SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực đọc-hiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ Văn 6 (GV: Nguyễn Thị Đảm - Trường THCS Thụy An - Năm học 2023-2024)
I. Đặt vấn đề
1. Tính cấp thiết tiến hành sáng kiến
Năm học 2021- 2022 là năm đầu tiên thực hiện chương trình SGK mới đối với cấp THCS trên cả nước. Ở bộ môn Ngữ văn, trường THCS Thụy An, Ba Vì, Hà Nội đã lựa chọn bộ sách Cánh diều. Trong quá trình tiếp cận và giảng dạy sách mới, tôi nhận thấy, đối với môn Ngữ văn, dạy học phát triển năng lực cần gắn liền với đặc trưng thể loại. Bởi thể loại là một trong những vấn đề cốt lõi của tác phẩm văn học, không có tác phẩm nào lại không thuộc về một thể loại nhất định. Thầy cô cần có căn cứ vào đặc trưng thể loại từng văn bản để đưa ra những cách thức tổ chức dạy học phát triển năng lực riêng.
Hơn nữa, thực tế đổi mới kiểm tra và đánh giá học sinh hiện nay cho thấy, dạy theo chương trình giáo dục phổ thông mới, học sinh được học văn bản trong chương trình nhưng khi tham gia kiểm tra đánh giá thì lại tiếp cận và giải quyết các vấn đề với văn bản tương đương nhưng ở ngoài chương trình. Vì vậy khi dạy học phần đọc hiểu văn bản, điều quan trọng là giáo viên cần định hướng học sinh nắm chắc kiến thức về thể loại, không tập trung khai thác sâu các giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản như cách dạy trước đây, chủ yếu hướng dẫn học sinh cách thức vận dụng kiến thức thể loại để đọc hiểu văn bản. Dạy học phần đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại sẽ giúp học sinh hiểu đúng về tác phẩm, ý đồ của tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm. Từ những tác phẩm cụ thể để áp dụng khai thác những tác phẩm ngoài chương trình.
Văn bản thông tin là một hình thức viết nhằm truyền đạt thông tin và kiến thức một cách chính xác và trung thực. Loại văn bản này rất phổ biến và hữu ích trong đời sống hàng ngày. Nó bao gồm nhiều thể loại khác nhau như: thông báo, chỉ dẫn, mô tả công việc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, lịch biểu, cơ sở dữ liệu, hợp đồng quảng cáo, các văn bản hành chính, từ điển và bản tin... Như vậy, có thể thấy, đây là một kiểu văn bản quan trọng và có ý nghĩa hữu ích trong đời sống của con người và là một thể loại được đưa vào dạy trong chương trình Ngữ văn cấp THCS. Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy, các tiết dạy văn bản thông tin theo tiến trình dạy học thông thường, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài học theo các hoạt động nhằm hình thành ở học sinh các đơn vị kiến thức cơ bản. Tuy nhiên việc khai thác và tìm hiểu các thông tin vẫn còn thiên về việc truyền thụ tri thức một chiều, đặc biệt chủ yếu định hướng học sinh chiếm lĩnh về mặt kiến thức mà chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp cách thức tổ chức, các phương tiện dạy học, các hướng đi của kiểu dạng bài văn bản thông tin.... Vì vậy, kết quả tổ chức dạy học chưa phát huy được hết năng lực phẩm chất của người học, đồng thời học sinh chưa có cái nhìn, định hướng đúng đắn với các bước khai thác và khám phá văn bản thông tin.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 6 với chương trình sách giáo khoa mới, bản thân tôi khi dạy học phần đọc - hiểu văn bản nói chung, dạy học các văn bản thông tin nói riêng tại nơi công tác, tôi nhận thức rõ giá trị quan trọng của việc tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại với phần đọc hiểu văn bản. Trăn trở về điều này, tôi đã xây dựng sáng kiến mang tên: "Một số giải pháp nâng cao năng lực đọc - hiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ văn 6”
2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến
- Xây dựng một số giải pháp giúp học sinh có kỹ năng đọc hiểu văn bản thông tin, từ đó hình thành các năng lực phẩm chất cho học sinh.
- Khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức dạy học các văn bản thông tin, nâng cao hứng thú và hiệu quả cho học sinh trong các tiết học này, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong hoạt động làm chủ và chiếm lĩnh tri thức.
- Hướng dẫn học sinh cách thức khai thác và khám phá văn bản thông tin thực sự có hiệu quả. Học sinh có thể vận dụng tri thức đọc hiểu với các văn bản trong chương trình để tiếp cận và giải quyết với các văn bản ở ngoài chương trình.
- Tăng thêm niềm đam mê hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, thực hiện mục tiêu tiết học, bài học, mục tiêu giáo dục.
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Thời gian: Trong năm học 2022-2023 và năm học 2023-2024.
- Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 6 trường THCS Thụy An
- Phạm vi: Nghiên cứu những giải pháp nâng cao năng lực đọc - hiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ văn 6 cho học sinh tại trường THCS Thụy An.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực đọc-hiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ Văn 6 (GV: Nguyễn Thị Đảm - Trường THCS Thụy An - Năm học 2023-2024)
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG THCS THỤY AN ---------- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 6 Tên tác giả : Nguyễn Thị Đảm Đơn vị công tác : Trường THCS Thụy An Chức vụ : Giáo viên Năm học: 2023 – 2024 1 I. Đặt vấn đề 1. Tính cấp thiết tiến hành sáng kiến Năm học 2021- 2022 là năm đầu tiên thực hiện chương trình SGK mới đối với cấp THCS trên cả nước. Ở bộ môn Ngữ văn, trường THCS Thụy An, Ba Vì, Hà Nội đã lựa chọn bộ sách Cánh diều. Trong quá trình tiếp cận và giảng dạy sách mới, tôi nhận thấy, đối với môn Ngữ văn, dạy học phát triển năng lực cần gắn liền với đặc trưng thể loại. Bởi thể loại là một trong những vấn đề cốt lõi của tác phẩm văn học, không có tác phẩm nào lại không thuộc về một thể loại nhất định. Thầy cô cần có căn cứ vào đặc trưng thể loại từng văn bản để đưa ra những cách thức tổ chức dạy học phát triển năng lực riêng. Hơn nữa, thực tế đổi mới kiểm tra và đánh giá học sinh hiện nay cho thấy, dạy theo chương trình giáo dục phổ thông mới, học sinh được học văn bản trong chương trình nhưng khi tham gia kiểm tra đánh giá thì lại tiếp cận và giải quyết các vấn đề với văn bản tương đương nhưng ở ngoài chương trình. Vì vậy khi dạy học phần đọc hiểu văn bản, điều quan trọng là giáo viên cần định hướng học sinh nắm chắc kiến thức về thể loại, không tập trung khai thác sâu các giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản như cách dạy trước đây, chủ yếu hướng dẫn học sinh cách thức vận dụng kiến thức thể loại để đọc hiểu văn bản. Dạy học phần đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại sẽ giúp học sinh hiểu đúng về tác phẩm, ý đồ của tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm. Từ những tác phẩm cụ thể để áp dụng khai thác những tác phẩm ngoài chương trình. Văn bản thông tin là một hình thức viết nhằm truyền đạt thông tin và kiến thức một cách chính xác và trung thực. Loại văn bản này rất phổ biến và hữu ích trong đời sống hàng ngày. Nó bao gồm nhiều thể loại khác nhau như: thông báo, chỉ dẫn, mô tả công việc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, lịch biểu, cơ sở dữ liệu, hợp đồng quảng cáo, các văn bản hành chính, từ điển và bản tin... Như vậy, có thể thấy, đây là một kiểu văn bản quan trọng và có ý nghĩa hữu ích trong đời sống của con người và là một thể loại được đưa vào dạy trong chương trình Ngữ văn cấp THCS. Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy, các tiết dạy văn bản thông tin theo tiến trình dạy học thông thường, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài học theo các hoạt động nhằm hình thành ở học sinh các đơn vị kiến thức cơ bản. Tuy nhiên việc khai thác và tìm hiểu các thông tin vẫn còn thiên về việc truyền thụ tri thức một chiều, đặc biệt chủ yếu định hướng học sinh chiếm lĩnh về mặt kiến thức mà chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp cách thức tổ chức, các phương tiện dạy học, các hướng đi của kiểu dạng bài văn bản thông tin.... Vì vậy, kết quả tổ chức dạy học chưa phát huy được hết năng lực phẩm chất của người học, đồng thời học sinh chưa có cái nhìn, định hướng đúng đắn với các bước khai thác và khám phá văn bản thông tin. 2 Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 6 với chương trình sách giáo khoa mới, bản thân tôi khi dạy học phần đọc - hiểu văn bản nói chung, dạy học các văn bản thông tin nói riêng tại nơi công tác, tôi nhận thức rõ giá trị quan trọng của việc tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại với phần đọc hiểu văn bản. Trăn trở về điều này, tôi đã xây dựng sáng kiến mang tên: "Một số giải pháp nâng cao năng lực đọc - hiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ văn 6” 2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến - Xây dựng một số giải pháp giúp học sinh có kỹ năng đọc hiểu văn bản thông tin, từ đó hình thành các năng lực phẩm chất cho học sinh. - Khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức dạy học các văn bản thông tin, nâng cao hứng thú và hiệu quả cho học sinh trong các tiết học này, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong hoạt động làm chủ và chiếm lĩnh tri thức. - Hướng dẫn học sinh cách thức khai thác và khám phá văn bản thông tin thực sự có hiệu quả. Học sinh có thể vận dụng tri thức đọc hiểu với các văn bản trong chương trình để tiếp cận và giải quyết với các văn bản ở ngoài chương trình. - Tăng thêm niềm đam mê hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, thực hiện mục tiêu tiết học, bài học, mục tiêu giáo dục. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. - Thời gian: Trong năm học 2022-2023 và năm học 2023-2024. - Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 6 trường THCS Thụy An - Phạm vi: Nghiên cứu những giải pháp nâng cao năng lực đọc - hiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ văn 6 cho học sinh tại trường THCS Thụy An. 3 II. Nội dung của sáng kiến 1. Hiện trạng vấn đề Dạy học ngữ văn theo thể loại và kiểu văn bản không có gì mới. Các chương trình trước 2006 dạy văn theo thể loại và kiểu văn bản nhưng theo cách bình văn, giảng văn, phân tích tác phẩm. Từ chương trình 2006 và đặc biệt là chương trình 2018 vẫn dạy theo thể loại và kiểu văn bản nhưng là đọc hiểu văn bản. Sự khác nhau căn bản của cách dạy theo lối giảng văn, bình văn so với đọc hiểu văn bản là: Một đằng thầy cô giảng cho học sinh nghe về cái hay, cái đẹp của tác phẩm theo hiểu biết và cảm nhận của người dạy. Còn đọc hiểu là giáo viên tổ chức các hoạt động để học sinh tự tìm ra cái hay, cái đẹp của văn bản, tác phẩm theo cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm của các em. Tức là chú ý kết quả tiếp nhận của từng người đọc; cá thể hóa và đa dạng hóa cách hiểu một văn bản theo yêu cầu của lý thuyết tiếp nhận và dạy học hiện đại. Về phía giáo viên: Tâm lý dạy học theo hướng truyền thụ tri thức một chiều ăn sâu vào lối mòn trong giảng dạy của giáo viên. Giáo viên mang nặng tâm lý sợ học sinh không hiểu bài nên phân tích, bình giảng nhiều. Khai thác chủ yếu về mặt nội dung, nghệ thuật của văn bản. Phương pháp và cách thức tổ chức tiết dạy, bài dạy chưa thu hút được học sinh, chưa tạo được bầu không khí sôi nổi trong lớp học và phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Về phía học sinh: Học sinh chưa có sự chuẩn bị bài kỹ lưỡng, chưa khai thác và tối ưu hóa các thông tin trong SGK, chưa có kỹ năng khám phá văn bản thông tin. Khi giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh còn thụ động, chưa tích cực, chủ động, sáng tạo, trao đổi, thảo luận để tìm ra hướng đi cho hệ thống tri thức cần khám phá. Năng lực giao tiếp, kỹ năng phản hồi thông tin chưa tốt. 2. Giải pháp nâng cao năng lực đọc - hiểu kiểu văn bản thông tin ở chương trình Ngữ văn 6 Giải pháp 1: Định hướng cách thức khai thác các văn bản thông tin bám sát đặc trưng thể loại * Cách thức thực hiện: - Thứ nhất: Xác định mục đích viết văn bản, đối tượng của văn bản, ý nghĩa nhan đề của văn bản thông tin. - Thứ hai: Hướng dẫn học sinh cách tóm tắt thông tin, nhận xét cách triển khai thông tin. - Thứ ba: Nêu hiệu quả và tác động của thông tin - Thứ tư: Chỉ ra thông điệp của văn bản thông tin. Ví dụ: Khi dạy văn bản “Diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ”, giáo viên hướng dẫn học sinh hoạt động cặp đôi để xác định các thông tin sau đây của văn 4 bản (Nhan đề, Sapo). Từ định hướng về thông tin ấy, học sinh có thể dễ dàng tiếp cận và khai thác văn bản. * Hiệu quả: Học sinh biết cách khai thác văn bản thông tin theo những định hướng trên, đặc biệt là biết sử dụng các định hướng trên để khai thác các văn bản thông tin ngoài sách giáo khoa. Học sinh làm chủ tiết học, bài học, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách thức chuẩn bị bài sáng tạo và kết nối, mở rộng với các văn bản thông tin ngoài sách giáo khoa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả các thông tin trong sách giáo khoa * Cách thức thực hiện Thứ nhất, hướng dẫn học sinh cách chuẩn bị bài sáng tạo Để thực hiện tốt việc chiếm lĩnh trí thức ở trên lớp thì khâu chuẩn bị bài được coi là yếu tố then chốt, quan trọng. Vậy định hướng học sinh chuẩn bị bài như thế nào để hiệu quả? Hướng dẫn học sinh bám sát các câu hỏi trong sách giáo khoa để khai thác, tìm hiểu về nội dung các văn bản thông tin. Đọc kỹ hệ thống văn bản, sử dụng có hiệu quả các chiến lược đọc như: đọc liên hệ kết nối, đọc và đặt câu hỏi, đọc suy luận, đọc và tóm tắt ý chính... Khi học sinh có kỹ năng đọc, chắc chắn các em sẽ có cách tiếp cận văn bản dễ dàng hơn. Chuẩn bị bài theo sự hướng dẫn của giáo viên. Ở phần này, Giáo viên sẽ xây dựng hệ thống câu hỏi nhiệm vụ để học sinh chuẩn bị bài có hiệu quả theo định hướng riêng, bán sắt định hướng khai thác văn bản ở trên lớp học với việc chuẩn bị bài ở nhà. Hướng dẫn học sinh cách thức sử dụng internet, các trang mạng xã hội để khai thác và tìm hiểu các thông tin về văn bản trong quá trình chuẩn bị bài. Học 5 sinh có thể tự nghiên cứu, tìm hiểu trước, sau đó tham khảo các thông tin để bổ sung và kiểm chứng cách suy nghĩ, cách tìm hiểu của mình. Hướng dẫn học sinh cách thức chuẩn bị vở chuẩn bị bài sáng tạo: Có thể sử dụng thẻ thông tin, sổ tay Ngữ văn để lưu trữ các thông tin quan trọng trên lớp và trong quá trình chuẩn bị bài. Trình bày vở sáng tạo theo hệ thống sơ đồ hay theo các mảng tri thức quan trọng, tạo sự hấp dẫn, kích thích tư duy và sáng tạo ở học sinh. Thứ hai là mở rộng kết nối với các văn bản thông tin ngoài SGK Việc liên hệ kết nối với các văn bản thông tin ngoài SGK có vai trò vô cùng quan trọng nhằm mục đích kiểm chứng lại hệ thống tri thức đã được học theo đặc trưng thể loại văn bản, giúp học sinh chủ động và sáng tạo hơn trong quá trình tiếp nhận văn bản, học sinh có thể chủ động để khai thác hệ thống tri thức trong văn bản bằng việc áp dụng hệ thống lý thuyết đã được sử dụng để khai thác các văn bản thông tin trong chương trình. Vậy liên hệ kết nối với các văn bản thông tin ngoài SGK bằng cách nào? Liên hệ, kết nối trong quá trình tổ chức dạy học. Giáo viên có thể lấy ví dụ để học sinh so sánh, đối chiếu với các văn bản thông tin trong SGK và các văn bản ngoài SGK để kiểm chứng hệ thống tri thức mà các em đang chiếm lĩnh. Liên hệ kết nối bằng cách giao các nhiệm vụ học tập về nhà cho học sinh theo phương pháp dự án, để từ đó các em sẽ tìm hiểu khai thác các văn bản thông tin ngoài SGK. Liên hệ kết nối thông qua khâu kiểm tra đánh giá, giáo viên có thể xây dựng đề kiểm tra đánh giá với việc sử dụng văn bản thông tin ngoài SGK và đưa ra các câu hỏi, nhiệm vụ để học sinh khai thác các văn bản thông tin này. Để có thể thực hiện tốt việc khai thác các văn bản thông tin trong đề kiểm tra, bắt buộc học sinh phải vận dụng hệ thống tri thức đã học đối với các văn bản thông tin trong SGK. Thứ ba, hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng có hiệu quả các thông tin trong SGK. Điểm mới của chương trình SGK môn Ngữ văn 2018 đó là ngay trong các nội dung ở SGK, đã có những định hướng quan trọng giúp học sinh có thể khai thác thông tin về văn bản theo đặc trưng thể loại. Vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách thức khai thác các văn bản này bằng cách: Bám sát các thông tin trong SGK. Các thông tin này được coi là kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Khai thác các thông tin trong phần yêu cầu cần đạt. Phần này sẽ định hướng học sinh những yêu cầu cần đạt trong quá trình khai thác khám phá văn bản. Khai thác các thông tin trong phần tri thức ngữ văn. Phần tri thức ngữ văn khá là quan trọng, nó đã đưa ra những khái niệm, những thông tin hữu ích về kiểu loại văn bản. 6 Trong mỗi văn bản hãy quan sát nhan đề của văn bản, trích dẫn, quyển sách hệ thống câu hỏi và các phần chỉ dẫn màu xanh, phần chú thích ở dưới chân mỗi trang. Đây là những thông tin quan trọng gợi dẫn nội dung của bài học. Bám sát các câu hỏi trong SGK, thực hiện tốt khâu kết nối đọc với viết. Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ”, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo định hướng của giáo viên như sau: (Hệ thống câu hỏi, nhiệm vụ trong phiếu học tập sẽ bám sát nội dung mà giáo viên dẫn dắt học sinh khai thác, khám phá trong quá trình học trên lớp. Học sinh sẽ thấy được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa việc chuẩn bị bài ở nhà và việc chuẩn bị bài trên lớp) PHIẾU CHUẨN BỊ BÀI “DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ” 1. Giới thiệu về xuất xứ, thể loại, đối tượng, phương thức biểu đạt. 2. Xác định nhan đề, Sapo, thông tin chính 3. Cách trình bày thông tin chính 4. Nội dung của văn bản 5. Đặc sắc nghệ thuật trong văn bản thông tin Ví dụ 2: Sau khi học sinh khai thác văn bản thông tin, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà khai thác và tìm hiểu về văn bản thông tin ngoài sách giáo khoa như: Tranh Đông Hồ - Nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam. Học sinh sẽ sử dụng hệ thống kiến thức, nhiệm vụ trong phần tri thức Ngữ văn khi học văn bản thông tin đề khai thác nhan đề, đề tài, tóm tắt văn bản, mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản, tì hiểu thông điệp và đặc sắc nghệ thuật trong văn bản. Ví dụ 3: Khi dạy văn bản “Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập”, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khai thác các thông tin trong SGK như sau: 7 Kết quả - Về khâu chuẩn bị bài của học sinh: 98% học sinh chuẩn bị bài đầy đủ, kỹ lưỡng và có hiệu quả, cách thức khai thác hệ thống câu hỏi, nhiệm vụ, khai thác văn bản khá sáng tạo, cách trình bày vở chuẩn bị bài hấp dẫn, thu hút, khoa học, thể hiện niềm đam mê, sáng tạo của các em. Khi chuẩn bị bài kỹ lưỡng, học sinh rất hăng hái tham gia phát biểu xây dựng bài. - Về việc mở rộng, kết nối với văn bản thông tin ngoài SGK: Học sinh đã biết vận dụng tri thức nền với kiểu bài văn bản thông tin vào trong quá trình khám phá các văn bản ngoài chương trình. Trong bài kiểm tra, khi sử dụng văn bản thông tin ngoài chương trình, kết quả thu về 90% học sinh khai thác được các nhiệm vụ, câu hỏi ở mức độ khá trở lên. - Học sinh biết cách khai thác thông tin trong sách giáo khoa để khám phá văn bản. Giải pháp 3: Tối ưu hoá vai trò của mỗi cá nhân và vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực. * Cách thức thực hiện Thứ nhất, tối ưu hóa vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình khám phá các văn bản thông tin. Để thực hiện tốt quá trình chiếm lĩnh tri thức của học sinh ở trên lớp, giáo viên cần biết cách tối ưu hóa vai trò của mỗi cá nhân. Một là: Tối ưu hóa vai trò của mỗi cá nhân bằng cách đa dạng trong hệ thống câu hỏi nhiệm vụ. Các câu hỏi, nhiệm vụ cần đảm bảo bao phủ được tất cả đối tượng trong lớp học, từ học sinh giỏi cho đến những em học sinh có năng lực ở mức độ trung bình khá. Vì vậy, khi xây dựng hệ thống câu hỏi Tôi thường đưa ra ba mức độ khác nhau: nhận biết, không hiểu, vận dụng. Mỗi mức độ câu hỏi sẽ phù hợp với một đối tượng học sinh. Hai là: Ra nhiệm vụ phù hợp với năng lực của học sinh. Không thể bắt một em học sinh có năng lực ở mức độ trung bình và khá trả lời những câu hỏi ở 8 mức độ vận dụng cao. Điều này sẽ dẫn đến tâm lý chán nản, không tự tin vào bản thân của các em. Việc trao nhiệm vụ phù hợp với năng lực sẽ kích thích tư duy, sự sáng tạo, niềm tin ở các em. Ba là: Biết lắng nghe, hỗ trợ kịp thời từng đối tượng học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Tạo điều kiện, cơ hội để học sinh được thể hiện năng lực của bản thân. Bốn là: Tăng cường tổ chức các hoạt động tương tác đa chiều trong lớp học, đó là sự tương tác giữa người học với người học, người học với người dạy. Tạo sự tương tác thông qua các nhiệm vụ học tập, thậm chí thông qua ngôn ngữ cơ thể như ánh mắt, cử chỉ tay, lời nói, lời động viên khích lệ. Năm là: Khích lệ học sinh mạnh dạn đặt câu hỏi, mạnh dạn trao đổi, đối chất hệ thống tri thức trong bài học. Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn độc lập”, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động cặp đôi để chia sẻ ý kiến:Tờ lịch sau đây nhắc đến sự kiện lịch sử nào? Lập sơ đồ Ven để so sánh điểm giống và khác nhau trong cách trình bày thông tin ở tờ lịch này và văn bản “Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập” ? Khi học sinh hoạt động cặp đôi, các em sẽ phải bày tỏ, chia sẻ ý kiến cá nhân. Từ việc bày tỏ, chia sẻ ý kiến cá nhân, học sinh sẽ được thể hiện và tối ưu hóa vai trò của mình trong nhóm. Khi học sinh được báo cáo và chia sẻ sản phẩm trước lớp, học sinh được tối ưu hóa vai trò của mình trước lớp với kỹ năng báo cáo, thuyết trình kỹ năng lắng nghe và phản biện. - Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Phạm Tuyên và ca khúc mừng chiến thắng”, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm bàn để hoàn thành phiếu học tập. 9 Thứ hai, Vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực. Các phương pháp dạy học tích cực được coi là kim chỉ nam dẫn đường chỉ lối trong quá trình đổi mới chương trình môn Ngữ văn 2018. Phương pháp dạy học tích cực khá phong phú và đa dạng, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình khai thác các văn bản thông tin rất quan trọng, nó được coi là nền tảng để học sinh có thể tiếp cận với hệ thống tri thức của bài học. Tuy nhiên việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực cũng cần phải đảm bảo một số những lưu ý như: Đảm bảo đặc trưng của từng phương pháp dạy học. Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, không có một phương pháp nào mang tính chất tối ưu, khi sử dụng phương pháp dạy học tích cực, giáo viên cần xác định đâu là phương pháp trọng tâm chủ yếu, các phương pháp hỗ trợ, đảm bảo tuân thủ các bước tổ chức thực hiện của phương pháp dạy học tích cực trọng tâm đó. Lựa chọn phương pháp dạy học tích cực cần phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với mục tiêu tiết học, bài học, mục tiêu giáo dục, phù hợp với thời gian và không gian lớp học. Luôn luôn sáng tạo trong quá trình vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, không nên sử dụng thường xuyên một phương pháp sẽ gây cảm giác nhàm chán cho các em. Tăng cường sử dụng các phương pháp đòi hỏi sự sáng tạo và làm việc chủ động của học sinh như phương pháp dự án, tăng cường sử dụng phương pháp liên hệ thực tế để tạo sự kết nối giữa bài học với thực tiễn cuộc sống của các em. Trong quá trình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, cần kiểm tra đánh giá hiệu quả của từng phương pháp để xây dựng kế hoạch áp dụng trong những lần tiếp theo. 2.3.2. Ví dụ minh họa Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ”, ở hoạt động mở đầu, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan khoa học bằng 10 cách cho học sinh xem bộ phim Điện Biên Phủ trên không để học sinh thấy được sự khốc liệt của chiến tranh và sự anh dũng, hào hùng của quân đội ta, niềm tự hào của người dân Việt từ đó giáo viên tạo tình huống dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng”, ở hoạt động mở đầu, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trò chơi với trò chơi ô chữ. Học sinh trả lời các ô chữ hàng ngang, sau đó tìm ra ô chữ hàng dọc chính là từ khóa của tiết học, đó là từ “Bóng đá”. Từ đó, giáo viên tạo tình huống dẫn dắt vào bài. Ví dụ 3: Khi dạy văn bản “Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng”, ở hoạt động hình thành kiến thức, giáo viên có thể sử dụng kỹ thuật mảnh ghép để xác định nguyên nhân bóng đá Việt Nam thống trị Đông Nam Á để tạo thành bông hoa với 2 vòng. Vòng 1 chuyên gia và vòng 2 mảnh ghép như sau: Ví dụ 4: Khi dạy văn bản “Phạm Tuyên và ca khúc mừng chiến thắng”, ở hoạt động hình thành kiến thức, giáo viên có thể sử dụng kỹ thuật Think- Pair-Share để học sinh thảo luận, chia sẻ ý kiến nhằm xác định Những biểu hiện nào cho thấy bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng” có số phận đặc biệt? Câu nói của Phạm Tuyên ở cuối bài nhằm khẳng định điều gì? 11 Ví dụ 5: Khi dạy văn bản “Những phát minh tình cờ và bất ngờ”, ở hoạt động hình thành kiến thức, với phần nội dung các phát minh, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động nhóm theo kỹ thuật công đoạn để hoàn thành phiếu học tập sau. Vòng 1 các nhóm làm việc độc lập. Vòng 2 các nhóm trao đổi chéo sản phẩm để nhận xét, đánh giá chéo sản phẩm nhóm bạn. * Kết quả Khi giáo viên biết cách tối ưu hóa vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình khám phá văn bản thông tin. Học sinh rất hăng hái tham gia các hoạt động, nhiệm vụ học tập. Tăng cường sự kết nối giữa người dạy với người học, người học với người học. Trong mỗi tiết học, bài học, tỷ lệ giơ tay phát biểu xây dựng bài khoảng 40%. Các em mạnh dạn tự tin chia sẻ ý kiến, đặt câu hỏi chất vấn, tranh biện để khám phá văn bản. Giáo viên đã vận dụng linh hoạt, phong phú một số phương pháp dạy học tích cực trong quá trình khai thác các văn bản thông tin như: phương pháp trò chơi, kỹ thuật khăn trải bàn, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề sáng tạo, phương pháp trực quan, kỹ thuật Think- Pair - Share; phương pháp liên hệ thực tế, phương pháp dự án, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật chia nhóm... Các tiết học, bài học sôi nổi hấp dẫn, thu hút 100% học sinh tham gia. 12 Giải pháp 4: Dạy học các văn bản thông tin bằng cách kết nối không gian trong và ngoài lớp học, ứng dụng chuyển đổi số trong dạy học * Cách thức thực hiện Một là, Dạy học các văn bản thông tin bằng cách kết nối không gian trong và ngoài lớp học Quá trình học tập của học sinh được thực hiện trong không gian trên lớp học và với không gian ngoài lớp học. Với không gian trong lớp học, giáo viên có thể thực hiện hoạt động kết nối giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên thông qua các nhiệm vụ học tập. Thậm chí, giáo viên có thể sử dụng cách kết nối trực tuyến ngay trong không gian lớp học để thực hiện hoạt động tìm kiếm thông tin, kiểm tra đánh giá hoạt động học của học sinh bằng các ứng dụng như pallet, Zalo, FacebookHọc sinh có thể sử dụng điện thoại thông minh, máy tính để thực hiện nhiệm vụ kết nối này. Với không gian ngoài lớp học, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ bằng cách kết nối internet, kết nối với các trang mạng xã hội để tìm kiếm thông tin, để tham gia vào các hội nhóm, thực hiện hoạt động trao đổi chia sẻ thông tin. Các em có thể được nhận xét đánh giá, học hỏi tri thức của hàng triệu thành viên trên khắp mọi miền tổ quốc. Hệ thống tri thức được hình thành trong quá trình tìm kiếm thông tin này được ghi nhớ và khắc sâu lâu hơn. Hai là, Ứng dụng chuyển đổi số trong dạy học. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển đòi hỏi giáo dục cũng phải bắt nhịp với xu thế phát triển của thời đại. Ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình dạy học được thực hiện với hai đối tượng đó là: Với giáo viên: Giáo viên có thể ứng dụng chuyển đổi số để thực hiện các nhiệm vụ cơ bản: Trong quá trình tìm kiếm thông tin, dữ liệu trên các trang mạng internet, trong kho dữ liệu môn học của Bộ Giáo dục; tham gia các hội nhóm, kết nối với các giáo viên trong cả nước để cùng trao đổi học hỏi. Ứng dụng trong việc thiết kế bài học, tổ chức các hoạt động học cho học sinh (Thiết kế trò chơi, video, các nhiệm vụ học tập). Trong việc kết nối, trao đổi thông tin với phụ huynh học sinh, với học sinh để giao nhiệm vụ học tập, phản ánh kết quả học tập với phụ huynh. Ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình kiểm tra đánh giá học sinh bằng việc sử dụng một số phần mềm như Azota, Zoom, Meet, Quizizz Với học sinh: Giáo viên có thể hướng dẫn các em ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình học tập như sau: Khai thác và tìm kiếm các thông tin, dữ liệu trên các trang mạng, kết nối các thành viên trong và ngoài lớp học. Tham gia học tập trực tuyến trên YouTube hoặc các lớp học trực tuyến do các giáo viên trong cả nước xây dựng và tổ chức. Ứng dụng chuyển đổi số để thiết kế các sản phẩm học tập, trao đổi và đánh giá sản phẩm học tập 13 Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Những phát minh tình cờ và bất ngờ”, ở hoạt động hình thành kiến thức, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trò chơi với trò chơi “Tập làm phóng viên”. Giáo viên cử 1 học sinh làm phóng viên và đi phỏng vấn các thành viên trong lớp với câu hỏi: Theo bạn, tại sao gọi 4 phát minh trên là nnhuwngx phát minh tình cờ và bất ngờ (Với trò chơi này, giáo viên đã kết nối các thành viên trong lớp học, các em được trao đổi, chia sẻ ý kiến cá nhân về một trong những vấn đề quan tâm của xã hội) Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng”, ở hoạt động luyện tập, giáo viên có thể ứng dụng công nghệ 4.0 để thiết kế trò chơi. Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi “Em tập làm thủ môn” để củng cố hệ thống kiến thức trong cả bài học. * Kết quả: Cả giáo viên và học sinh đều hiểu rõ vai trò của việc kết nối không gian trong và ngoài lớp học. Việc kết nối không gian trong và ngoài lớp học được thực hiện linh hoạt, hiệu quả, tạo niềm đam mê hưởng thụ cho học sinh, tạo động lực cho giáo viên trong quá trình tổ chức dạy học. Giáo viên và học sinh đã biết cách ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình thiết kế tổ chức dạy học, trong hoạt động làm chủ và chiếm lĩnh tri thức. Các tiết 14 dạy bài dạy đã được ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế hệ thống video, trò chơi, tổ chức các hoạt động dạy học. Học sinh đã biết ứng dụng chuyển đổi số trong việc tìm kiếm, khai thác các thông tin, trao đổi các thông tin trên mạng internet, thiết kế sản phẩm học tập phong phú và đa dạng. Giải pháp 5: Đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá học sinh khi khám phá các văn thông tin * Cách thức thực hiện Trong quá trình tổ chức dạy học văn bản thông tin, giáo viên có thể thực hiện các hoạt động kiểm tra đánh giá phong phú và đa dạng như sau: Kiểm tra đánh giá sản phẩm hoạt động học của học sinh. Giáo viên có thể kiểm tra đánh giá việc chuẩn bị bài bằng cách: kiểm tra đánh giá chéo giữa các thành viên trong nhóm học, lớp học. Xây dựng một số tiêu chí kiểm tra đánh giá. Học sinh kiểm tra đánh giá học sinh, giáo viên kiểm tra đánh giá học sinh, phụ huynh học sinh tham gia vào quá trình kiểm tra đánh giá học sinh. Hình thức và công cụ kiểm tra đánh giá có thể thay đổi linh hoạt như: với hình thức kiểm tra đánh giá, có thể kiểm tra đánh giá thường xuyên, kiểm tra đánh giá định kỳ, kiểm tra đánh giá tổng kết. Sử dụng các công cụ kiểm tra đánh giá như: sử dụng điểm số, đánh giá bằng lời nhận xét, sử dụng hệ thống bảng kiểm để tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh. Trong quá trình kiểm tra đánh giá, cần tăng cường sử dụng các phương pháp động viên khích lệ học sinh. Kiểm tra việc nắm bắt hệ thống tri thức phải học của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, thông qua các đề kiểm tra đánh giá. Với việc xây dựng đề kiểm tra đánh giá, giáo viên cần chú trọng đến việc sử dụng các ngữ liệu ngoài chương trình, xây dựng các câu hỏi nhiệm vụ bám sát đặc trưng thể loại để học sinh có thể vận dụng hệ thống kiến thức bài học theo đặc trưng thể loại văn bản thông tin đã khám phá ở trên lớp để giải quyết các yêu cầu nhiệm vụ trong đề kiểm tra đánh giá với các văn bản thông tin ngoài SGK. Ví dụ: Khi dạy văn bản “Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn độc lập”, ở hoạt động hình thành kiến thức, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm theo kỹ thuật khăn trải bàn để tìm hiểu về cách triển khai thông tin trong văn bản với phiếu học tập sau: 15 Sau khi học sinh hoàn thành sản phẩm hoạt động nhóm, để kiểm tra, đánh giá sản phẩm hoạt động nhóm, giao viên hướng dẫn học sinh sử dụng kỹ thuật 1-3- 2-1 để đánh giá, nhận xét sannr phẩm nhóm bạn như: * Kết quả - Giáo viên đa dạng hóa trong cách thức kiểm tra đánh giá, đảm bảo 100% học sinh được kiểm tra đánh giá. Kết quả kiểm tra đánh giá cho thấy: trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, 90% học sinh tham gia thực hiện nhiệm vụ, 50% học sinh tham gia thực hiện nhiệm vụ ở mức độ tốt, số còn lại học sinh thực hiện nhiệm vụ ở mức độ khá. - Kết quả bài kiểm tra đánh giá, 30% học sinh đạt mức độ tốt, 50% học sinh đạt mức độ khá, 20% học sinh ở mức đạt. - Hình thức kiểm tra đánh giá phong phú đa dạng. Học sinh không còn tâm lý căng thẳng, sợ hãi khi bị kiểm tra đánh giá. 16 Giải pháp 6: Dạy học các văn bản thông tin theo hướng tích hợp đa chiều * Cách thức thực hiện Thứ nhất, Tích hợp theo chiều ngang (Phần thực hành tiếng Việt, viết, nói và nghe) Chương trình SGK môn Ngữ văn 2018 có một điểm quan trọng đó là: hệ thống kiến thức phần đọc hiểu văn bản thường có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với phần thực hành tiếng Việt, viết, nói và nghe. Vì vậy, trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên cần lưu ý tới việc tích hợp ngang các kiểu dạng bài này trong cùng một chủ đề. Với phần thực hành tiếng Việt, giáo viên có thể sử dụng các dữ liệu thông tin trong phần đọc hiểu văn bản để xây dựng ví dụ cho học sinh khai thác và tìm hiểu hệ thống tri thức phần thực hành tiếng Việt. Phần viết thường được kết nối với thể loại văn bản mà ở phần đọc hiểu văn bản đã thực hiện. Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh thực hiện phần viết này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách sử dụng hệ thống tri thức nền đã chiếm lĩnh được ở phần đọc hiểu văn bản để phục vụ cho phần viết. Phần nói và nghe thường được sử dụng kết quả của phần viết. Vì vậy, việc chuẩn bị phần viết tốt sẽ tạo điều kiện để học sinh có thể thực hiện phần nói và nghe tốt. Sau khi học sinh thực hiện nhiệm vụ nói và nghe, hay thực hiện nhiệm vụ phần viết, phần tiếng Việt, giáo viên nên có các câu hỏi để củng cố khắc sâu, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa phần đọc hiểu văn bản với ba phần này. Thứ hai, Tích hợp liên môn: Khi dạy học phần đọc hiểu văn bản thông tin, giáo viên có thể sử dụng tích hợp lên môn với các phân môn khác như lịch sử, địa lý, các môn khoa học tự nhiên, âm nhạc và mỹ thuật. Tuy nhiên việc sử dụng thích hợp nên môn cần phải đảm bảo những yếu tố cơ bản sau đây: Chỉ tích hợp khi thực sự cần thiết, lựa chọn hệ thống đơn vị kiến thức và môn học phù hợp. Tích hợp ở dạng một phần, không thích hợp ở dạng toàn phần để đảm bảo đặc trưng của thể loại văn bản thông tin. Xây dựng cách thức tích hợp linh hoạt, phong phú, tránh khiên cưỡng. Ví dụ: Sau khi dạy văn bản thông tin “Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn độc lập”, giáo viên có thể tích hợp nội dung văn bản với phần nói và nghe “Trao đổi, thảo luận về ý nghĩa của một sự kiến lịch sử”. Khi xác định vấn đề trao đổi, thảo luận, học sinh có thể lựa chọn sự kiện lịch sử đó là Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập trên quảng trường Ba Đình để học sinh trao đổi, thảo luận (Vừa tích hợp theo chiều ngang, vừa tích hợp với môn Lịch sử) 17 * Kết quả - Giáo viên và học sinh đã có những định hướng tích hợp theo chiều ngang và thích hợp nên môn hiệu quả trong quá trình khai thác và khám phá các văn bản thông tin. - Củng cố khắc sâu thêm hệ thống tri thức phần văn bản thông tin đã được tìm hiểu ở trong các văn bản SGK. Giải pháp 7: Sáng tạo trong cách thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các văn bản thông tin * Cách thức thực hiện: Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh giáo viên có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau. Thứ nhất là hoạt động trải nghiệm trong tiết học. Với nhiệm vụ này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh trải nghiệm bằng cách đọc văn bản với việc sử dụng các chiến lược đọc khác nhau, sử dụng các video, hình ảnh, hình thức sân khấu hóa, tạo tình huống để học sinh giải quyết tình huống, thông qua hình thức mỹ thuật hóa tri thức, thông qua các câu hỏi, nhiệm vụ. Với hình thức trải nghiệm này, học sinh được trực tiếp là người khai thác và khám phá hệ thống thông tin trong văn bản. Thứ hai là hoạt động trải nghiệm ngoài tiết học khá phong phú và đa dạng. Giáo viên có thể sao các dự án học tập theo hướng mở cho học sinh tham gia vào thực hiện. Với các dự án học tập theo hướng mở này, học sinh được trực tiếp tham gia các hoạt động hữu ích, vận dụng hệ thống kiến thức đã học trong văn bản thông tin ở trong chương trình để giải quyết các tình huống ở ngoài thực tiễn cuộc sống. Ví dụ: Khi dạy văn bản “Những phát minh tình cờ và bất ngờ”, giáo viên có thể cho học sinh trải nghiệm với trò chơi “Phát minh thú vị” ở hoạt động luyện tập với các câu hỏi củng cố hệ thống kiến thức bài học. 18 *Kết quả : Học sinh tích cực, chủ động và sáng tạo tham gia các hoạt động trải nghiệm trong và ngoài lớp học. Hình thức trải nghiệm trong mỗi tiết học bài học khá là phong phú và đa dạng 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị 3.1 Kết quả khảo sát hiểu biết, thái độ của học sinh Trước Chưa Câu hỏi khảo sát và sau Tốt Khá Đạt đạt khi TĐ 1. Mức độ chuẩn bị bài của Trước 15 23 29 11 các em trước khi khám phá các văn bản thông tin trong Sau 18 26 27 7 sách giáo khoa. 2. Các em đã biết khai thác Trước 9 18 38 13 các thông tin trong sách giáo khoa để phục vụ cho quá Sau 15 26 29 8 trình chuẩn bị bài. 3. Các em đã biết ứng dụng Trước 12 20 39 7 công nghệ 4.0 khi khai thác và khám phá hệ thống tri thức bài học trong các văn bản Sau 20 28 26 4 thông tin. 4. Các em nắm được cách Trước 10 16 35 10 thức khai thác, khám phá văn bản thông tin. Sau 19 25 28 6 5. Các em biết kết nối hệ Trước 8 25 33 12 thống tri thức bài học với các Sau 16 29 26 7 văn bản cùng thể loại ngoài sách giáo khoa. 19 6. Tích cực, chủ động, sáng Trước 12 18 35 13 tạo trong hoạt động làm chủ Sau 17 29 24 8 và chiếm lĩnh tri thức. 7. Biết cách kết nối, hợp tác, Trước 11 24 31 12 trao đổi, chia sẻ với các thành viên trong nhóm học, lớp Sau 16 30 26 6 học. 3.2. Kết quả thông qua con số, số liệu cụ thể * Kết quả khảo sát trước khi vận dụng giải pháp với tiết dạy “Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng”, tôi đã sử dụng 1 bài kiểm tra 45 phút để kiểm tra hiểu biết của học sinh về văn bản, kết quả kiểm tra như sau. (Lớp thực nghiệm là lớp áp dụng những giải pháp trong sáng kiến, lớp đối chứng là lớp dạy theo hướng truyền thống, không áp dụng những giải pháp trong sáng kiến) Chưa Câu hỏi khảo sát Tốt Khá Đạt đạt Lớp thực nghiệm (6E= 39 HS) 6 14 17 2 Lớp đối chứng (6G=39 HS) 5 14 16 4 Nhìn vào kết quả kiểm tra đánh giá trên, chúng ta có thể khẳng định, việc so sánh đối chiếu giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là hoàn toàn có căn cứ. Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng có kết quả tương đương nhau. Chưa Câu hỏi khảo sát Tốt Khá Đạt đạt Lớp thực nghiệm (6E= 39 HS) 9 20 10 0 Lớp đối chứng (6G=39 HS) 5 14 16 4 Sau quá trình áp dụng giải pháp khi dạy văn bản “Điều gì giúp bóng đá Việt Nam chiến thắng”, tôi thấy, kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng đã có sự khác biệt. Thực hiện một bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau khi áp dụng giải pháp, lớp thực nghiệm cho kết quả tốt hơn so với lớp đối chứng. Số học sinh đạt mức tốt và khá đã có sự chuyển biến rõ rệt. Đây là minh chứng quan trọng để chứng minh cho việc áp dụng sáng kiến là hoàn toàn có hiệu quả. 4. Hiệu quả của sáng kiến 4.1. Hiệu quả về khoa học Các giải pháp đưa ra đều có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau; được nghiên cứu và áp dụng trên cơ sở nghiên cứu và thực hiện chương trình GDPT 2018. Mỗi giải pháp lại đưa ra được những ví dụ cụ thể, chi tiết.
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_nang_cao_nang_luc_doc_hieu_van_ban_tho.pdf

