vai)
 Ngoài việc hướng dẫn trẻ lồng ghép các kỹ năng vào góc chơi, ngay từ 
đầu năm tôi đã trang trí góc kỹ năng thực hành cuộc sống ngay trong lớp học và 
tôi đã chuẩn bị rất nhiều đồ dùng cho trẻ thực hành các kỹ năng mới và củng cố 
những kỹ năng cũ.
 Ví dụ 3: Góc kỹ năng thực hành cuộc sống .Rèn kỹ năng mới “Cách chải tóc”.
 Cách thực hành: Khi chải tóc con cầm lược bằng tay phải để chải tóc, tay 
trái con giữ và đỡ lấy lược. Con chải từ trên đỉnh đầu, từ đầu ngọn tóc xuống 
chân tóc dùng tay chái nắm lấy tóc đã trải, sau đó lấy dây buộc tóc để buộc lại.
 (Hình ảnh 10: Trẻ rèn kỹ năng chải tóc)
 Sau khi được cô giáo hướng dẫn và được trải nghiệm, kết quả trẻ đã làm 
tốt và ở những tuần tiếp theo trẻ đã làm tốt hơn. Sau một thời gian trải nghiệm 
một số trẻ đã tự biết chải tóc và buộc tóc mà không cần sự giúp đỡ của cô giáo.
 Giáo dục trẻ biết giữ gìn đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ.
 * Hoạt động ngoài trời và hoạt động lao động.
 Là một hoạt động trẻ được tự do hòa mình với thiên nhiên, với môi trường
xung quanh. Thông qua hoạt động ngoài trời, giáo viên sẽ cung cấp cho trẻ 
những kỹ năng tự phục vụ. Trong quá trình khi trẻ tham gia hoạt động có chủ 
đích cùng cô, giáo viên có thể dễ dàng lồng ghép giáo dục và củng cố các kỹ 
năng tự phục vụ vào quá trình hoạt động của trẻ như nhặt lá, tưới cây, hái rau 
trong vườn trường... Từ đó tôi đánh giá được việc ứng dụng kỹ năng mà cô dạy 
vào trong thực tế của trẻ đến đâu. Trong quá trình chơi và hoạt động tự chọn, 
nhắc nhở trẻ biết bảo quản, giữ gìn đồ chơi, tự rửa đồ chơi sau khi chơi xong,
thu dọn cất đồ dùng, đồ chơi vào đúng nơi quy định. 
 Ví dụ: Giờ hoạt động ngoài trời: Một số nghề phổ biến trong xã hội.
 HĐCMĐ: Trò chuyện về bác lao công. TCVĐ: Chuyền bóng.
 Chơi tự do: Chơi với đồ chơi ngoài trời, phấn, lá cây. 11
 Ví dụ: Khi tham gia hoạt động ngoài trời hay hoạt động lao động tập thể 
trẻ biết tự lấy dép, đeo dép, mặc áo, cởi áo Trong quá trình chơi nhờ có kỹ 
năng cởi áo, mặc áo khi chơi trẻ cảm thấy nóng nực trẻ lớp tôi đã tự biết cởi áo 
và có những hôm ra chơi trời có gió lạnh trẻ đã tự biết lấy áo mặc.
 (Hình ảnh 11: Trẻ tự biết cởi áo khi chơi nóng - Trẻ tự đi giày dép)
 Ví dụ: Rèn kỹ năng tự phục như: Khi trẻ ăn quà bánh tôi rèn cho trẻ thói 
quen để rác đúng nơi quy định, ở góc thiên nhiên rèn trẻ kỹ năng tự phục vụ biết 
chăm sóc lau lá cây, bắt sâu, tưới nước cho cây
 (Hình ảnh 12: Trẻ chăm sóc cây, bắt sâu, lau lá cây góc thiên nhiên - Trẻ bỏ 
rác đúng nơi quy định - Hình ảnh trẻ tham gia lao động nhặt lá sân trường) 
 Từ những việc làm tưởng chừng như nhỏ bé này tôi thấy trẻ lớp tôi rất có 
ý thức bảo vệ môi trường không vứt rác bừa bãi mà để rác đúng nơi quy định.
 Giáo dục trẻ yêu lao động, biết chăm sóc cây cối, tưới nước, nhổ cỏ cho 
cây, không vứt rác bừa bãi biết tự bỏ rác vào thùng đúng nơi quy định . Từ đó 
trẻ có ý thức biết bảo vệ môi trường làm cho môi trường ngày càng xanh, sạch, 
đẹp.
 Ngoài việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong giờ hoạt động học, 
hoạt động góc, hoạt động lao động tôi còn tiến hành dạy trẻ kỹ năng tự phục 
vụ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, mọi thời điểm trong ngày như: Giờ ăn, giờ ngủ, 
hoạt động chiều.
 * Ở giờ ăn, giờ ngủ.
 Là một hoạt động không thể thiếu ở trường mầm non. Bên cạnh việc giáo
dục tri thức, thẩm mỹ, thể chất cho các con tại trường mầm non, việc giáo dục 
các con về các vấn đề vệ sinh cũng là việc hết sức quan trọng. Rèn luyện những 
thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ mẫu giáo đó là nhiệm vụ rất cần
thiết. 
 Qua việc tổ chức bữa ăn cho trẻ, tôi tập cho trẻ làm một số công việc tự 
phục vụ qua đó hình thành ở trẻ một số kỹ năng sử dụng đồ dùng, ăn uống đúng 
cách, biết rửa mặt rửa tay trước khi ăn và lau miệng, súc miệng nước muối, uống 
nước sau khi ăn cơm song.
 Trong hoạt động ăn tôi đã rèn cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ như kê bàn 
ghế cho bữa ăn trẻ biết tự kê bàn ghế, gấp khăn lau, tự chia đĩa, chia thìa về bàn 
 Ví dụ: Ở trẻ lớp tôi tôi đã rèn cho trẻ kỹ năng tự rửa mặt rửa tay trước khi 
ăn, trẻ biết tự chia thìa về bàn, về nhóm, giúp cô kê bàn ăn,...
 (Hình ảnh 13: Trẻ kê bàn, lau bàn - Trẻ chia thìa về nhóm ăn)
 Giáo dục trẻ biết giữ gìn vệ sinh trong ăn uống, không nói chuyện khi ăn, 
phải rửa mặt rửa tay trước khi ăn. 12
 Khi tổ chức giờ ngủ cho trẻ, tôi rèn cho trẻ kỹ năng biết giúp cô kê phản, 
chải chiếu biết tự mình lấy gối khi đi ngủ và cất gối đúng nơi quy định
 (Hình ảnh 14: Trẻ gấp chăn, xếp gối khi ngủ dậy)
 * Hoạt động chiều
 Vào các buổi chiều hàng tuần tôi dành 15 phút dạy trẻ một số kỹ năng 
mới, và ôn luyện một số kỹ năng cũ.
 Ví dụ: “Dạy trẻ kỹ năng rửa tay”. Ở lứa tuổi này, trẻ hoạt động liên tục 
trong ngày, trẻ thường xuyên tiếp xúc với đồ dùng và môi trường xung quanh, 
vô tình khiến tay trẻ bị bẩn. Vì vậy việc rửa tay thường xuyên sau khi hoạt động 
hay trước khi ăn là vô cùng cần thiết. Nhận thấy tầm quan trọng trên ngay từ đầu 
năm học tôi đã dạy trẻ kỹ năng rửa tay
 - Ngoài ra tôi còn hướng dẫn trẻ trong trường hợp không thể rửa tay trực 
tiếp bằng xà phòng với vòi nước xả, tôi hướng dẫn trẻ rửa tay bằng nước sát 
khuẩn khô. 
 (Hình ảnh 15: Trẻ rửa tay dưới vòi nước- rửa tay với dung dịch sát khuẩn)
 Tóm lại: Với phương pháp lồng ghép này, đã tạo cho các con giờ học 
thêm sinh động, hấp dẫn. Qua đó hình thành cho trẻ kỹ năng tự phục vụ từ đó trẻ 
hiểu được và có cách sống tự lập không phụ thuộc và ỷ lại vào người khác.
4.4.Biện pháp 4: Tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh dạy trẻ kỹ năng tự 
phục vụ.
 Việc hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi không chỉ
riêng bản thân giáo viên mà còn là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng của
các bậc cha mẹ và người chăm sóc trẻ. Gia đình là lớp học đầu tiên của con trẻ, 
bố mẹ là người thầy giáo đầu tiên của con, ở nhà “mẹ cũng là cô giáo”. Hiểu 
được tầm quan trọng đó nên tôi đã thường xuyên gặp gỡ và trao đổi với phụ 
huynh về tầm quan trọng của giáo dục rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ để phụ 
huynh nhận thức rõ hơn và kết hợp với giáo viên có biện pháp giáo dục.
 Qua buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh 
về tầm quan trọng của việc giáo dục cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân ở 
nhà và ở trường của trẻ. Việc trẻ có thể trở thành con người tự lập, tự tin trong 
cuộc sống là một điều vô cùng cần thiết. Qua đó, phụ huynh nhận thức ý nghĩa 
của vấn đề để cùng nhà trường cùng với cô giáo dục dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ.
Thông qua buổi trò chuyện tôi đã truyền tải đến các bậc phụ huynh với nội dung 
sau:
 + Phụ huynh phải là tấm gương để trẻ bắt chước và làm theo 13
 + Phụ huynh phải dành thời gian trò chuyện và hướng dẫn trẻ thực hiện 1 
số kỹ năng tự phục vụ như: Kỹ năng chăm sóc bản thân, kỹ năng vệ sinh, kỹ 
năng giúp đỡ người khác
 + Luôn phân công nhiệm vụ cho trẻ ở nhà, nhắc nhở trẻ cố gắng hoàn 
thành nhiệm vụ
 + Luôn khen ngợi động viên khuyến khích trẻ khi trẻ làm được một việc gì đó.
 + Tạo mọi cơ hội cho trẻ nhìn thấy việc làm và cách thức làm của mình, 
đồng thời nên giải thích cho bé về việc làm đó. Sau đó nên khuyến khích trẻ 
tham gia vào công việc phù hợp với khả năng. 
 Ví dụ: Giúp mẹ nhặt rau, lau dọn bàn ghế Trẻ được làm quen với những 
đồ dùng, vật dụng khác nhau (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ gọn 
gàng, một số thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ 
dùng cá nhân hay những đồ dùng, vật dụng trong gia đình... Tất cả những yếu tố 
trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành những kỹ năng tự phục vụ bản 
thân cho trẻ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này.
 - Tôi luôn sưu tập các loại tranh, ảnh các bài tuyên truyền về Kỹ năng tự 
phục vụ của bản thân để ở góc tuyên truyền cho các bậc phụ huynh cùng xem 
tham khảo.
 Ở lớp tôi vào giờ đón, trả trẻ tôi thường trao đổi với phụ huynh về tình 
hình của trẻ ở lớp đặc biệt là về kỹ năng tự phục vụ của trẻ để việc dạy trẻ kỹ 
năng tự phục vụ được tốt hơn tôi trao đổi với phụ huynh cùng cô nhắc nhở trẻ, 
cùng phân công công việc cho bé ở nhà cũng như ở lớp, để cho việc rèn kỹ năng 
tự phục vụ cho trẻ được tốt hơn.
 Ví dụ: Khi bố mẹ đi làm về hãy yêu cầu trẻ phụ giúp mẹ cất giày, dép lên 
giá. Cứ như vậy trẻ sẽ có thói quen hễ thấy mẹ về đến nhà là đòi cất giày dép 
cho mẹ, hoặc khi đi siêu thị hay đi chợ khi trẻ đi cùng hãy chia cho trẻ món đồ 
nhỏ để trẻ sách giúp, cần tập cho trẻ tập lặp đi lặp lại để trẻ hình thành thói quen. 
 (Hình ảnh 16: Cô giáo tuyên truyền, trao đổi với phụ huynh)
 Tóm lại: Việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 5 – 6 tuổi cần sự phối hợp 
giữa phụ huynh và giáo viên chặt chẽ và thường xuyên để trẻ được hoạt động 
mọi lúc mọi nơi thì việc rèn kỹ năng cho trẻ mới đạt kết quả cao.
5. Kết quả đạt được
 Qua một năm nghiên cứu và áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng 
rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trường mầm non tôi đã thu được 
kết quả như sau: 14
 * Khảo sát trẻ cuối năm: 28 trẻ
 Bảng khảo sát trẻ cuối năm (có so sánh đối chứng)
 So sánh đối 
 Đầu năm học Cuối năm học
 chiếu
TT Nội dung khảo sát 
 TL 
 SL SL TL (%) Tăng Giảm
 (%)
 9/28
 1 Kỹ năng rửa tay rửa mặt 19/28 68% 28 100%
 32%
 9/28
 2 Kỹ năng bê ghế, cất ghế 19/28 68% 28 100%
 32%
 10/28
 3 Kỹ năng lấy nước 18/28 64% 28 100%
 36%
 Kỹ năng cởi giày, đi giầy, 11/28
 4 17/28 61% 28 100%
 cất dép 39%
 12/28
 5 Kỹ năng kéo khoá 14/28 50% 26 93%
 43%
 Kỹ năng mặc áo, cởi áo (gấp 12/28
 6 14/28 50% 26 93%
 quần áo) 43%
 13/28
 7 Kỹ năng sử dụng kéo 15/28 54% 28 100%
 46%
 14/28
 8 Kỹ năng chải tóc 13/28 46% 27 96%
 50%
 C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
1. Kết luận.
 * Về phía giáo viên.
 - Bản thân tôi nắm rất chắc nội dung, phương pháp rèn kĩ năng tự phục vụ 
cho trẻ, nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 
nên việc rèn kĩ năng cho trẻ được thực hiện thường xuyên, liên tục, đạt hiệu quả 
cao, tôi thấy mình thêm tự tin và sáng tạo hơn.
 - Tạo được môi trường phong phú phù hợp với nội dung của từng chủ đề 
trong tháng và chủ đề sự kiện.
 - Có kỹ năng tổ chức lồng ghép các hoạt động dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ 
một cách tự tin, linh hoạt.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_ren_ky_nang_tu_phu.doc