SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm non
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước. Là lớp người kế tục sự nghiệp của cha mẹ, gánh vác mọi công việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xã hội chủ nghĩa.
Ở trường Mầm non giáo dục thể chất cho trẻ là một nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng nhất. Vì sức khỏe là vốn quý giá nhất có ý nghĩa sống còn với con người. Đặc biệt là trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi này cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần. Vì thế cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc và mất cân đối dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng, còi xương. Đây là một vẫn đề rất nóng bỏng được toàn thể xã hội và nhà trường quan tâm.
Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết làm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sống, hoạt động tang trưởng phát triển bình thường của cơ thể.
Như chúng ta đã biết trẻ suy dinh dưỡng rất chậm lớn và thường hay mắc những bệnh nhiễm khuẩn như : Da xanh xao, cơ nhão, không săn chắc, dễ mắc các bệnh lý về nhiễm trùng, rối loạn tiêu hóa thường xuyên dẫn đến tiêu chảy, viêm đường hô hấp nên trẻ thường giảm khả năng học tập và ảnh hưởng đến chất lượng lao động khi trưởng thành.
Chúng ta thường cho trẻ ăn quá ít so với nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Khi bé đã biết đi và chạy nhảy thì càng cần nhiều năng lượng cho sự phát triển thể trạng và trí óc để khám phá thế giới xung quanh. Nếu không cung cấp đủ nguồn dinh dưỡng cho trẻ thì lượng tiêu hao sẽ nhiều hơn lượng hấp thụ dễ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ.
Là một nhân viên nuôi dưỡng ở trường mầm non tôi nhận thấy phần lớn thời gian của các bé đều ở trường. Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi trẻ.
Tôi nhận thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng, còi xương là do trẻ thiếu ăn hoặc ăn ít, bữa ăn thì thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, người chăm sóc thì thiếu hiểu biết về kiến thức khoa học và kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng.
Xét thấy tầm quan trọng của việc suy dinh dưỡng làm ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu:
-Tìm ra nguyên nhân dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng.
- Có các biện pháp để khắc phục tình trạng trẻ suy dinh dưỡng.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh mẫu giáo.
4. Khảo sát thực nghiệm.
-Học sinh mẫu giáo tại trường mầm non.
5. Phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp điều tra.
-Phương pháp khảo sát.
-Phương pháp quan sát.
-Phương pháp đánh giá thực trạng.
- Áp dụng các phương pháp trên đối với đối tượng nghiên cứu nhằm chế biến được các món ăn thơm ngon, hấp dẫn đảm bảo vệ sinh dinh dưỡng cân đối cho trẻ .
- Xử lí đối chiếu, thống kê số liệu, phân tích, so sánh để khẳng định kết quả thực nghiệm diễn ra tốt hơn trước.
6. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình phát triển của trẻ trong trường mầm non từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm non
1 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước. Là lớp người kế tục sự nghiệp của cha mẹ, gánh vác mọi công việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xã hội chủ nghĩa. Ở trường Mầm non giáo dục thể chất cho trẻ là một nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng nhất. Vì sức khỏe là vốn quý giá nhất có ý nghĩa sống còn với con người. Đặc biệt là trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi này cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần. Vì thế cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc và mất cân đối dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng, còi xương. Đây là một vẫn đề rất nóng bỏng được toàn thể xã hội và nhà trường quan tâm. Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết làm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sống, hoạt động tang trưởng phát triển bình thường của cơ thể. Như chúng ta đã biết trẻ suy dinh dưỡng rất chậm lớn và thường hay mắc những bệnh nhiễm khuẩn như : Da xanh xao, cơ nhão, không săn chắc, dễ mắc các bệnh lý về nhiễm trùng, rối loạn tiêu hóa thường xuyên dẫn đến tiêu chảy, viêm đường hô hấp nên trẻ thường giảm khả năng học tập và ảnh hưởng đến chất lượng lao động khi trưởng thành. Chúng ta thường cho trẻ ăn quá ít so với nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Khi bé đã biết đi và chạy nhảy thì càng cần nhiều năng lượng cho sự phát triển thể trạng và trí óc để khám phá thế giới xung quanh. Nếu không cung cấp đủ nguồn dinh dưỡng cho trẻ thì lượng tiêu hao sẽ nhiều hơn lượng hấp thụ dễ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ. Là một nhân viên nuôi dưỡng ở trường mầm non tôi nhận thấy phần lớn thời gian của các bé đều ở trường. Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi trẻ. Tôi nhận thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng, còi xương là do trẻ thiếu ăn hoặc ăn ít, bữa ăn thì thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, người chăm sóc thì thiếu hiểu biết về kiến thức khoa học và kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng. Xét thấy tầm quan trọng của việc suy dinh dưỡng làm ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm non”. 2. Mục đích nghiên cứu: -Tìm ra nguyên nhân dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng. - Có các biện pháp để khắc phục tình trạng trẻ suy dinh dưỡng. 2 3. Đối tượng nghiên cứu. - Học sinh mẫu giáo. 4. Khảo sát thực nghiệm. -Học sinh mẫu giáo tại trường mầm non. 5. Phương pháp nghiên cứu: -Phương pháp điều tra. -Phương pháp khảo sát. -Phương pháp quan sát. -Phương pháp đánh giá thực trạng. - Áp dụng các phương pháp trên đối với đối tượng nghiên cứu nhằm chế biến được các món ăn thơm ngon, hấp dẫn đảm bảo vệ sinh dinh dưỡng cân đối cho trẻ . - Xử lí đối chiếu, thống kê số liệu, phân tích, so sánh để khẳng định kết quả thực nghiệm diễn ra tốt hơn trước. 6. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình phát triển của trẻ trong trường mầm non từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021. 3 PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỐI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Cơ sở lí luận: Như chúng ta đã biết sức khỏe là vốn quý của con người.An uống là cơ sở tạo cho con người có một thể lực tốt. Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, đảm bảo đủ về lượng và chất thì cơ thể mới phát triển một cách toàn diện được. Dinh dưỡng là nhu cầu sức khỏe của mỗi người , trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực , trí tuệ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì và phát huy sự sống để làm việc cống hiến cho xã hội. Nếu trẻ không được nuôi dưỡng tốt sẽ chậm lớn, còi cọc chậm phát triển về mọi mặt ngược lại nếu trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ mau lớn khỏe mạnh, phát triển tốt xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước. Nhờ sự phát triển của dinh dưỡng học mà người ta đã biết trong thức ăn có chứa tất cả các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể đó là: Chất đạm, chất béo, chất sơ, vitamin, muối khoáng,.Nếu dư thừa hoặc thiếu hụt các chất dinh dưỡng này trong cơ thể thì sẽ gây ra nhiều bệnh tật hoặc nguy hiểm hơn là có thể dẫn tới tử vong nhất là đối với trẻ nhỏ, tốc độ phát triển thể lực, trí tuệ và tình cảm cùng các mối quan hệ rất nhanh, nhanh đến mức mà người ta cho rằng sự thành công của chúng ta quyết định sự thành đạt của đứa trẻ trong tương lai.Nhờ áp dụng dinh dưỡng vào cuộc sống sức khỏe mà khoa học đã khám phá ra tầm quan trọng của dinh dưỡng trong đời sống sức khỏe của con người. Do đó mà chế độ dinh dưỡng không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ, việc đảm bảo chế độ ăn hàng ngày cho trẻ được an toàn vệ sinh, dinh dưỡng hợp lý cân đối các chất là rất quan trọng và cần thiết trong các bữa ăn của trẻ. Để chế biến được những món ăn phong phú, thơm ngon, hấp dẫn, đạt tiêu chuẩn về dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi cô nuôi phải luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá ra những món ăn ngon mới lạ, hấp dẫn để chế biến cho trẻ ăn tại trường. 2.Khảo sát thực trạng. 2.1. Khó khăn: - Cơ sở vật chất còn hạn chế, nhiều trang thiết bị đã xuống cấp. - Nhận thấy trẻ thường ăn theo sở thích, thích ăn món này nhưng lại không thích ăn món khác.có thể thích ăn mì nhưng lại không thích ăn cháo. - Tổ chức bữa ăn cho trẻ chưa khoa học, chưa có nề nếp quy củ. - Chế độ ăn của trẻ còn thấp. Với địa bàn vùng quê, đa số các gia đình các cháu đều làm ruộng, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên việc đóng góp tiền ăn cho trẻ thấp.Nên bữa ăn của trẻ chưa đảm bảo về chất và lượng. 4 - Xây dựng thực đón chưa phong phú, ngân hàng các món ăn thì ít, chưa đáp ứng được nhu cầu năng lượng cần thiết cho trẻ. - Chưa kết hợp chặt chẽ giữa cô nuôi và giáo viên nên việc chăm sóc trẻ chưa được sát sao. - Chưa kết hợp được với ý tế trong việc chăm sóc, vệ sinh cho trẻ trong mọi hoạt động. - An toàn thực phẩm chưa được đảm bảo. - Khả năng chuyên môn các món ăn chế biến chưa được đẹp mắt, ngon miệng. 2.2. Thuận lợi: - Ban giám hiệu là người có kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, có bề dày về quản lý, yêu nghề, mến trẻ, luôn sát sao trong công việc và sự quan tâm giúp đõ của các cấp các ngành, và sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh. - Nhà trường đã duy trì được số trẻ ăn bán trú tại trường là 100%. - Có đội ngũ nhân viên, giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ. - 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường đã đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. -Đội ngũ cô nuôi trẻ khỏe, tâm huyết với nghề. -Cơ sở vật chất đầy đủ, khu bếp sạch sẽ, có bếp ăn một chiều, có đủ đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho trẻ ăn bán trú. - Trường học có một điểm duy nhất nên rất thuận lợi cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. - Trường gần khu trung tâm nên rất thuận lợi trong việc mua bán thực phẩm. - Số liệu điều tra đầu năm: Số trẻ Trẻ bình thường Suy dinh dưỡng Thấp còi 416 330 15 71 100% 79,3 % 3,6% 17,1% 3. Các biện pháp chính của đề tài. 1. Xây dựng kế hoạch. 2. Cùng ban giám hiệu, y tế theo dõi chi tiết cụ thể, giám sát mọi quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ đúng cách, đúng chuyên môn. 3.Trao đổi với giáo viên chủ nhiệm trong trường. 4.Tìm hiểu thị trường thực phẩm. 5.Xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn. 6.Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. 7. Nâng cao nghiệp vụ cho cô nuôi. 5 8.Sự quan tâm của cô giáo đối với học sinh và sự tuyên truyền tới phụ huynh học sinh. 9.Tích cực tăng gia trồng rau sạch làm cho bữa ăn của trẻ them phong phú và an toàn. 10. Bổ sung lượng sữa cần thiết giúp trẻ phát triển chiều cao nhằm giảm tỷ lệ thấp còi. 4. Biện pháp thực hiện. ( Biện pháp từng phần) 4.1. Biện pháp xây dựng kế hoạch. Căn cứ vào điều kiện thực tế và kế hoạch của trường mầm non tôi trực tiếp lên các lớp ở các nhóm tuổi, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi tiến hành phân loại học sinh xem lớp có những trẻ nào phát triển bình thường, những trẻ thừa cân, và đặc biệt là những trẻ suy dinh dưỡng,thấp còi. Nắm bắt số liệu cụ thể qua từng lớp, từng học sinh. Tôi tiến hành chế độ nuôi dưỡng và chăm sóc với chế độ ăn, ngủ, nghỉ, chơi và những thực đơn bổ sung thêm nhiều chất dinh dưỡng giúp trẻ hấp thụ đủ cho nhu cầu phát triển. Tôi lập ra kế hoạch chi tiết được tổ trưởng bếp, ban giám hiệu thông qua và phê duyệt. 4.2. Cùng ban giám hiệu, y tế theo dõi chi tiết, cụ thể, giám sát mọi quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ đúng cách và đúng chuyên môn. Tôi hàng ngày cùng ban giám hiệu phụ trách bên nuôi dưỡng, cùng với y tế học đường giám nhận từng khâu từ giao nhận thực phẩm, sơ chế thực phẩm, chế biến món ăn, chia thức ăn, đúng quy trình một chiều. Lên các nhóm lớp theo dõi xem trẻ ăn thế nào, có ngon miệng không?. Có ăn hết xuất không và cùng y tế cân đo hàng tháng, hàng quý, để theo dõi sự tăng trưởng của trẻ để xem phương pháp nuôi dạy của mình có hiệu quả hay không. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 rất phức tạp và nguy hiểm nên việc trẻ đến trường bị gián đoạn, vì vậy việc tuyên truyền tới phụ huynh học sinh về chế độ ăn, cũng như vệ sinh của trẻ được trao đỏi thường xuyên và qua các nhóm lớp với khẩu hiệu 5K. Nhà trường thường xuyên đo nhiệt độ và yêu cầu đeo khẩu trang khi phụ huynh và trẻ tới trường. Cho trẻ ăn chin uống sôi, vệ sinh khử khuẩn khuân viên nhà trường, lớp học, đồ dung đồ chơi của trẻ hằng ngày. 4.3. Trao đổi với giáo viên chủ nhiệm trực tiếp các lớp, các nhóm tuổi. - Trẻ phải được rửa tay, vệ sinh sạch sẽ trước khi ăn. -Khi đã cùng với giáo viên nắm rõ tình hình thực tế trên lớp. Những trẻ biếng ăn, ăn kiêng sai phương pháp. Được đặc biệt chú ý đến. 6 - Trong bữa ăn giáo viên sẽ cho những bạn phát triển đủ chiều cao cân nặng, ngồi riêng và động viên ăn hết xuất của trẻ. - Trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi thường có triệu trứng là biếng ăn, để khắc phục tình trạng này trong giờ ăn phối hợp cùng giáo viên cho trẻ ăn. Khi cho trẻ ăn thì sắp xếp những trẻ suy dinh dưỡng,thấp còi ngồi riêng. - Các cô giáo phải sát sao hơn, khích lệ trẻ ăn hết suất. - Lượng thức ăn cho trẻ suy dinh dưỡng được tăng lên dần để trẻ quen. - Ngoài việc chăm sóc ăn, uống cho trẻ thì giáo viên trên lớp cần đặc biệt chú ý đến việc cho trẻ vui chơi, hoạt động thể chất thông qua các hoạt động hang ngày giúp trẻ phát triển toàn diện. 4.4. Biện pháp tìm hiểu thị trường thực phẩm: - Xét thấy ở trường tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn cao tôi đặc biệt quan tâm đến những nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như tôm, cua,cá,lươn có thể áp dụng ở trường để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ. - Là một xã ở nông thôn, nên những thực phẩm từ rau, củ, quả thường sãn có. Đặc biệt ở cạnh trường có khu chuyên canh trồng rau sạch, nhà trường đã ký kết hợp đồng mua rau sạch. Ngoài ra nhà trường còn được sự ủng hộ nhiệt tình phụ huynh học sinh, bằng việc quyên góp những loại rau của nhà trồng được bán cho nhà trường với giá cả phải chăng. - Với địa hình ở đồng bằng có nhiều suối, ao hồ, như : Sông hồng, Sông Tích Giang.nên có rất nhiều tôm, cua, cá, lươn.Đó là những thực phẩm rất tươi ngon mà nhà trường có thể mua được với giá cả rất hợp lý. Ba vì nổi tiếng với sữa bò và thịt bò vì là ở nông thôn nơi mà có sông, có núi nên những thực phẩm rất phong phú như: thịt lợn, thịt bò, thịt gà, trứng, sữa.. Đây là nguồn thực phẩm rất tốt và cần thiết phục vụ đầy đủ cho bữa ăn của trẻ. 4.5. Xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn -Căn cứ vào nhu cầu cần thiết của trẻ. Đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi. -Căn cứ vào thói quen, sở thích ăn uống của trẻ. -Căn cứ vào nguồn thực phẩm theo mùa. -Khả năng tài chính. -Căn cứ vào chế độ ăn của trẻ , gửi trẻ cả ngày (đối với lớp nhà trẻ) phải được ăn 2 bữa chính ở trường , còn đối với lớp mẫu giáo thì ăn 1 bữa chính và 1 bữa phụ. -Xây dựng thực đơn hàng tuần theo mùa và theo tình hình thực phẩm của địa phương. -Xây dựng thực đơn đảm bảo lượng protein từ 14- 16%, Lipit từ 24-26%, Gluxit từ 60-62%. Đối với nhu cầu năng lượng hàng ngày của trẻ. 7 TUẦN CHẴN Thứ Bữa trưa Bữa chiều Bữa phụ Lượng canxi đối với lứa tuổi 1-3 tuổi đảm bảo 350mg/ngày/trẻ. B1 0,41g/ngày/trẻ. Đôi với lứa tuổi mẫu giáo (4-5 tuổi) lượng canxi đáp ứng 420mg/ngày/trẻ, lượng B1 là 0.52g/ngày/trẻ. -Căn cứ vào các chất dinh dưỡng có trong những thực phẩm như: Chất đạm có trong rất nhiều ở thịt, ca, tôm, cua và các loại hạt như: Đỗ , lạc, vừng.Đây là nguồn cung cấp axit amin và các chất dẫn truyền thần kinh. Chất béo có rất nhiều ở dầu, mỡ động vật và thực vật, nên ăn cân đối giữ mỡ động vạt và thực vật. -Đường có nhiều trong gạo, bột ngũ cốc, cháo -Đặc biệt ăn những loại hoa quả có màu như: Cà chua, đu đủ, cà rốt, bí đỏ, gấc - Xây dựng thực đơn phải phối hợp nhiều loại thực phẩm để bổ sung các chất dinh dưỡng đồng thời thường xuyên thay đổi món ăn để giúp trẻ ăn ngon miệng. - Không có bất kỳ một loại thực phẩm nào cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, mỗi loại thực phẩm có một loại chức năng nhất định. - Dưới đây là một số thực đơn đang thực hiện ở trường chúng tôi, cung cấp nhu cầu năng lượng đảm bảo cho 1 cháu với 65% nhu cầu năng lượng cần thiết trong một ngày. 4.6. Biện pháp về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. - Có nguồn nước sạch dùng trong sinh hoạt của trẻ, có đủ nước chín để uống. - Nhà trường có ký kết với công ty TNHH thực phẩm Toàn Tiến , địa chỉ: Tây Đằng – Ba Vì – Hà Nội đảm bảo thực phẩm an toàn, đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. - Thực hiện VSATTP từ khâu sơ chế đến khâu chế biến, phải làm theo nguyên tắc một chiều không để dụng cụ chế biến thực phẩm sống và chín lẫn lộn. Là tổ trưởng nuôi dưỡng tôi xây dựng bảng phân công công việc khoa học, hợp lý nên mọi người làm viêc rất có trách nhiệm và gọn gang. Luôn tuân thủ các quy định của bếp về vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện khẩu hiệu “ tổ bếp quyết tâm làm đâu sạch đấy, đứng dậy sạch ngay” 8 Mẫu giáo Nhà trẻ Mẫu giáo Nhà trẻ nhà trẻ Cơm tẻ, Cơm mềm, cá viên sốt cá viên sốt Chè ngũ sắc, cà chua, cà chua, Cơm mềm, thịt kho Chè đậu 2 sữa bột toàn canh rau canh rau tàu, canh cải thịt đen phần dền nấu thịt dền nấu thịt lợn lợn. Cơm mềm, Cơm tẻ, thịt thịt đậu đậu sốt sốt cà chua, Xôi ngô dừa, Cháo lươn nầu Sữa đạu 3 cà chua, canh sữa đậu nành hành nành canh bầu bầu nấu nấu tôm tôm Cơm tẻ, Cơm tẻ, ruốc lạc ruốc lạc Dưa hấu 4 vừng, canh vừng, canh Mì riêu cua Mì riêu cua ( Chuối bí hầm bí hầm tiêu) xương. xương. Cơm tẻ, Cơm tẻ, Cơm mềm, ruốc trứng cút trứng cút Cháo lươn thịt kho thịt, kho thịt, nấu Sữa bột 5 lợn, lạc vừng, canh canh rau canh rau rau thơm, hoa toàn phần bí ngót nấu thịt ngót nấu quả đỏ nấu thịt lợn thịt lợn Cơm tẻ, thịt Cơm tẻ, thịt bò bò Cơm mềm, xào thập xào thập Mì gà, sữa bột thịt gà xào giá đỗ Sữa bột 6 cẩm, canh cẩm, canh toàn canh cải xanh nấu toàn phần mùng tơi, mùng tơi, phần thịt lợn mướp nầu mướp nầu thịt lợn thịt lợn TUẦN LẺ Bữa trưa Bữa chiều Bữa phụ Thứ Mẫu giáo Nhà trẻ Mẫu giáo Nhà trẻ nhà trẻ 9 Cơm tẻ Cơm tẻ Cơm mềm Thịt nhồi Cháo lươn nấu Thịt nhồi đậu Trứng đúc thịt Sữa bột 2 đậu Rau thơm Canh cải Canh bí đỏ toàn phần Canh cải Hoa quả Nấu tôm Nấu thịt Nấu tôm . Cơm tẻ, thịt Cơm tẻ, thịt gà gà Mì gạo nấu Om nấm Om nấm Mì gạo nấu Chè đậu 3 Thịt bò rau Canh bí đỏ Canh bí đỏ Thịt bò rau thơm đen thơm nấu nấu xương xương Cơm tẻ, cá Cơm tẻ, cá sốt ngũ Chè thập cẩm, Cơm mềm, ruốc lạc sốt ngũ trân, Sữa bột 4 trân, canh sữa bột toàn vừng, canh rau dền canh rau ngót toàn phần rau ngót phần nấu thịt nấu thịt lợn nấu thịt lợn Cơm tẻ, thịt Cơm tẻ, thịt bò xào giá bò xào giá đỗ, đỗ, canh Xôi ngô dừa, Cháo lươn, cá nấu Sữa đậu 5 canh mừng mừng tơi, sữa đậu nành rau thơm nành tơi, mướp nấu mướp nấu cua cua Cơm tẻ, Cơm tẻ, trứng trứng thịt Cơm mềm, Cháo ngô hạt thịt đảo bông, đảo bông, thịt bò hầm khoai 6 đậu xanh, sữa Hoa quả canh rau dền canh rau tây, canh rau cải bột toàn phần nấu thịt lợn dền nấu thịt nấu thịt lợn - Rau, củ, quả phải được rửa sạch dưới vòi nước chảy, rửa xong rồi mới thái nhỏ. - Rau sau khi rửa sạch ngâm với nước muối pha loãng, xương trần qua, rửa sạch rồi mới cho vào ninh để làm giảm độc tố. - Nhân viên nhà bếp phải được kiểm tra ức khỏe định kỳ, có chứng nhận của sở y tế, đi làm phải đeo khẩu trang, gang tay, mũ áo. Hạn chế thấp nhất những mầm bệnh lây lan truyền nhiễm. - Người chế biến thực phẩm phải có những kỹ thuật chế biến món ăn thích hợp.Đâu là khâu rất quan trọng. - Tuy đời sống ngày một nâng cao, điều kiện kinh tế khá hơn nhưng sự hiểu biết trong việc chăm sóc trẻ còn chưa hợp lý , chế độ ăn của trẻ vẫn chưa khoa học 10 dẫn đến trẻ biếng ăn. Chính vì vậy để thu hút trẻ hứng thú ăn uống, ngoài việc món ăn chế biến phải ngon thì nó cũng phải hấp dẫn và đẹp mắt. - Chính vì vậy tôi đã đặc biệt chú ý đến điều này không ngừng rèn luyện, sáng tạo ra các món ăn, đẹp mắt, kích thích trẻ ăn nhiều. Trong khi nấu ăn tôi đặc biệt chú ý đến các loại gia vị có thể làm ảnh hưởng tới sức khỏe cúa các cháu như: ăn hành khô giảm khả năng thiếu máu, hạn chế sử dụng muối thường, mỳ chính, tang cường ăn nước mắm để bổ sung chất sắt. Phối hợp các loại rau, quả có chứa vitamin C, để có tác dụng hấp thụ chất sắt, phòng các bệnh từ đường hô hấp khi chuyển mùa. Tăng cường cho trẻ ăn đủ các loại thực phẩm đặc biệt đối với trẻ suy dinh dưỡng thì ăn nhiều tôm, cua, lươn, uống sữa đây là những nguồn thực phẩm cung cấp nhiều canxi cho cơ thể. Chế biến món ăn theo nguyên tắc một chiều. Dụng cụ để chế biến và sử dụng cho các cháu phải rửa sạch sẽ, cất đúng nơi quy định một cách khoa học. Nơi đẻ và sơ chế thực phẩm sống xa nơi thức ăn đã nấu chin. Dụng cụ để pha chế, rửa, đựng thức ăn sống không dung cho thức ăn chín. Hàng ngày quét dọn, lau bếp sạch sẽ trước và sau khi nấu. Luộc hoặc tráng nước sôi bát thìa của trẻ. -Sau khi nấu phải rửa sạch xoong, nồi và các dụng cụ khác. -Thùng đựng rác, nước vo gạo phải đạy nắp kín xung quanh dọn sạch sẽ. -Cối xay thịt sau mỗi lần dùng phải tháo rửa sạch, phơi khô. - Tủ lạnh phải sạch sẽ, phải xả đá và lau chùi hang tuần. thực phẩm chín hoặc tươi sống đều phải để gọn gàng trong các hộp có nắp đạy kín. Thức ăn chín phải để nguội mới vào tủ lạnh. 4.7.Biện pháp nâng cao nghiệp vụ cho cô nuôi dạy trẻ. Ở trường tôi cô nuôi luôn được trau dồi kinh nghiệm nghề nghiệp qua đồng nghiệp các trường bạn. 11 Thường xuyên học hỏi và tham gia các lớp tập huấn dành cho cô nuôi để nâng cao tay nghề cũng như khắc phục những gì mà mình chưa làm được. Qua việc học hỏi thường xuyên như vậy chúng tôi đã được trau dồi kiến thức và những kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết và kết quả đã được chứng minh các món ăn đã nấu cho các cháu đã ngon hơn, các cháu ăn nhiều, thích ăn. 4.8.Sự phối hợp của các cô giáo cùng việc vận động và tuyên truyền tới phụ huynh học sinh. Đây là một công việc rất cần thiết và không thể thiếu được ở trường chúng tôi như. -Thông qua buổi khai giảng đầu năm những buổi họp phụ huynh, và qua những bản tin của trường (những điều phụ huynh cần biết): Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm trong giờ đón và trả trẻ, chúng tôi đã tuyên truyền phổ biến cách chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng một cách hợp lý, khoa học. -Công khai qua bảng tài chính công khai và thực đơn trong tuần của trẻ cho phụ huynh biết để tránh lặp lại thực đơn khi trẻ ở nhà. Qua những bản tin của trường chúng tôi giới thiệu đến phụ huynh những món ăn tốt cho trẻ suy dinh dưỡng như: Cháo lươn, canh cua, ruốc thập cẩm.Để phụ huynh biết cách sử dụng các loại thực phẩm bổ sung chất vi lượng, phối hợp nhiều loại thực phẩm giúp trẻ phát triển chiều cao và cân nặng. 4.9.Tích cực tăng gia rau sạch làm cho thức ăn của trẻ thêm phong phú và an toàn của trẻ. - Rau sạch là một nguồn thực phẩm rất quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ. Do vậy nên tôi cùng với tổ nuôi dưỡng , tiết kiệm những phần đất trống của nhà trường thường xuyên trồng và chăm sóc nhiều loại rau cho bữa ăn của trẻ thêm phong phú và cung cấp đủ các chất cần thiết cho cơ thể non yếu của trẻ. - Tăng gia để giải quyết nhằm giảm tiền rau và tăng tiền cho thực phẩm giàu dinh dưỡng hơn như thế nào? - Tạo khuôn viên môi trường vườn rau xanh- sạch- đẹp, giúp trẻ trải nghiệm thực tế. 4.10 Bổ sung lượng sữa cần thiết giúp trẻ phát triển chiều cao nhằm giảm tỷ lệ thấp còi. - Bổ sung lượng sữa bột vào thực đơn hàng ngày cho trẻ. 12 - Phối hợp với phụ huynh tuyên truyền cho trẻ uống sữa đều đặn ở trường và gia đình để trẻ phát triển chiều cao một cách toàn diện nhất. - Kết hợp với giáo viên trên lớp động viên trẻ uống hết sữa PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Nhờ có những biện pháp trên đã giúp tôi thực hiện các hoạt động đạt kết quả cao trong công việc nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. 1. Kết quả đạt được: A. Số liệu đầu năm: Số trẻ Trẻ bình thường Suy dinh dưỡng Thấp còi 416 330 15 71 100% 79,3 % 3,6% 17,1% B. Số liệu cuối năm: Số trẻ Trẻ bình thường Trẻ suy dinh dưỡng Trẻ thấp còi 416 398 4 14 100% 95,7 % 1% 3,3% 2. Bài học kinh nghiệm. Sau một thời gian nỗ lực làm việc nghiêm túc và hết mình chúng tôi đã nhận được kết quả rất tốt. Tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng và thấp còi đã giảm đáng kể. Với kết quả này chúng tôi phải phát huy hơn nữa những khả năng của mình. Sự đoàn kết nhất trí, lòng nhiệt tình yêu nghề, mến trẻ luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tập thể, hội đồng sư phạm của nhà trường nói chung và tổ nuôi dưỡng nói riêng. Xây dựng kế hoạch và thực hiện tốt đến từng lớp học. Mỗi chúng ta cần nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cần được triển khai thường xuyên và nghiêm túc. Làm tốt công tác tham mưu với các ban ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương , nhất là các bậc cha mẹ phụ huynh học sinh yên tâm gửi con em mình tới trường. Điều đó khẳng định, Trường mầm non có sự quản lí nuôi dưỡng rất tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ăn uống có khoa học, nề nếp, kỹ thuật chế biến món ăn của cô nuôi rất tốt. Liên tục cải tiến thực đơn theo mùa, tiết kiệm không lãng phí. 13 Sự kết hợp hài hòa giữa giáo viên và cô nuôi đã làm cho tinh thần đoàn kết của giáo viên, nhân viên nhà trường ngày càng cao, hiểu được trẻ để có cách chăm sóc, nuôi dưỡng ngày một tốt. 3. Một số kiến nghị sau khi thực hiện đề tài. Rất mong Phòng giáo dục & đào tạo huyện Ba vì cũng như Ban giám hiệu Trường mầm non Chu Minh ngày một chỉ đạo sát sao và quan tâm nhiều hơn nữa để chất lượng nuôi dưỡng được đạt kết tốt nhất. Đề nghị Ban giám hiệu bổ xung và sửa chữa một số trang thiết bị bị hỏng, để có điều kiện phục vụ bữa ăn của trẻ một cách tốt nhất. Đội ngũ cô nuôi không ngừng học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ. Trên đây là một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm non. Rất mong ý kiến đóng góp của hội đồng khoa học, các cấp, của đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện hơn đề tài của mình. Xin chân thành cảm ơn! Ngày tháng 05 năm 2021 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết không sao chép nội dung của người khác Nguyễn Thị Hưởng 14
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_bua_an_nham_giam_t.docx

