SKKN Ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6 (GV: Phùng Thị Phượng - THCS Thái Hòa - Năm học 2023-2024)

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, các loại hình của công nghệ thông tin ra đời đã tạo ra những bước ngoặt lớn, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho con người trong các hoạt động kinh tế cũng như giao lưu văn hóa trên toàn thế giới. Đứng trước những lợi ích của CNTT (Công nghệ thông tin) ngành giáo dục là ngành được coi là tiền đề cho việc đưa CNTT vào học tập và thực tiễn cuộc sống. Trong đó bậc THCS cũng đã áp dụng CNTT vào giảng dạy và giúp học sinh nắm bắt kiến thức thuận lợi hơn. Đặc biệt là dạy học phân môn Địa lí bằng CNTT sẽ giúp cho học sinh nhận biết thực tế về một sự vật, hiện tượng địa lí xảy ra xung quanh cuộc sống được rễ ràng và hấp dẫn hơn.
Để đáp ứng được nhu cầu của thời đại, tôi thiết nghĩ trong dạy học Địa lí các thiết bị hiện đại như máy chiếu, ti vi, máy tính, các phần mềm…là phương tiện bổ trợ đắc lực để nâng cao chất lượng dạy học. Ở đây ứng dụng CNTT vào dạy học đã làm phong phú thêm tính trực quan của quá trình nhận thức của học sinh, không dừng ở mức độ là đồ dùng dạy học thuần túy – vật để minh họa kiến thức, mà còn là một tri thức quan trọng để học sinh khai thác tối đa kiến thức trong quá trình nhận thức. Tuy nhiên, giáo viên cũng phải tự nhận biết được ưu điểm cũng như tồn tại của việc ứng dụng CNTT vào dạy học, làm sao để có thể vận dụng một cách có hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học.

Trong suốt quá trình tổ chức giảng dạy bộ môn Lịch sử và Địa lí tại trường THCS, cá nhân tôi nhận thấy ứng dụng CNTT vào dạy học phân môn Địa lí sẽ phát huy triệt để hệ thống kiến thức bằng cả kênh chữ và kênh hình, hệ thống các phương tiện trực quan như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu được lưu giữ qua hệ thống máy vi tính tương đối chính xác, nhanh và hiệu quả. Ứng dụng CNTT trong dạy học giúp học sinh nhớ kỹ, khắc sâu kiến thức, giúp các em hình thành kỹ năng phán đoán, tư duy, tìm tòi và diễn đạt bằng lời một cách chính xác thông qua hệ thống các phương tiện trực quan được mô phỏng rõ ràng, cụ thể về các kiến thức Địa lí.
Hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kích thích được tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Đối với chương trình SGK lớp 6 mới hiện nay được thiết kế với rất nhiều tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng biểu vì vậy theo tôi việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ đem lại kết quả học tập rất tốt đồng thời phát huy được năng lực đặc thù bộ môn cho học sinh đáp ứng nhu cầu đổi mới toàn diện của ngành giáo dục.
Ở đối tượng học sinh lớp 6, việc cung cấp cho các em về các khái niệm của một đối tượng địa lí bằng thiết bị thông thường hiệu quả sẽ không cao bằng cho các em quan sát chúng qua màn hình một cách trực quan, sinh động như: Một đoạn phim hoặc mô hình quả địa cầu chuyển động thì hiệu quả thu được sẽ cao hơn rất nhiều, giúp các em khắc sâu hơn kiến thức, tạo hứng thú học tập cho các em. Đó chính là chiếc cầu nối giữa kiến thức lí thuyết và thực tiễn.
Thực tế cũng phải trải qua không ít trở ngại, chiêm nghiệm và quyết định chọn đề tài: “Ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6” để nghiên cứu và thực nghiệm trong quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những kết quả khả quan. Đồng thời tôi rút ra được một số kinh nghiệm xin trao đổi cùng đồng nghiệp nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học phân môn Địa lí và để cùng nhau hoàn thành tốt sứ mệnh “trồng người” cao cả.
2. Mục tiêu của đề tài

- Nhằm nâng cao khả năng sử dụng các thiết bị dạy học và học liệu phục vụ cho tiết học có hiệu quả của giáo viên.
- Giúp học sinh có khả năng tiếp nhận kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức trên cơ sở những tri thức giáo viên đã truyền đạt và hướng dẫn, phát triển năng lực đặc thù bộ môn cho học sinh, năng lực công nghệ thông tin cho giáo viên và học sinh thông qua các hoạt động dạy học.
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 6 trường THCS Thái Hòa.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6.
- Thời gian nghiên cứu: Năm học 2023 – 2024.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, đàm thoại, khảo sát, quan sát, xin ý kiến cố vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành ứng dụng CNTT để thiết kế bài giảng và thực hiện các giờ dạy ở trường THCS Thái Hòa. Sử dụng phiếu thăm dò để kiểm tra kết quả từ phía HS và lấy ý kiến của GV nhằm đánh giá mức độ khả thi của đề tài, đồng thời thấy được những thiếu sót để từ đó có những phương hướng điều chỉnh cho hợp lí làm tăng tính khả thi của đề tài.
- Phương pháp toán thống kê được dùng trong việc xử lý kết quả số liệu thống kê sau khi tiến hành điều tra, thực nghiệm sư phạm.

5. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là việc sử dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ vào giáo dục, nhằm tăng hiệu quả và chất lượng GD.
Dựa trên tình hình thực tế dạy học phân môn Địa lí cho đối tượng học sinh khối 6 của trường THCS Thái Hòa qua nhiều năm và quá trình vận dụng một số phương pháp dạy học được xem là phương pháp hỗ trợ tối ưu trong quá trình dạy học phân môn Địa lí lớp 6 nói riêng và tất cả các môn học nói chung, đặc biệt là những ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng giảng dạy.
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ bổ trợ và làm phong phú thêm tính trực quan, hỗ trợ đắc lực cho việc dạy học có hiệu quả phân môn Địa lí lớp 6, được đánh giá là thiết bị dạy học và học liệu chiếm ưu thế, có tác dụng cao, góp phần mở rộng các nguồn tri thức Địa lí cho học sinh, giúp cho việc lĩnh hội tri thức của các em được nhanh chóng hơn, khắc phục tình trạng trừu tượng hóa kiến thức Địa lí trong quá trình nhận thức của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 6, sẽ tạo điều kiện rộng rãi cho việc dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, phát triển nhiều năng lực khác của học sinh.
Các thiết bị dạy học và học liệu hiện đại được sử dụng phổ biến hiện nay như: Máy chiếu, ti vi, máy tính, máy chiếu vật thể, các phần mềm học tập được bổ trợ chủ yếu như: Violet, Powerpoint, Google earth, Ispring Suite10, các công cụ la bàn, bản đồ trên các thiết bị thông minh, các ứng dụng làm bài tập online ….. đây là các thiết bị dạy học và học liệu kích thích tính sáng tạo, tìm tòi và đam mê khoa học, có ý thức vươn lên của học sinh trong học tập và rèn luyện.

pdf 20 trang Bình An 01/04/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6 (GV: Phùng Thị Phượng - THCS Thái Hòa - Năm học 2023-2024)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6 (GV: Phùng Thị Phượng - THCS Thái Hòa - Năm học 2023-2024)

SKKN Ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6 (GV: Phùng Thị Phượng - THCS Thái Hòa - Năm học 2023-2024)
 1 
 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC NHẰM 
 TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÂN 
 MÔN ĐỊA LÍ LỚP 6 
 PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 
 Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, các loại hình của công 
nghệ thông tin ra đời đã tạo ra những bước ngoặt lớn, là công cụ hỗ trợ đắc lực 
cho con người trong các hoạt động kinh tế cũng như giao lưu văn hóa trên toàn 
thế giới. Đứng trước những lợi ích của CNTT (Công nghệ thông tin) ngành giáo 
dục là ngành được coi là tiền đề cho việc đưa CNTT vào học tập và thực tiễn cuộc 
sống. Trong đó bậc THCS cũng đã áp dụng CNTT vào giảng dạy và giúp học sinh 
nắm bắt kiến thức thuận lợi hơn. Đặc biệt là dạy học phân môn Địa lí bằng CNTT 
sẽ giúp cho học sinh nhận biết thực tế về một sự vật, hiện tượng địa lí xảy ra xung 
quanh cuộc sống được rễ ràng và hấp dẫn hơn. 
 Để đáp ứng được nhu cầu của thời đại, tôi thiết nghĩ trong dạy học Địa lí 
các thiết bị hiện đại như máy chiếu, ti vi, máy tính, các phần mềmlà phương 
tiện bổ trợ đắc lực để nâng cao chất lượng dạy học. Ở đây ứng dụng CNTT vào 
dạy học đã làm phong phú thêm tính trực quan của quá trình nhận thức của học 
sinh, không dừng ở mức độ là đồ dùng dạy học thuần túy – vật để minh họa kiến 
thức, mà còn là một tri thức quan trọng để học sinh khai thác tối đa kiến thức trong 
quá trình nhận thức. Tuy nhiên, giáo viên cũng phải tự nhận biết được ưu điểm 
cũng như tồn tại của việc ứng dụng CNTT vào dạy học, làm sao để có thể vận 
dụng một cách có hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học. 
 Trong suốt quá trình tổ chức giảng dạy bộ môn Lịch sử và Địa lí tại trường 
THCS, cá nhân tôi nhận thấy ứng dụng CNTT vào dạy học phân môn Địa lí sẽ 
phát huy triệt để hệ thống kiến thức bằng cả kênh chữ và kênh hình, hệ thống các 
phương tiện trực quan như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu được lưu giữ 
qua hệ thống máy vi tính tương đối chính xác, nhanh và hiệu quả. Ứng dụng 
CNTT trong dạy học giúp học sinh nhớ kỹ, khắc sâu kiến thức, giúp các em hình 
thành kỹ năng phán đoán, tư duy, tìm tòi và diễn đạt bằng lời một cách chính xác 
thông qua hệ thống các phương tiện trực quan được mô phỏng rõ ràng, cụ thể về 
các kiến thức Địa lí. 
 Hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ góp phần làm cho giờ học 
trở nên sinh động, hiệu quả, kích thích được tính tích cực, sáng tạo của học sinh. 
Đối với chương trình SGK lớp 6 mới hiện nay được thiết kế với rất nhiều tranh 
ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng biểu vì vậy theo tôi việc ứng dụng CNTT trong dạy 2 
học sẽ đem lại kết quả học tập rất tốt đồng thời phát huy được năng lực đặc thù 
bộ môn cho học sinh đáp ứng nhu cầu đổi mới toàn diện của ngành giáo dục. 
 Ở đối tượng học sinh lớp 6, việc cung cấp cho các em về các khái niệm của 
một đối tượng địa lí bằng thiết bị thông thường hiệu quả sẽ không cao bằng cho 
các em quan sát chúng qua màn hình một cách trực quan, sinh động như: Một 
đoạn phim hoặc mô hình quả địa cầu chuyển động thì hiệu quả thu được sẽ cao 
hơn rất nhiều, giúp các em khắc sâu hơn kiến thức, tạo hứng thú học tập cho các 
em. Đó chính là chiếc cầu nối giữa kiến thức lí thuyết và thực tiễn. 
 Thực tế cũng phải trải qua không ít trở ngại, chiêm nghiệm và quyết định 
chọn đề tài: “Ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và 
nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6” để nghiên cứu và thực nghiệm trong 
quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những kết quả khả quan. Đồng thời tôi 
rút ra được một số kinh nghiệm xin trao đổi cùng đồng nghiệp nhằm góp phần 
nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học phân môn Địa lí và để cùng nhau hoàn thành 
tốt sứ mệnh “trồng người” cao cả. 
2. Mục tiêu của đề tài 
- Nhằm nâng cao khả năng sử dụng các thiết bị dạy học và học liệu phục vụ cho 
tiết học có hiệu quả của giáo viên. 
- Giúp học sinh có khả năng tiếp nhận kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức trên 
cơ sở những tri thức giáo viên đã truyền đạt và hướng dẫn, phát triển năng lực đặc 
thù bộ môn cho học sinh, năng lực công nghệ thông tin cho giáo viên và học sinh 
thông qua các hoạt động dạy học. 
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 6 trường THCS Thái Hòa. 
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm 
tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6. 
- Thời gian nghiên cứu: Năm học 2023 – 2024. 
4. Phương pháp nghiên cứu 
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, đàm thoại, khảo sát, quan sát, xin ý kiến 
cố vấn 
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành ứng dụng CNTT để thiết kế bài 
giảng và thực hiện các giờ dạy ở trường THCS Thái Hòa. Sử dụng phiếu thăm dò 
để kiểm tra kết quả từ phía HS và lấy ý kiến của GV nhằm đánh giá mức độ khả 
thi của đề tài, đồng thời thấy được những thiếu sót để từ đó có những phương 
hướng điều chỉnh cho hợp lí làm tăng tính khả thi của đề tài. 
- Phương pháp toán thống kê được dùng trong việc xử lý kết quả số liệu thống kê 
sau khi tiến hành điều tra, thực nghiệm sư phạm. 3 
5. Cơ sở lí luận và thực tiễn 
 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là việc sử dụng các thành tựu 
của khoa học, công nghệ vào giáo dục, nhằm tăng hiệu quả và chất lượng GD. 
 Dựa trên tình hình thực tế dạy học phân môn Địa lí cho đối tượng học sinh 
khối 6 của trường THCS Thái Hòa qua nhiều năm và quá trình vận dụng một số 
phương pháp dạy học được xem là phương pháp hỗ trợ tối ưu trong quá trình dạy 
học phân môn Địa lí lớp 6 nói riêng và tất cả các môn học nói chung, đặc biệt là 
những ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất 
lượng giảng dạy. 
 Việc ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ bổ trợ và làm phong phú thêm tính 
trực quan, hỗ trợ đắc lực cho việc dạy học có hiệu quả phân môn Địa lí lớp 6, 
được đánh giá là thiết bị dạy học và học liệu chiếm ưu thế, có tác dụng cao, góp 
phần mở rộng các nguồn tri thức Địa lí cho học sinh, giúp cho việc lĩnh hội tri 
thức của các em được nhanh chóng hơn, khắc phục tình trạng trừu tượng hóa kiến 
thức Địa lí trong quá trình nhận thức của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh 
lớp 6, sẽ tạo điều kiện rộng rãi cho việc dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt 
động nhận thức của học sinh, phát triển nhiều năng lực khác của học sinh. 
 Các thiết bị dạy học và học liệu hiện đại được sử dụng phổ biến hiện nay 
như: Máy chiếu, ti vi, máy tính, máy chiếu vật thể, các phần mềm học tập được 
bổ trợ chủ yếu như: Violet, Powerpoint, Google earth, Ispring Suite10, các công 
cụ la bàn, bản đồ trên các thiết bị thông minh, các ứng dụng làm bài tập online .. 
đây là các thiết bị dạy học và học liệu kích thích tính sáng tạo, tìm tòi và đam mê 
khoa học, có ý thức vươn lên của học sinh trong học tập và rèn luyện. 
 PHẦN II - NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
1. Thực trạng của vấn đề 
1.1. Thuận lợi 
 Quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học, đặc biệt là dạy học phân môn Địa 
lí có nhiều ưu điểm như: Quá trình lên lớp giáo viên không nặng nề về các khâu 
chuẩn bị đồ dùng dạy học (bản đồ, bảng phụ, tranh ảnh ) mà vẫn truyền tải được 
tới cho học sinh đầy đủ hệ thống kiến thức cần thiết nhờ ứng dụng CNTT trong 
dạy học một cách trực quan sinh động, mở rộng nhanh tới học sinh nhiều kiến 
thức trong thực tế cuộc sống, học sinh được tự trải nghiệm nhiều hơn, rèn luyện 
nhiều kỹ năng mới, làm việc độc lập và sáng tạo hơn. Hiện nay, học sinh thường 
xuyên học online nên ứng dụng CNTT trong dạy học được càng nhiều càng mang 
lại hứng thú học cho học sinh và tạo hiệu quả cao trong quá trình học tập. 
* Về cơ sở vật chất, trang thiết bị 4 
 Các thiết bị ứng dụng CNTT trong dạy học được xem là công cụ hỗ trợ đắc 
lực cho các phương pháp dạy học hiện đại, có thể giải quyết được các nhiệm vụ 
cơ bản của quá trình dạy học như: Hình thành kiến thức, phát triển tư duy, rèn 
luyện năng lực thực hành, luyện tập, củng cố, kiểm tra đánh giá. Nhờ khả năng 
lưu trữ, cung cấp thông tin nhanh, chính xác, điều khiển, điều chỉnh kiểm tra và 
đánh giá, minh họa, trực quan hóa bằng mô phỏng. Thậm chí còn có khả năng 
cung cấp cho học sinh những kiến thức đặc biệt mà những phương pháp khác 
không làm được như: Các đoạn phim tư liệu, hình ảnh động được liên kết âm 
thanh, hiệu ứng, không gian ba chiềuvới sự bổ trợ của phần mềm Powerpoint, 
Ispring Suite10, violet, các ứng dụng trò chơi... 
 Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và chính quyền địa phương nên 
trường THCS Thái Hòa đã có những trang thiết bị cơ bản và cần thiết cho việc 
ứng dụng CNTT vào dạy học như: Ti vi, máy tính, máy chiếu, phòng học chức 
năng, mạng Internet và các phần mềm hỗ trợ dạy học. 
 Kho thông tin, tranh ảnh và các tư liệu về địa lí trên Internet rất phong phú 
đặc biệt là kho học liệu của nhà trường khả năng lưu trữ lớn đã tạo điều kiện thuận 
lợi cho giáo viên trong việc tìm kiếm, lựa chọn và đưa vào bài học. 
 Hệ thống phòng học các lớp được lắp đặt ti vi, máy tính, hiệu quả của các 
thiết bị tương đối ổn định. Số lượng ti vi, máy vi tính và máy chiếu của nhà trường 
đầy đủ cho các phòng học, học sinh và giáo viên tiếp cận CNTT rất thuận lợi và 
thường xuyên mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. 
* Đối với giáo viên và học sinh 
 Công tác tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận với CNTT, bồi dưỡng, nâng 
cao trình độ tin học cho giáo viên, triển khai rộng rãi cho việc dạy học bằng ti vi, 
máy chiếu, máy tính trong các tiết dạy rất thuận lợi. Bản thân là một giáo viên còn 
khá trẻ, đã được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ một cách bài bản, được tiếp cận 
và bồi dưỡng về CNTT nên năng lực sư phạm và khả năng ứng dụng CNTT vào 
dạy học khá tốt. Những năm qua tôi đã rất tích cực tự học hỏi, tự trau dồi trình độ 
CNTT, tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm và tích cực ủng hộ phong trào dạy 
học có ứng dụng công nghệ thông tin. 
 Kĩ năng sử dụng máy tính của giáo viên được bồi dưỡng thường xuyên, các 
tiết dạy giáo viên sử dụng thiết bị dạy học đã khá linh hoạt. 
 Việc dạy học có ứng dụng CNTT được giáo viên thực hiện ở nhiều môn 
học nên học sinh không còn lạ lẫm với cách học này. Học sinh rất hào hứng với 
những tiết học bằng giáo án điện tử, các em học tập tích cực và sôi nổi hơn, chủ 
động nắm bắt kiến thức. Nhiều em học sinh có kỹ năng CNTT, các em có khả 
năng làm video, thiết kế bài tập trên Canva, Powerpoint. 5 
1.2. Khó khăn 
 Việc tiếp cận và bồi dưỡng CNTT chủ yếu bằng con đường tự học. Vì thế 
việc ứng dụng CNTT vào dạy học còn gặp nhiều khó khăn đòi hỏi người giáo 
viên phải có trình độ và kĩ năng CNTT tốt. 
 Một bộ phận học sinh còn ỷ lại, chưa coi trọng phân môn Địa lí và chưa 
thực sự đam mê, nghiên cứu, khám phá tri thức địa lí thông qua sử dụng CNTT. 
 Kĩ năng sử dụng CNTT của các em học sinh còn hạn chế. Cách nổi bật nhất 
là đưa ra bài tập và hướng dẫn HS thiết kế, làm bài có ứng dụng CNTT, sau đó 
nộp sản phẩm và trình chiếu trước lớp nhưng một số em vẫn chưa thể làm được. 
 Tuy CNTT và các thiết bị hiện đại mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy 
học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ 
trợ GV hoàn toàn trong các bài giảng của họ. Những mạch kiến thức “vận dụng” 
đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy 
học tích cực khác mới rèn luyện được năng lực cho HS. Ứng dụng CNTT trong 
dạy học tạo ra môi trường giáo dục có tính tương tác cao. Tuy nhiên, cần phải ứng 
dụng CNTT một cách hợp lý, tránh lạm dụng để đem lại hiệu quả cao nhất. 
1.3. Số liệu điều tra trước khi thực hiện giải pháp 
 Bảng 1: Kết quả kiểm tra khảo sát sau tiết học không ứng dụng CNTT 
 trong dạy học đầu năm học 2023-2024 
 Tốt Khá Đạt Chưa đạt 
 Lớp Sĩ số 
 SL % SL % SL % SL % 
 6B 46 7 15,2 10 21,7 26 56,5 3 6,6 
 6C 47 5 10,6 9 19,1 29 61,7 4 8,6 
 6D 47 9 19,1 12 25,5 23 48,9 3 6,5 
 Tổng 140 21 15,0 31 22,1 78 55,7 10 7,2 
 Bảng 2: Kết quả khảo sát mức độ tích cực, chủ động học tập của HS qua tiết 
 học không ứng dụng CNTT trong dạy học đầu năm học 2023-2024 
 Bình 
 Rất tích cực Tích cực Không tích cực 
 Lớp Sĩ số thường 
 SL % SL % SL % SL % 
 6B 46 4 8,7 8 17,4 10 21,7 24 52,2 
 6C 47 3 6,4 9 19,1 12 25,5 23 49,0 
 6D 47 4 8,5 10 21,3 14 29,8 19 40,4 
 Tổng 140 11 7,9 27 19,3 36 25,7 66 47,1 6 
2. Giải pháp thực hiện ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú 
học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6 
 Để thực hiện tốt, có hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng 
thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6, cá nhân tôi xin mạnh 
dạn đưa ra một số giải pháp đã và đang tiến hành tại trường THCS trong việc dạy 
học, đặc biệt là đối với đối tượng học sinh lớp 6 trường THCS Thái Hòa và tôi 
nhận thấy là tương đối phù hợp với nhiều đối tượng học sinh, cụ thể như sau: 
2.1. Xây dựng bài dạy Powerpoint 
 Powerpoint có thể tiến hành soạn giảng các bài giảng điện tử, phát huy cao 
độ khả năng đồ họa của máy vi tính và sử dụng thêm các công cụ khác để phục 
vụ cho tiến trình dạy học như: Vẽ các biểu đồ, sơ đồ tư duy, xử lí các bảng số liệu. 
Cho phép trình chiếu các đối tượng ở nhiều góc độ khác nhau như: Trình diễn các 
đoạn phim liên quan đến kiến thức bài học, trình diễn các hoạt ảnh, video, cung 
cấp công cụ viết hoặc vẽ trên nền các slide để đánh dấu các điểm trọng yếu trong 
nội dung trình bày và có thể dễ dàng xóa đi mà không làm ảnh hưởng tới các đối 
tượng đã được tạo ra trước đó trên slide. Bên cạnh đó còn có thể kết hợp với các 
phần mềm khác có tính năng đặc thù và mang lại hiệu quả cho các tiết dạy, để 
phục vụ cho tiết dạy đảm bảo tính giáo dục cao. 
 Ví dụ 1: Bài 8. chuyển động của trái đất quanh mặt trời và hệ quả 
 Xây dựng bài dạy Powerpoint thể hiện hình ảnh động trực quan, mô 
phỏng bằng video trong bài dạy: Tiến hành thực nghiệm tại lớp 6B 
 Giáo viên cho học sinh quan sát video, nhằm xác định hướng chuyển động 
của Trái Đất quanh Mặt Trời, kết hợp quan sát góc chiếu của ánh sáng Mặt Trời, 
từ đó các em có thể nhận biết được nguyên nhân sinh ra các mùa trên Trái Đất. 
 Hình ảnh động dưới đây thể hiện chuyển động của Trái Đất quanh Mặt 
 Trời (hình Trái Đất chuyển động), học sinh có thể thông qua hình ảnh để trả lời 
 câu hỏi liên quan rất nhanh, dễ dàng và linh hoạt. 
 GV đặt câu hỏi 1: 
 Dựa vào hình ảnh 
 động em hãy cho 
 biết hướng chuyển 
 động của Trái Đất 
 quanh Mặt Trời? 7 
* Kết quả thu được: Nghe câu hỏi xong, ngay lập tức học sinh giơ tay phát biểu: 
Trái Đất quay quanh Mặt Trời từ Tây sang Đông, có 43/46 em giơ tay, đạt tỉ lệ 
93,5% (đặt câu hỏi thử nghiệm nhận xét mức độ phản ứng nhanh). 
 GV đặt câu hỏi 2: Quan sát hình ảnh động chuyển động của Trái Đất quanh Mặt 
Trời cho biết hướng nghiêng của trục Trái đất có thay đổi không? 
 * Kết quả thu được: Có 41/46 học sinh giơ tay phát biểu, đạt tỉ lệ 89,1%. 
 GV đặt câu hỏi 3: Khi 
chuyển động quanh Mặt 
Trời, lượng ánh sáng 
Trái Đất nhận được có 
đặc điểm như thế nào? 
(Câu hỏi ở mức độ khó 
hơn, đòi hỏi học sinh 
phải quan sát hình ảnh 
động lâu hơn trước khi 
trả lời). 
 * Kết quả thu được: Quan sát trên màn hình, với hình ảnh động học sinh có thể 
trả lời rất nhanh, rất hứng thú và độ tập trung chú ý cao. Có đến 38/46 học sinh 
giơ tay phát biểu bài, đạt 82,6%. Qua bài học tôi nhận thấy khả năng tạo hứng thú 
học tập, kích thích phong trào, tinh thần học tập cho lớp cũng như từng cá nhân 
học sinh là rất cao khi ứng dụng CNTT trong dạy học, qua đó cũng kích thích tinh 
thần phấn khởi, tự tin cho giáo viên khi dạy học và phát huy năng lực đặc thù bộ 
môn cho học sinh. 
* So sánh đối chứng khi dạy học bằng kế hoạch bài dạy thường (Không ứng 
dụng CNTT trong dạy học) chỉ sử dụng tranh ảnh và kênh hình minh họạ: 
Tiến hành thực nghiệm tại lớp 6C 
 Trong bài dạy thể hiện với hệ thống hình ảnh trực quan, mô phỏng bằng tập 
tranh ảnh bình thường. 8 
 Học sinh cũng có thể thông qua hình ảnh để trả lời các câu hỏi, tuy nhiên 
mức độ phản ứng với câu hỏi không nhanh bằng bài này mà có ứng dụng CNTT 
trong dạy học. Tiết học chưa tạo sự hứng thú, mức độ tập trung chú ý chưa cao, 
có nhiều học sinh nét mặt có vẻ chưa thông, còn mơ hồ. Có khoảng 30% học sinh 
giơ tay phát biểu bài. 
 Qua bài học tôi nhận thấy khả năng tạo hứng thú học tập, kích thích phong 
trào, tinh thần học tập cho lớp cũng như từng cá nhân học sinh ở tiết dạy này so 
với tiết học trước không cao, đòi hỏi giáo viên phải giải thích nhiều, tính trực 
quan, minh họa thiếu hiệu quả hơn so với ứng dụng CNTT xây dựng bài dạy 
Powerpoint để tổ chức dạy học. 
 Ví dụ 2: Bài 19. Thủy quyển và vòng tuần hoàn lớn của nước 
 Xây dựng bài dạy Powerpoint mô phỏng phương pháp dạy học tích 
cực, thể hiện hình ảnh, sơ đồ trực quan trong bài dạy: Tiến hành thực nghiệm 
tại khối lớp 6 
 Đây là một trong những tiết học rất thành công có ứng dụng CNTT sẽ sinh 
động hơn, phong phú hơn bởi hệ thống hình ảnh, sơ đồ, video, âm thanh và các 
kênh hình khác. Nhờ ứng dụng CNTT trong dạy học giáo viên rễ ràng truyền tải 
phương pháp và tổ chức dạy học linh hoạt để học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh tri 
thức Địa lí. Thông qua ứng dụng CNTT trong các hoạt động dạy học đã rèn luyện 
cho học sinh năng lực, ý thức tự học qua mạng Internet, góp phần hình thành, phát 
triển năng lực đặc thù bộ môn và năng lực CNTT cho học sinh. Dưới đây là minh 
chứng sản phẩm của một nhóm học sinh lớp 6D đã thực hiện giải pháp để sử dụng 
hợp lí và bảo vệ tài nguyên nước bằng hình thức video rất sáng tạo và độc đáo. 
 9 
2.2. Xây dựng bài dạy Elearning 
 Qua nghiên cứu, thực hành và sử dụng một số phần mềm để làm kế hoạch 
bài dạy, áp dụng trong giảng dạy. Tôi thấy phần mềm Ispring Suite10 có nhiều ưu 
điểm tính năng mạnh mẽ và dễ sử dụng nên tôi quyết định chọn phần mềm Ispring 
Suite10 để thiết kế bài giảng. Phần mềm này tạo những bài giảng có chất lượng, 
nội dung phong phú, có đầy đủ tính năng: Chèn video, chèn hình ảnh, file đa 
phương tiện, tạo hệ thống câu hỏi Quiz, thêm link của các trang web lên slide 
thuyết trình, tạo game Phần mềm iSpring Suite được tích hợp hoàn toàn với 
PowerPoint và được tối ưu hóa dành cho các thiết bị di động giúp học sinh có thể 
tự học dựa trên bài giảng điện tử. 
 * Bài dạy thực nghiệm tại khối lớp 6: 
 Ví dụ 3: Bài 17. Thời tiết và khí hậu. Biến đổi khí hậu 
 Ảnh trình chiếu Mục tiêu và ý tưởng 
 Trò chơi “Vệ sinh lớp 
 học” 
 Video biểu hiện biến đổi 
 khí hậu ở Việt Nam 
 Bài tập Quiz ghép nối 
 các hành động ứng phó 
 với biến đổi khí hậu phù 
 hợp với bức tranh mô tả 
 đúng về hành động đó. 
 10 
 Bài tập Quiz: Bài tập 
 trắc nghiệm 
 HS trả lời một số câu hỏi 
 để củng cố và khắc sâu 
 kiến thức bài học. 
 Video thông điệp: 
 “Nông thôn mới – Xanh 
 sạch đẹp” 
 Trong bài giảng tôi đã khai thác các tính năng của Ispring Suite10 để xây 
dựng mạch nội dung kiến thức rõ ràng, logic, khoa học giúp các em có thể tự học, 
tự sáng tạo. Tạo hứng thú học tập cho các em bằng hình thức mang tính chất mở, 
thoải mái qua các câu hỏi trắc nghiệm, trò chơi, video, hình ảnh sinh động giúp 
học sinh tư duy và ghi nhớ tốt hơn. 
2.3. Sử dụng phần mềm Google earth trong dạy học và giao bài tập cho HS 
 Sử dụng phần mềm địa cầu ảo (Google Earth) có thể lồng ghép trong các 
bài giảng mang tính khoảng cách như: Đo khoảng cách trên bản đồ, tính khoảng 
cách thực tế dựa vào tỉ lệ bản đồ, xác định phương hướng trên bản đồ, tìm đường 
đi trên bản đồ. Để thực tế hơn thì chúng ta sử dụng phần mềm Google Earth để 
tìm một vùng hay một địa điểm bất kỳ trên bề mặt Trái Đất và chúng ta có thể biết 
tọa độ chính xác của chúng. Như vậy cũng giúp cho học sinh thích thú học hỏi, 
tìm tòi các sự vật hiện tượng địa lí nhiều hơn. 
 Ví dụ 4: Bài 3. Tỉ lệ bản đồ. Tính khoảng cách thực tế dựa vào tỉ lệ bản 
đồ 
 Giáo viên sử dụng bản đồ để giảng dạy và lấy ví dụ đo khoảng cách từ 
Trường THCS Thái Hòa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Vì trên bản đồ là bao 
nhiêu sau đó tính khoảng cách trên thực địa. Tuy nhiên, để khẳng định khoảng 
cách đó trên thực tế giáo viên có thể vận dụng phần mềm Google earth để đo 
khoảng cách thực tế từ Trường THCS Thái Hòa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Ba 
Vì. 11 
 Kết quả sau tiết học giáo viên có sử dụng phần mềm Google Earth đã nhận 
được nhiều phản hồi tích cực từ học sinh, các em rất hào hứng, thích tìm tòi khám 
phá trên phần mềm địa cầu ảo. 
2.4. Ứng dụng các trò chơi học tập 
 Ứng dụng các trò chơi học tập: Quizizz, Plickers, Kahoot các ứng dụng trên 
OLM.vn, Google form, Padlet, Canvagiúp cho quá trình luyện tập, củng cố với 
học sinh thuận lợi, nhanh chóng hơn rất nhiều, hiệu quả cao và chính xác. Giúp 
cho quá trình đánh giá của giáo viên được hiệu quả và liên tục hơn, học sinh tự 
tin sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin mới, đồng thời có thể tự kiểm tra 
kiến thức của bản thân qua các bài tập online. 
 Giáo viên thường xuyên tạo các bài tập, bài kiểm tra ngắn cho học sinh 
luyện tập, củng cố kiến thức sau mỗi nội dung học lí thuyết để học sinh nắm vững 
kiến thức hơn, đồng thời tự kiểm tra được mức độ hiểu bài của bản thân. Qua hình 
thức kiểm tra trắc nghiệm, tự luận (trả lời ngắn) trên các ứng dụng trò chơi học 
tập giáo viên kiểm tra được nhanh, kết quả học tập được ghi lại chính xác và chi 
tiết. Giúp cho quá trình đánh giá học sinh toàn diện, nhanh chóng hơn, học sinh 
tự học rất tốt. 12 
 Dưới đây là một số hình ảnh minh họa ứng dụng các trò chơi học tập giáo 
viên đã sử dụng trong dạy học có tác dụng tích cực tạo được không khí lớp học 
thoải mái, vui tươi và việc tiếp thu kiến thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và 
hiệu quả. 
 Ứng dụng trò chơi Quizizz Ứng dụng trò chơi Plickers 
2.5. Tổ chức các trò chơi Powerpoint 
 Việc tổ chức các trò chơi Powerpoint trong dạy học đã lôi cuốn học sinh 
tham gia vào các hoạt động giáo dục rất tích cực, chủ động, hình thành tác phong 
nhanh nhẹn, phát huy tính sáng tạo, sự tương tác nhiều mặt của học sinh, giúp cho 
tiết học trở nên nhẹ nhàng, sinh động. 
 Sau đây là một số hình ảnh minh họa cho các tiết dạy ở khối lớp 6 mà giáo 
viên đã tổ chức các trò chơi Powerpoint trong dạy học đạt hiệu quả cao. 
 Ví dụ 5: Bài 15. Lớp vỏ khí của Trái Đất. Khí áp và gió 
 Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi “Đấu trường 47” 
 13 
 Ví dụ 6: Bài 16. Nhiệt độ không khí. Mây và mưa 
 Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi “Giải cứu đại dương” 
 Việc tổ chức các trò chơi Powerpoint trong dạy học được đánh giá cao vì 
có những ưu điểm như: 
 - Phát triển các giác quan 
 - Tạo điều kiện để phát triển kiến thức mới 
 - Tăng khả năng ghi nhớ 
 - Tạo tâm thế chủ động cho học sinh 
 Ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lí thực sự đem lại hiệu quả cao trong 
quá trình dạy học. Các phương tiện hiện đại giúp cho giáo viên có thể vận dụng 
linh hoạt các phương pháp dạy học, khắc phục được một số khó khăn về đồ dùng 
dạy học như: Giáo viên có thể sử dụng được các bản đồ, tranh ảnh, tư liệu, phim, 
video, các hình vẽ trong SGK, tự vẽ được các sơ đồ, biểu đồ thích hợp cho từng 
bài dạy từ đó nâng cao được hiệu quả dạy học. Qua thực tế thực hiện, tôi nhận 
thấy việc ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lí là rất cần thiết. Tuy nhiên, chúng 
ta không nên lạm dụng cần phải sử dụng linh hoạt, kết hợp sử dụng các phương 
tiện thiết bị dạy học hiện đại với việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy 
học hiện đại sao cho phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh. 
3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp 
 Trải qua một năm học áp dụng SKKN tôi nhận thấy tiết học ứng dụng 
CNTT trong dạy học đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều một tiết học không ứng dụng 
CNTT vào dạy học. Qua đó tạo cho học sinh hứng thú trong học tập, yêu thích 
môn Địa lí, đồng thời các em cũng tích cực, chủ động, sáng tạo hơn trong bài học 
cũng như vận dụng kiến thức vào thực tế địa phương nơi các em đang sinh sống. 
 Ứng dụng CNTT trong dạy học tại trường THCS Thái Hòa đã hỗ trợ giáo 
viên thực hiện dạy học, giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh một cách 
thuận lợi và hiệu quả. Việc được tiếp xúc nhiều với CNTT trong lớp học đã mang 
đến cho các em những kỹ năng tin học cần thiết, nhiều em đã trau dồi kỹ năng 
CNTT và sự sáng tạo trong việc thiết kế các slide cho những buổi thuyết trình trên 
lớp mà trước kia các em chưa thể làm được. 14 
 Kết quả cụ thể như sau: 
* Kết quả về chất lượng bộ môn: 
 Sau khi ứng dụng CNTT trong dạy học năm học 2023 – 2024 
 Tốt Khá Đạt Chưa đạt 
 Lớp Sĩ số 
 SL % SL % SL % SL % 
 6A 46 21 45,7 17 36,9 8 17,4 0 0 
 6B 46 20 43,5 22 47,8 4 8,7 0 0 
 6C 47 17 36,2 20 42,6 10 21,2 0 0 
 6D 47 20 42,6 20 42,6 7 14,8 0 0 
 Tổng 186 78 41,9 79 42,5 29 15,6 0 0 
* Kết quả về mức độ hứng thú với môn học: 
 Kết quả khảo sát mức độ tích cực, chủ động học tập của HS sau khi ứng dụng 
 CNTT trong dạy học năm học 2023-2024 
 Bình 
 Rất tích cực Tích cực Không tích cực 
 Lớp Sĩ số thường 
 SL % SL % SL % SL % 
 6A 46 19 41,3 20 43,5 4 8,7 3 6,5 
 6B 46 18 39,1 21 45,7 4 8,7 3 6,5 
 6C 47 19 40,4 19 40,4 5 10,6 4 8,6 
 6D 47 22 46,8 20 42,6 3 6,4 2 4,2 
 Tổng 186 78 41,9 80 43,0 16 8,6 12 6,5 
* Tiến hành điều tra đại trà qua phiếu: 
 Giáo viên phát phiếu cho các lớp 6 để thăm dò ý kiến học sinh ở các lớp. 
Yêu cầu học sinh hãy điền những thông tin vào phiếu những ý kiến của các nhân 
về việc học tập môn Địa lí có ứng dụng CNTT. 
 Mẫu phiếu và kết quả điều tra (Phụ lục). 
4. Hiệu quả của sáng kiến 
4.1. Hiệu quả về khoa học 
 Qua bảng thống kê kết quả khảo sát trước và sau khi thực hiện giải pháp 
ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng 
phân môn Địa lí lớp 6, tôi thấy hiệu quả về chất lượng bộ môn được nâng lên rõ 
rệt, cụ thể như sau: Tỉ lệ học sinh đạt Tốt, Khá đã cao hơn, tỉ lệ học sinh Đạt giảm 
xuống và không có học sinh Chưa đạt. Điều đó chứng tỏ rằng việc ứng dụng 
CNTT trong dạy học đã đem lại hiệu quả rất cao trong việc dạy và học. 15 
 Qua bảng so sánh mức độ tích cực, chủ động của học sinh, tôi thấy rằng số 
học sinh rất tích cực, chủ động trong các hoạt động học tập đã tăng lên rõ rệt, số 
học sinh không tích cực giảm đáng kể. Từ đó, làm tăng tính sáng tạo, hứng thú 
học tập cho học sinh, giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức bộ môn Địa lí vào thực 
tế địa phương. 
 Đây là một giải pháp nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo 
hướng tích cực phát huy năng lực, phẩm chất của học sinh, vì thế đã nhận được 
sự quan tâm và ủng hộ nhiệt tình từ phía nhà trường, các đồng nghiệp và các em 
học sinh. 
4.2. Hiệu quả về kinh tế 
 Sáng kiến đã mang lại một số hiệu quả về kinh tế như sau: 
- Giảm thiểu việc mua và phụ thuộc vào nguồn tài liệu bài tập bên ngoài cho cả 
giáo viên và học sinh. 
- Đề tài chỉ ra phương pháp xây dựng các bài tập nhiều cấp độ dựa trên nguồn tư 
liệu mở có sẵn trên mạng internet. 
- Giảm thiểu thời gian trên lớp của giáo viên và học sinh. 
- Nâng cao hiệu suất công việc của giáo viên, giúp học sinh có hứng thú hơn với 
môn học và nghiên cứu khoa học. 
- Tận dụng được kho thông tin, hình ảnh khổng lồ trên mạng Internet, các phần 
mềm, các ứng dụng trò chơi tạo lập bản đồ, bảng số liệu nhanh chóng và chính 
xác, từ đó giúp chúng ta cập nhật thông tin, tiết kiệm thời gian, kinh phí trong việc 
chuẩn bị thiết bị, đồ dùng dạy học, bảng phụ 
4.3. Hiệu quả về xã hội 
 Dưới đây là một số hiệu quả về xã hội mà sáng kiến mang lại: 
- Trực tiếp nâng cao chất lượng bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Nhờ việc 
tìm kiếm thông tin để đưa vào bài dạy mà giáo viên đã tích lũy được một khối 
kiến thức ngày càng lớn và phong phú. 
- Giúp giáo viên bổ sung và nâng cao kiến thức chuyên môn cũng như hiệu quả 
giảng dạy. 
- Giúp học sinh tiếp cận các kiến thức mới mẻ, thời sự, có phương pháp học tập 
đúng đắn. 
- Rèn luyện cho học sinh năng lực và ý thức tự học thông qua mạng Internet. 
- Các phần mềm, các ứng dụng trò chơi học tập khoa học hiện đại được đưa vào 
nhằm đem đến cái nhìn tổng quan cho học sinh về môn học nói riêng và quá trình 
nghiên cứu khoa học nói chung. 
- Tạo điều kiện cho các em tiếp cận, thích nghi với công nghệ mới. Đây cũng 
chính là những mầm non sẽ chinh phục và phát triển CNTT đi xa trong tương lai. 16 
5. Tính khả thi 
 Nếu chúng ta biết vận dụng CNTT một cách đúng mức, có kế hoạch và có 
khoa học chắc chắn nó sẽ trở thành phương pháp dạy học có hiệu quả rất cao trong 
quá trình dạy, học sinh mau chóng tiếp cận được với nguồn tri thức hiện đại, tích 
lũy nhanh chóng được vốn tri thức khổng lồ, đặc biệt là trong kỷ nguyên của cách 
mạng khoa học kĩ thuật đang phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất. Giúp người 
dạy có thể tổ chức tốt việc truyền tải kiến thức, học sinh lĩnh hội kiến thức trong 
quá trình dạy học, đặc biệt là phát triển năng lực CNTT để góp phần nâng cao 
hiệu quả, chất lượng phân môn Địa lí nói riêng cũng như nâng cao chất lượng giáo 
dục của các môn học ngày một cao hơn là cần thiết. 
 Sáng kiến có khả năng áp dụng vào thực tiễn công tác tại trường THCS, tại 
địa phương. Ngoài ra, có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành, sáng kiến 
này cũng có thể dùng làm tài liệu cho giáo viên và học sinh các trường THCS. 
 PHẦN III – KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 
1. Kết luận 
 Cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì việc đổi mới phương 
pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục là hết sức cần thiết. Hiện nay 
ngoài các phương pháp dạy học hiện đại, việc phát triển ứng dụng CNTT trong 
dạy học sẽ góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kích thích được 
tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Đối với chương trình SGK 6 mới hiện nay 
được thiết kế với rất nhiều tranh ảnh, bản đồ, bảng biểu... vì vậy theo tôi việc ứng 
dụng CNTT vào soạn giảng giáo án điện tử sẽ đem lại kết quả học tập rất tốt, đồng 
thời phát huy được tính tích cực của học sinh, cho nên tôi đã chọn đề tài này để 
nghiên cứu và thực nghiệm trong quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những 
kết quả khả quan, đồng thời rút ra được một số kinh nghiệm xin trao đổi cùng các 
bạn đồng nghiệp để cùng nhau tìm ra phương pháp dạy học môn Lịch sử và Địa 
lí đạt kết quả cao hơn. 
2. Một số kiến nghị, đề xuất 
* Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo 
- Mở lớp tập huấn, đào tạo tin học nâng cao cho giáo viên trong huyện (đặc biệt 
là đối với những giáo viên trẻ và những giáo viên khác có nhu cầu học thêm để 
nâng cao trình độ tin học của mình). 
- Tiếp tục nâng cao, mở rộng cho các trường trong toàn huyện một ngân hàng kho 
học liệu điện tử độc lập. 
- Động viên, khuyến khích kịp thời những tập thể, cá nhân tiên phong trong phong 
trào phát triển CNTT ở các trường hoặc có thành tích cao trong lĩnh vực nghiên 17 
cứu, ứng dụng CNTT có hiệu quả trong dạy học, phục vụ và làm việc tại địa 
phương. 
* Đối với nhà trường 
- Tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp kho học liệu điện tử của trường. 
- Tổ chức chuyên đề ứng dụng CNTT vào giảng dạy cho giáo viên. 
- Tham vấn, kêu gọi xã hội hóa để lắp đặt đầy đủ ti vi (máy chiếu), máy tính tại 
các phòng học và phòng bộ môn. 
- Bổ sung, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống ti vi (máy chiếu), máy tính để đảm bảo 
đủ cho học sinh học và thực hành trong quá trình dạy học. 
* Đối với giáo viên 
- Tiếp tục theo học, bồi dưỡng để nâng cao kiến thức cơ bản về tin học. Mạnh dạn 
ứng dụng CNTT vào dạy học thường xuyên. Hưởng ứng sâu rộng các cuộc thi 
công nghệ thông tin do trường, Phòng Giáo dục phát động. Tích cực học hỏi đồng 
nghiệp, dự giờ thăm lớp để nâng cao trình độ chuyên môn. 
- Hướng dẫn học sinh sử dụng các ứng dụng CNTT trên các thiết bị thông minh 
để hoàn thành các nội dung trong các bài học cụ thể. Xây dựng các câu hỏi, bài 
tập để các em được vận dụng các kĩ năng CNTT của mình, có thể khai thác thông 
tin và thực hiện các bài tập theo nhóm tại nhà, báo cáo kết quả trước tập thể lớp. 
 Trên đây là một số vấn đề về lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT 
trong dạy học phân môn Địa lí lớp 6. Tuy nhiên, việc thực hiện chưa được nhiều 
năm, nhiều lớp, vì vậy chưa thể hoàn thiện được, tôi sẽ tiếp tục thực hiện trong 
những năm học tiếp theo và ở tất cả các khối lớp. Rất mong nhận được ý kiến 
đánh giá của cấp trên và sự quan tâm của các đồng nghiệp để tôi có thể thực hiện 
việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất 
lượng phân môn Địa lí lớp 6 trong giảng dạy bộ môn được tốt hơn. 
 Xin trân trọng cảm ơn! 
 Xác nhận của BGH Thái Hòa, Ngày 10 tháng 05 năm 2024 
 Người viết 
 Phùng Thị Phượng 
 18 
PHỤ LỤC 
 PHIẾU ĐIỀU TRA Ý KIẾN HỌC SINH 
 Trong các tiết dạy học phân môn Địa lí trên lớp, được học bằng các thiết bị 
 hiện đại và ứng dụng CNTT em cảm thấy 
 Không Ý kiến 
 STT NỘI DUNG Đồng ý 
 đồng ý khác 
 1 Dễ hiểu bài 
 2 Khó hiểu bài 
 3 Bài dạy sôi nổi, cảm thấy thích thú 
 4 Hiểu biết được nhiều kiến thức mới lạ 
 5 Cảm thấy chán học phân môn Địa lí vì 
 khó hiểu bài 
 6 Có nhiều tranh ảnh, bản đồ, video, các 
 trò chơi sinh động hơn các tiết dạy 
 bình thường 
 7 Dễ nhớ và nhớ lâu kiến thức hơn 
 9 Kiến thức quá nhiều nên khó nhớ 
 KẾT QUẢ THỐNG KÊ 
 Số phiếu phát ra 186 phiếu, số phiếu thu về 186 phiếu 
 Không Ý kiến 
 STT NỘI DUNG Đồng ý 
 đồng ý khác 
 1 Dễ hiểu bài 182 0 4 
 2 Khó hiểu bài 0 186 0 
 3 Bài dạy sôi nổi, cảm thấy thích thú 184 0 2 
 4 Hiểu biết được nhiều kiến thức mới lạ 186 0 0 
 5 Cảm thấy chán học phân môn Địa lí vì 0 180 6 
 khó hiểu bài 
 6 Có nhiều tranh ảnh, bản đồ, video, các trò 186 0 0 
 chơi sinh động hơn các tiết dạy bình 
 thường 
 7 Dễ nhớ và nhớ lâu kiến thức hơn 186 0 0 
 9 Kiến thức quá nhiều nên khó nhớ 0 183 3 
 19 
 MỤC LỤC 
 NỘI DUNG TRANG 
 PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ 1 
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1 
2. Mục tiêu của đề tài 2 
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 2 
4. Phương pháp nghiên cứu 2 
5. Cơ sở lí luận và thực tiễn 3 
 PHẦN II - NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 3 
1. Thực trạng của vấn đề 3 
1.1. Thuận lợi 3 
1.2. Khó khăn 5 
1.3. Số liệu điều tra trước khi thực hiện giải pháp 5 
2. Giải pháp thực hiện ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng 6 
thú học tập và nâng cao chất lượng phân môn Địa lí lớp 6 
2.1. Xây dựng bài dạy Powerpoint 6 
2.2. Xây dựng bài dạy Elearning 9 
2.3. Sử dụng phần mềm Google earth trong dạy học và giao bài tập 10 
cho HS 
2.4. Ứng dụng các trò chơi học tập 11 
2.5. Tổ chức các trò chơi Powerpoint 12 
3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp 13 
4. Hiệu quả của sáng kiến 14 
4.1. Hiệu quả về khoa học 14 
4.2. Hiệu quả về kinh tế 15 
4.3. Hiệu quả về xã hội 15 
5. Tính khả thi 16 
 PHẦN III – KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 16 
1. Kết luận 16 
2. Một số kiến nghị, đề xuất 16 
PHỤ LỤC 18 
 20 
 DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 
 STT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ 
 1 CNTT Công nghệ thông tin 
 2 GD Giáo dục 
 3 GV Giáo viên 
 4 HS Học sinh 
 5 KHBD Kế hoạch bài dạy 
 6 KHKT Khoa học kĩ thuật 
 7 PGD Phòng giáo dục 
 8 SGK Sách giáo khoa 
 9 SKKN Sáng kiến kinh nghiệm 
 10 SL Số lượng 
 11 THCS Trung học cơ sở 
 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 
- Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí 6 (NXB Giáo dục Việt Nam). 
- Sách giáo viên Lịch sử và Địa lí 6 (NXB Giáo dục Việt Nam). 
- Dạy học phát triển năng lực Địa lí THCS (NXB ĐH Sư phạm) 
- Tài liệu ứng dụng CNTT vào dạy học (NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội). 
- Một số tài liệu trên Internet. 

File đính kèm:

  • pdfskkn_ung_dung_cntt_trong_day_hoc_nham_tao_hung_thu_hoc_tap_v.pdf