SKKN Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết (Trường MN Chu Minh)

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người mà như lời
của Bác Hồ đã từng nói “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý
báu của dân tộc. Chúng ta phải biết giữ gìn nó'”. Đặc biệt trong công tác giáo dục
Mầm Non cho đất nước, chúng ta lại càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với
việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo các cháu trở thành những
con người phát triển toàn diện.

Thế giới của trẻ thơ là thế giới của từng ngàn câu hỏi: “Tại sao? như thế
nào?...” mà trẻ cần khám phá. “Một giọt sương long lanh trong buổi sớm mai”
cùng khiến cho lòng bé xao động. Để giúp trẻ nói lên cảm xúc, hiểu được sự vật
hiện tượng xung quanh, người lớn đặc biệt là giáo viên Mầm Non cần quan tâm
hướng dẫn cho trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách tích cực.

Đối với trẻ 24-36 tháng tuổi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ càng trở nên
đặc biệt quan trọng, vì lúc này cơ quan phát âm và tai nghe ngôn ngữ đã phát
triển và hoàn thiện. Trẻ đã có khả năng phát triển hầu hết các âm đơn và thanh
điệu, số tượng từ tăng nhanh hệ thống âm vị dần dần xuất hiện trong các từ của
trẻ. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp trẻ phát âm sai hoặc chưa chính xác.
Ngôn ngữ không những đóng góp vai trò rất lớn trong việc giáo dục trí tuệ
cho trẻ mà ngôn ngữ còn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, dáo
dực thẩm mỹ, giáo dục thể lực ... Đặc biệt còn là phương tiện giáo dục trẻ toàn
diện vì: khi trẻ đã hiểu được lời nói của người lớn thì trẻ sẽ nhận thức và hiểu
được những từ: nên không, cần phải, không được...

Từ đó tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết ” làm đề tài nghiên cứu trong năm học 2022 - 2023.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đưa ra “Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết”

Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ cho ảnh rất lớn đến sự phát triển
của trẻ cho nên chúng ta cần phải đề ra những giải pháp, biện phát cụ thể nhằm
phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc, phù hợp với lứa tuổi. Việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ không phải việc làm trong một sớm một chiều mà tôi xác định đây là
nhiệm vụ khó khăn và lâu dài đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, tìm tòi sáng
tạo mới đem lại kết quả cao.

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết.

IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM

Tất cả trẻ lớp trẻ 24 – 36 tháng trường Mầm non Chu Minh.

V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài này được nghiên cứu với một số phương pháp sau:

1. Phương pháp quan sát sư phạm:

Quan sát các hoạt động của trẻ: Dự giờ, quan sát hoạt động hàng ngày của trẻ để tìm hiểu thái độ của trẻ trong các hoạt động

2. Phương pháp trò chuyện:

Trò chuyện, trao đổi với trẻ, giáo viên, cha mẹ trẻ, trẻ để nắm thông tin, đánh giá tình hình, tìm hiểu thực tế đối tượng.

3. Phương pháp điều tra:

Điều tra trên trẻ nhằm tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của trẻ đối với các hoạt động.

4. Phương pháp kiểm tra đánh giá:

Theo dõi, đánh giá thực trạng, quá trình thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết tập nói để từ đó điều chỉnh cho phù hợp.

VI. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

1. Phạm vi nghiên cứu

Áp dụng đối với tất cả các trẻ lớp trẻ 24 – 36 tháng tuổi xã Chu Minh- Ba Vì – Hà Nội trong năm học 2022 –2023.

2. Kế hoạch nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 9/2022 đến tháng 5/2023

Tháng 9: Nghiên cứu lý luận đề tài.

Tháng 10: Tìm hiểu thực trạng, khảo sát kết quả trẻ tham gia hoạt động, lập kế hoạch nghiên cứu đề tài.

Tháng 11 - 12: Nghiên cứu một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết tập nói

và áp dụng vào thực tiễn.

Tháng 1 - 2: Vận dụng các giải pháp đã nghiên cứu vào thực tế.

Tháng 2 - 4: Tiếp tục nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, đưa ra một số biện pháp.

Tháng 5: Khảo sát, đánh giá kết quả thực hiện, hoàn thành đề tài, báo cáo kết quả lên nhà trường.

docx 12 trang Bình An 02/04/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết (Trường MN Chu Minh)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết (Trường MN Chu Minh)

SKKN Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết (Trường MN Chu Minh)
 MỘT VÀI KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 – 36 
 THÁNG THÔNG QUA NHẬN BIẾT
 A. PHẦN MỞ ĐẦU
 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
 Ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người mà như lời
của Bác Hồ đã từng nói “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý
báu của dân tộc. Chúng ta phải biết giữ gìn nó'”. Đặc biệt trong công tác giáo dục
Mầm Non cho đất nước, chúng ta lại càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với
việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo các cháu trở thành những
con người phát triển toàn diện.
 Thế giới của trẻ thơ là thế giới của từng ngàn câu hỏi: “Tại sao? như thế
nào?...” mà trẻ cần khám phá. “Một giọt sương long lanh trong buổi sớm mai”
cùng khiến cho lòng bé xao động. Để giúp trẻ nói lên cảm xúc, hiểu được sự vật
hiện tượng xung quanh, người lớn đặc biệt là giáo viên Mầm Non cần quan tâm
hướng dẫn cho trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách tích cực.
 Đối với trẻ 24-36 tháng tuổi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ càng trở nên
đặc biệt quan trọng, vì lúc này cơ quan phát âm và tai nghe ngôn ngữ đã phát
triển và hoàn thiện. Trẻ đã có khả năng phát triển hầu hết các âm đơn và thanh
điệu, số tượng từ tăng nhanh hệ thống âm vị dần dần xuất hiện trong các từ của
trẻ. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp trẻ phát âm sai hoặc chưa chính xác.
Ngôn ngữ không những đóng góp vai trò rất lớn trong việc giáo dục trí tuệ
cho trẻ mà ngôn ngữ còn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, dáo
dực thẩm mỹ, giáo dục thể lực ... Đặc biệt còn là phương tiện giáo dục trẻ toàn
diện vì: khi trẻ đã hiểu được lời nói của người lớn thì trẻ sẽ nhận thức và hiểu
được những từ: nên không, cần phải, không được...
 Từ đó tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một vài kinh nghiệm phát triển 
ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận biết ” làm đề tài nghiên cứu trong 
năm học 2022 - 2023.
 II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
 Đưa ra “Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng 
thông qua nhận biết” 
 Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ cho ảnh rất lớn đến sự phát triển
của trẻ cho nên chúng ta cần phải đề ra những giải pháp, biện phát cụ thể nhằm
phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc, phù hợp với lứa tuổi. Việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ không phải việc làm trong một sớm một chiều mà tôi xác định đây là
nhiệm vụ khó khăn và lâu dài đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, tìm tòi sáng
tạo mới đem lại kết quả cao.
 III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
 Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua 
nhận biết. 
 IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM 
 Tất cả trẻ lớp trẻ 24 – 36 tháng trường Mầm non Chu Minh.
 V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
 Đề tài này được nghiên cứu với một số phương pháp sau:
 1. Phương pháp quan sát sư phạm:
 Quan sát các hoạt động của trẻ: Dự giờ, quan sát hoạt động hàng ngày của 
trẻ để tìm hiểu thái độ của trẻ trong các hoạt động
 2. Phương pháp trò chuyện: 
 Trò chuyện, trao đổi với trẻ, giáo viên, cha mẹ trẻ, trẻ để nắm thông tin, 
đánh giá tình hình, tìm hiểu thực tế đối tượng.
 3. Phương pháp điều tra: 
 Điều tra trên trẻ nhằm tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của trẻ đối với 
các hoạt động.
 4. Phương pháp kiểm tra đánh giá: 
 Theo dõi, đánh giá thực trạng, quá trình thực hiện các giải pháp nhằm nâng 
cao hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua nhận 
biết tập nói để từ đó điều chỉnh cho phù hợp.
 VI. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
 1. Phạm vi nghiên cứu
 Áp dụng đối với tất cả các trẻ lớp trẻ 24 – 36 tháng tuổi xã Chu Minh- Ba Vì 
– Hà Nội trong năm học 2022 –2023. 
 2. Kế hoạch nghiên cứu
 Đề tài được tiến hành từ tháng 9/2022 đến tháng 5/2023
 Tháng 9: Nghiên cứu lý luận đề tài.
 Tháng 10: Tìm hiểu thực trạng, khảo sát kết quả trẻ tham gia hoạt động, lập 
kế hoạch nghiên cứu đề tài.
 Tháng 11 - 12: Nghiên cứu một vài kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 
24 – 36 tháng thông qua nhận biết tập nói 
 và áp dụng vào thực tiễn.
 Tháng 1 - 2: Vận dụng các giải pháp đã nghiên cứu vào thực tế.
 Tháng 2 - 4: Tiếp tục nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, đưa ra một số biện 
pháp.
 Tháng 5: Khảo sát, đánh giá kết quả thực hiện, hoàn thành đề tài, báo cáo kết 
quả lên nhà trường. 3
 B. PHẦN NỘI DUNG
 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
 1. Cơ sở lý luận
 Thông qua môn học nhận biết tập nói ở lứa tuổi 24-36 tháng giúp trẻ nhận
thức tốt hơn về thế giới xung quanh, từ đó hình thành hệ thống hóa kiến thức
một cách chính xác, khoa học. Nhận thức về môn học nhận biết tập nói có liên
quan mật thiết về quá trình phát triển toàn diện của trẻ, thông qua môn nhận biết
tập nói sớm hình thành ở trẻ 24-36 tháng có khả năng tìm tòi, quan sát, khám phá, 
phát âm chính xác.Trên cơ sở đó bổ sung thêm vốn ngôn ngữ và góp phần tích cực 
vào việc phát triển trí tuệ và thể chất cho trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng.
 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ,
khả năng trình bày có lôgic có trình tự, chính xác và có hình ảnh một nội dung
nhất định. Để trẻ giao tiếp mạnh dạn, tự tin trước mọi người, ngôn ngữ mạch lạc
giúp trẻ nghe dễ hiểu. Trong những năm qua môn nhận biết tập nói đã có nhiều
hình thức đổi mới và thu được kết quả đáng khích lệ cho trẻ 24-36 tháng.
 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
 Năm học 2022- 2023 bản thân tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 
trẻ 24 – 36 tháng tuổi xã Chu Minh. Là một xã có mặt bằng dân trí trung bình, 
nhận thức của phụ huynh về giáo dục rất hạn chế. Tuy năm học này nhà trường có 
03 nhóm trẻ 24 – 36 tháng, tổng số trẻ huy động được là 80 cháu,trẻ còn sợ sệt, 
nhút nhát, không tự tin trong các hoạt động và giao tiếp cùng cô.
 2.1. Thuận lợi
 - Bản thân là một giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn, nhiệt tình, 
yêu nghề mến trẻ. Có ý thức trong việc học tập nâng cao trình độ.
 - Đã xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung tổ chức hoạt động phù hợp chủ 
đề, phù hợp với quá trình phát triển của trẻ.
 - Sự quan tâm của các ban ngành lãnh đạo, chính quyền địa phương. 
 - Luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo hướng dẫn của Ban giám hiệu nhà 
trường, tổ chuyên môn.
 - Bên cạnh đó được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của nhà trường mua sắm cơ 
sở vật chất, các đồ dùng học liệu cần thiết và thường xuyên tổ chức các buổi tập 
huấn nâng cao tay nghề và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngủ giáo viên. Giáo viên 
thường xuyên tự làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.
 - Hơn nữa là ý thức học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè đồng nghiệp đã thúc đẩy 
bản thân tìm ra một vài kinh nghiệm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
 2.2. Khó khăn
 - Trẻ trong lớp lần đầu tiên đến trường nên chưa có nền nếp học tập. Tuy 
cùng một độ tuổi nhưng khả năng hoà nhập không đồng đều. Một số trẻ còn nhút 4
nhát, sợ sệt, nhiều trẻ khóc nhè, không chịu vào lớp một số trẻ đi học chưa đều, do 
sức khỏe hoặc hạn chế về thể chất.
 - Vốn hiểu biết về thế giới xung quanh còn chưa có, trẻ sử dụng chủ yếu là 
ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ nên khi đến lớp tham gia các hoạt động trẻ thường sợ là cô 
giáo sẽ hỏi mình và mình sẽ phải trả lời.
 - Ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ còn quá ít.
 - Phụ huynh chưa quan tâm, phối hợp với giáo viên trong quá trình chăm sóc 
giáo dục trẻ. 
 - Phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chưa thật sự đổi mới, thiếu 
sáng tạo.
 2.3. Khảo sát đầu năm
 Tôi đã xây dựng các tiêu chí đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thông 
qua các hoạt động của trẻ 24 – 36 tháng tuổi. Đánh giá thực trạng trên các tiêu chí 
đã xây dựng. 
TT Nội dung KẾT QUẢ
 Kết quả khi chưa áp dụng đề tài
 Số trẻ Đạt Chưa đạt
 1 Chú ý quan sát lắng nghe 28 8 cháu = 28,5% 20cháu = 71,4%
 2 Trả lời câu hỏi đúng 28 7 cháu = 25% 21 cháu = 75%
 3 Trẻ hứng thú khám phá tìm tòi 28 9 cháu = 32% 19cháu = 67,8%
 4 Trẻ phân biệt đúng sự vật hiện 28 8 cháu = 28,5% 20cháu = 71,4%
 tượng
 5 Phát âm chính xác tên gọi đặc 28 6 cháu = 21,1% 22cháu = 78,5%
 điểm của dự vật hiện tượng và 
 trẻ làm quen Tiếng Việt
 Từ kết quả khảo sát trên, tôi đã suy nghĩ và tìm ra được những nguyên
nhân chính dẫn đến kết quả trẻ mắc nhiều lỗi về những ngôn ngữ. Vì vậy tôi đã
mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng đề tài ''Một vài kinh nghiệm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 24 - 36 thông qua nhận biết'' như sau:
 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 
CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG THÔNG QUA NHẬN BIẾT
 Để đặt ra các biện pháp thực hiện trước tiên chúng ta cần thấy rõ được vai
trò và tầm quan trọng của môn: Nhận biết tập nói, đối với trẻ 24-36 tháng tuổi.
Khi trẻ đã tiếp xúc với mọi vật xung quanh thông qua các giờ học: Nhận
biết tập nói. Còn giúp trẻ lĩnh hội được các kiến thức vì thông qua đồ dùng đồ
chơi...giúp trẻ hiểu và gọi tên một cách chính xác .
 Môn nhận biết tập nói còn giúp trẻ hoàn thiện về đạo đức, trí tuệ thẩm mỹ,
thể chất, lao động, không những thế nó còn là phương tiện cần thiết trong giao tiếp, 5
giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh, hình thành cho trẻ
những tư tưởng tình cảm tử tốt đẹp, góp phần tích cực vào việc hình thành và phát 
triển ngôn ngữ tốt, tạo cho trẻ thêm vui tươi và hồn nhiên.
 1. Rèn luyện nề nếp thói quen sử dụng ngôn ngữ tích cực cho trẻ ngay 
từ đầu năm học
 Nề nếp thói quen là tính tất yếu chi phối đến việc sử dụng ngôn ngữ của
trẻ. Xã hội càng văn minh thì vấn đề giáo dục hành vi văn hóa trong giao tiếp
càng trở nên quan trọng. Ngay từ lứa tuổi Mầm Non người lớn đặc biệt là giáo
viên Mầm Non tôi luôn chú trọng rèn luyện các nề nếp hthành thói quen, hành
vi lễ giáo cho trẻ, uốn nắn trẻ mạnh dạn, tự nhiên khi giao tiếp với người khác,
không rụt rè, e sợ âm lượng phát ra đủ nghe, không la hét, nói tục, chửi bậy, biết
dùng ngôn ngữ êm dịu, nhẹ nhàng tình cảm để thể hiện tình cảm yêu thương đối
với bạn bè, cô giáo và người thân. Vì vậy trong công tác giáo dục, cô giáo và
người lớn phải thực sự gương mẫu về lời ăn tiếng nói, nghiêm khắc và uốn nắn
kịp thời khi trẻ nói sai, nói tróng không nói thiếu chủ ngữ, vị ngữ, nói ngược vị
trí câu.
 Ví dụ: Khi trẻ muốn lấy quả bóng của bạn trẻ sẽ nói ''Đưa đây'' tôi sẽ sửa
cho cháu nói lại, bạn cho tôi mượn quả bóng ... Giáo dục cháu biết cảm ơn, xin lỗi, 
không nói dối, lễ phép với người lớn khi giao tiếp, biết chào hỏi cô khi đến lớp, 
chào hỏi ông bà, bố mẹ và người lớn.
 Trong sinh hoạt hàng ngày tôi chú ý rèn luyện cho các cháu có thói quen
vệ sinh các nhân, vệ sinh công cộng tập cho trẻ có thói quen tự phục vụ như: Tự đi 
dép, đội mũ, cất đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định.
 Trong tiết học tôi chú ý rèn cho các cháu ngồi học ngay ngắn, không nằm
ra chiếu, ra bàn, không được chạy đi chạy lại trong khi học, biết lắng nghe và trẻ 
lời câu hỏi của cô.
 2. Luyện phát âm cho trẻ
 - Rèn luyện thính giác ngôn ngữ cho trẻ: Trẻ học nói được là nhờ vào sự vận 
động của thính giác (trẻ bị điếc sẽ không thể học nói được ). Vì vậy việc rèn luyện 
thính giác ngôn ngữ cho trẻ là nội dung hàng đầu trong quá trình dạy trẻ nói.
Rèn luyện thính giác ngôn ngữ là rèn luyện khả năng tri giác âm thanh
ngôn ngữ, giúp trẻ phân biệt được âm thanh nói chung.
 Ví dụ: Âm thanh của từ ''âm thanh của từ ''Hoa'' khác với âm thanh của''
lá''. Muốn trẻ rèn luyện khả năng tri giác âm thanh ngôn ngữ được tốt cần đặt trẻ 
vào trong môi trường âm thanh (bao gồm âm thanh nói chung và âm thanh ngôn 
ngữ nói riêng) trẻ càng thu nhận được tín hiệu ngôn ngữ bao nhiêu thì sự phát triển 
lời nói càng nhanh chóng bấy nhiêu vì vậy chúng ta cần phải lặp đi lặp lại nhiều 
lần giúp trẻ phát âm đúng.
 Ví dụ: Khi dạy bài thơ ''con tàu'' khi trẻ đọc đến từ ''xanh xanh'' một số trẻ
sẽ phát âm sai vì vậy cô giáo cần chú ý, kiên trì sửa sai cho trẻ bằng cách (không 6
lặp lại lỗi sai của trẻ) không cáu gắt làm trẻ mất hứng thú mà cô sẽ phát âm lại
chậm, rõ và cho trẻ phát âm theo cô nhiều lần.
 - Luyện cơ quan phát âm cho trẻ. Cơ quan phát âm đóng vai trò quan trọng 
trong quá trình trẻ nói, nó điều khiển bộ máy phát âm của trẻ. Chúng ta cần rèn 
luyện cơ quan phát âm cho trẻ hai nội dung sau:
 Luyện vận động tự do nhằm giúp các bộ phận môi, răng, lưỡi, chuyển
động nhịp nhàng, linh hoạt. Đối với trẻ Mầm Non, trẻ học mà chơi, chơi mà học.
Vì vậy giáo viên cần vận dụng khéo léo và kinh hoạt các phương pháp, biện
pháp phù hợp để lôi cuốn trẻ. Tôi đã suy nghĩ và lựa chợn phương pháp sử dụng
trò chơi để luyện bộ máy phát âm cho trẻ.
 Ví dụ: Cô nói: Trời tối rồi các con hãy ''gọi gà'' để cho gà ăn nào ! cô
hướng dẫn cho trẻ hai môi bặm vào nhau thật chặt và phát âm (Bập ...Bập...Bập)
như thế tôi đã luyện tập cho trẻ biết điều khiển hoạt động của môi và hàm, hoặc
cho trẻ làm động tác ''nhai kẹo cao su'', hay cho trẻ chậc lưỡi... tôi đã luyện tập
cho trẻ biết điều khiển làm theo hai hướng.
 - Luyện thở ngôn ngữ: Qua quá trình quan sát và tiếp xúc với trẻ tôi nhận 
thấy đặc điểm của trẻ là chưa biết điều khiển nhịp thở của mình khi nói chưa phù 
hợp, có nhiều trẻ nói rất nhanh vừa nói vừa thở. Hoặc ngược lại có những trẻ nói 
rất chậm ê, a...Vì vậy điều khiển sự thở là không thể thiếu trong quá trình rèn luyện 
phát âm cho trẻ.
 Trò chơi được sử dụng rất nhiều, đa dạng phong phú trong quá trình giáo
dục ngôn ngữ cho trẻ. Ví dụ: Để luyện thở ngôn ngữ cho trẻ, trong khi cho trẻ tập 
thể dục tôi có thể cho trẻ khởi động bằng các trò chơi như : Thổi nơ bay cao, xa, 
thổi chong chóng, gà gáy ... Thông qua các trò chơi này giúp cho trẻ hít thở được 
đều đặn dần dần trẻ sẽ biết cách hơi khi nói.
 - Luyện giọng: Giọng nói giúp trẻ thể hiện thái độ, tình cảm của mình trong 
từng lời nói như: âu yếm, thủ thỉ, to, nhỏ... Ví dụ: Khi cho trẻ đọc bài thơ ''yêu mẹ'' 
Giáo viên cần đọc mẫu bài thơ cho trẻ nghe 2-3 lần, cô đọc chậm và rõ thể
hiện sắc thái tình cảm của mình trong bài thơ sau đó cho trẻ đọc theo cô.Trong
khi trẻ đọc cô sẽ giúp trẻ điều chỉnh giọng đọc để trẻ thể hiện tình cảm của mình
đối với mẹ .
 3. Dạy trẻ nói thông qua đồ chơi, vật thật, tranh minh họa.
 Trong khi dạy cháu không nhất thiết cứ phải tranh hoặc vật thật hoặc cho
trẻ dạo chơi thăm quan mà tùy vào nội dung của đề tài để tôi chọn giáo cụ trực
quan cho phù hợp. 
 Ví dụ 1: Khi dạy bài Qủa cam tôi đã suy nghĩ và nêu câu hỏi. Nên chọn
giáo cụ trực quan nào để cháu học có kết quả tốt hơn. Nếu tôi sử dụng tranh minh 
họa thì trẻ sẽ không có cơ hội sử dụng các giác quan của mình, giờ học sẽ không 
sinh động, trẻ sẽ chán chóng quên. Vì vậy tôi đã quyết định dạy bằng vật thật ''Quả 
cam thật'' sau đó mới cho trẻ quan sát tranh. Bởi vì khi trẻ được học bằng quả cam 
thật trẻ sẽ được sử dụng các giác quan của mình như: xúc giác, vị giác, thính giác... 7
giờ học sinh động gây hứng thú đối với trẻ, trẻ tiếp thu kiên thức một cách nhẹ 
nhàng và vững chắc hơn.
 Ví dụ 2: Khi dạy bài''con gà trống'' tôi lại chọn phương pháp cho trẻ đi
dạo chơi thăm quan trước (cho cháu đi thăm chuồng gà thật) rồi mới dạy cháu
bằng tranh. Bởi vì nếu dạy bằng vật thật ''con gà trống'' thì tôi sẽ không giới
thiệu được tỉ mỉ những chi tiết của con vật. Thực tế qua quá trình tiếp xúc dạy các 
cháu tôi nhận thấy trong một lớp không phải cháu nào cũng nhận thức được như 
nhau, nếu tôi đặt những câu hỏi dễ thì với những cháu nhận thức nhanh cháu đó sẽ 
không phát triển được trí thông minh, còn nếu đặt câu hỏi khó thì với những cháu 
nhận thức chậm hơn sẽ không tiếp thu được. Chính vì vậy mà ngay từ những buổi 
đầu tiên đến lớp. Tôi đã đi sâu vào tìm hiểu tâm lý trẻ và đã phân cháu theo từng 
loại có sự tiếp thu bài khác nhau cụ thể như sau: 
 Tổng số trẻ tôi dạy là 28 cháu:
 Cháu có khả năng nhận thức nhanh là:10 cháu
 Cháu nhận thức được theo yêu cầu là: 10 cháu
 Cháu nói giọng nhận thức chậm là: 8 cháu.
 Ví dụ: Khi dạy bài Quả xoài, đu đủ. Tôi đã sử dụng các câu hỏi sau:
Với những cháu có khả năng nhận thức bài dễ dàng tôi dùng câu hỏi: Quả gì đây? 
cái gì đây? (đồng thời chỉ vào, vỏ hạt ). Với những cháu có khả năng nhận thức 
nhanh, ngoài những câu hỏi đã dùng cho các cháu trên, tôi đã sử dụng thêm các 
câu hỏi nhằm cho trẻ phân biệt được mùi vị, hình dáng bên ngoài của các loại quả 
đó.
 Ví dụ: Khi tôi hỏi quả táo và quả đu đủ, quả nào ăn ngọt, quả nào ăn vừa
chua vừa ngọt ? Khi nghe tôi hỏi như vậy, có một số cháu sẽ trẻ lời ngay là ''Quả 
đu đu ăn ngọt, còn quả táo ăn vừa chua vừa ngọt ạ! nhưng cũng có cháu chậm tiếp 
thu và nói ngọng vì vậy trong quá trình dạy tôi thường đặt câu hỏi để trẻ trả lời 
nhiều hơn, đặc biệt với những cháu nói ngọng hoặc phát âm chưa rõ, chưa đúng tôi
luôn kiên trì tập nói cho các cháu, không cáu gắt làm trẻ mất hứng thú mà cô sẽ
nói chậm chậm rõ chính xác và cho trẻ phát âm theo cô nhiều lần... Trong khi trẻ
chơi tôi luôn quan tâm và chơi cùng trẻ, chú ý tới các cháu và tập nói cho các
cháu nhiều hơn. Trong quá trình dạy trẻ tập nói tôi cần nhận thấy sự hiểu biết của 
trẻ còn rất hạn chế vì thế giáo viên đặt câu hỏi mang tính tổng quát, nhiều khi trẻ sẽ
không trả lời được ý của câu cô hỏi. Vì vậy ngay sau khi đặt câu hỏi tổng quát
cho trẻ suy nghĩ tôi lại gợi ý cho trẻ tiếp bằng những câu hỏi phụ để trẻ có thể trả
lời được dễ dàng câu hỏi của cô. 
 Ví dụ: Khi dạy bài ''Hoa hồng, hoa cúc'' khi cho trẻ so sánh hai loại hoa này
nếu tôi hỏi: Hai loại hoa này giống nhau và khác nhau như thế nào? thì trẻ sẽ
khó trả lời nên tôi sẽ dùng những câu hỏi phụ để hỏi cháu: Hoa hồng và hoa cúc
đều có mùi gì? Hoa hồng màu gì? Hoa cúc màu gì? khi dùng các câu hỏi như
thế này trẻ sẽ so sánh và trả lời dễ dàng hơn. Mặt khác khi đã có giáo cụ trực quan 
cho bài dạy, đã phân loại câu hỏi cho từng đối tượng trẻ và sử dụng các câu hỏi gợi 8
ý nhưng không có cách vào bài sinh động, hợp lý gây hứng thú cho trẻ thì kết quả 
giờ học cũng không cao .
Vì vậy trong mỗi một đề tài ta luôn suy nghĩ và tìm ra cách vào bài hấp dẫn sinh
động gây hứng thú cho trẻ. Qua cách dạy như vậy tôi thấy rằng: Việc gây hứng thú 
cho trẻ trong mỗi đầu giờ học là rất quan trọng bởi vì khi trẻ đã có hứng thú ngay 
từ đầu thì giờ học sẽ rất sôi nổi thu hút lôi cuốn trẻ, cháu tập trung học tập tốt hơn 
trong những phần sau.
 4. Dạy trẻ nói thông qua phương pháp dạo chơi thăm quan
 Dạo chơi thăm quan cũng là một hình thức bổ sung và cung cấp cho trẻ
mở rộng thêm vốn từ mới, một số khái niệm mới cho trẻ. Đối với trẻ 24-36 tháng, 
vốn từ của trẻ con rất ít, nhiều khi trẻ muốn nói ra một sự việc nào đấy nhưng trẻ 
lại không biết dùng từ ngữ gì để diễn đạt nên cháu thường 'e , a" hay đang nói giữa 
chừng lại không nói nữa vì không có từ để diễn đạt. Vì vậy giáo viên cần bổ sung 
và làm giàu thêm vốn từ cho trẻ. Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát cây nhãn, tôi sử dụng 
các câu hỏi đàm thoại với trẻ về tên gọi, đặc điểm, tác dụng của cây... để trẻ trả lời, 
cô lắng nghe bổ sung và tập nói cho trẻ, ngoài ra tôi còn khéo léo linh hoạt lồng 
ghép tích hợp các chuyên đề vào trong các hoạt động.
 Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát các loại cây ăn quả tôi hỏi trẻ: con biết vì sao
lá xanh lại ở trên cây, lá vàng lại rơi xuống cho lá non mọc ra. Đồng thời tôi còn
giải thích cho trẻ hiểu khi lá rụng xuống đất nếu không được con người quét
dọn, nhiều lá rơi xuống sẽ gây ô nhiễm môi trường, bẩn, sân trường sẽ không
đẹp, cô sẽ hướng dẫn tổ chức cho các cháu nhặt lá rụng bỏ vào thùng rác.
Hoặc khi đang chơi khi nghe tiếng sấm trẻ sẽ nói đó là tiếng pháo nổ, tôi
sẽ tranh thủ giải thích cho cháu hiểu đó là tiếng sấm báo hiệu trời chuẩn bị có
mưa to đấy các con ạ! Như vậy các cháu đã có thêm từ mới, khái niệm mới về
sự vật, hiện tượng trong tự nhiên... Hoặc trong khi cháu chơi tôi đến gần quan sát 
trẻ chơi, gần gũi cháu để tập trung nói cho cháu nghe khi cháu chơi với các đồ chơi 
ô tô, máy bay. Tôi lại gần gợi ý để cháu ôn lại một số bộ phận của ô tô, máy bay 
mà các cháu đã học, thông qua đó để giúp cháu nắm vững hơn các vấn đề đã được 
học và đồng thời phát triển ngôn ngữ cho trẻ được tốt hơn. 
 5. Dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi 
 Hưởng ứng cuộc vận động ''xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực''. Trong lớp, tôi luôn xây dựng mỗi quan hệ giữa trẻ với cô giáo từ đó tạo
được niềm tin ở trẻ, trẻ yêu quý cô, thích nghe cô nói, mong muốn được đến lớp
để từ đó cô giáo thực hiện công tác giảng dạy được tốt hơn . Để giúp cháu nói 
được tốt hơn cô còn dùng các hình thức trò chuyện với trẻ trong tất cả các hoạt 
động từ khi đón trẻ cho đến lúc trả trẻ, cô có thể trò chuyện với trẻ như: Hôm nay 
ai đưa con đi học? Nhà con có những ai?... Qua đó cháu sẽ biểu lộ được những suy 
nghĩ của mình bằng những ngôn ngữ đơn giản nói được câu nhiều từ hơn. 
 Xây dựng mối quan hệ giữa trẻ với trẻ, trẻ biết quan tâm với nhau như khi
một trẻ vắng không đi học thì trẻ khác sẽ hỏi ví dụ như: Bạn Vy đâu? Cô sẽ
trả lời Hôm nay bạn châu ốm không đi học được. Hay khi trẻ chơi, cô quan sát 9
trẻ chơi và dạy trẻ biết nhường nhịn đồ dùng, đồ chơi, không tranh đồ chơi của
bạn... hay khi trẻ có những hành vi sai như đánh bạn, cô sẽ giải thích cho trẻ hiểu 
đánh bạn là sai, là không tốt con hãy xin lỗi bạn đi.... Như vậy trẻ có những hành 
vi, những thái độ đúng để từ đó trẻ sẽ nói được những từ ngữ biểu lộ những tình 
cảm tốt đẹp trẻ biết nói lời hay làm việc tốt.
 6. Phối hợp với phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ
 Gia đình là môi trường rất quan trọng để hình thành và phát triển nhân
cách trẻ vì thế tôi cũng thường xuyên phối hợp với phụ huynh trực tiếp và qua
góc tuyên truyền để cùng với cô giáo dục trẻ cho phù hợp. Hình thức phối hợp 
được thực hiện như sau: Mỗi giai đoạn tôi có thể mời phụ huynh đến lớp để trao 
đổi với phụ huynh về tình hình phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua bảng theo 
dõi. Mời phụ huynh đến dự giờ để phụ huynh biết được đến nhà trẻ là phải học
các môn học chứ khi chơi như nhiều phụ huynh thường nghĩ. 
 Trao đổi với phụ huynh về một số kiến thức giúp trẻ học nói ở nhà để từ
đó phụ huynh cùng với cô giáo rèn luyện cho trẻ ở nhà cũng như ở trường.
Thông báo cho phụ huynh biết về một số lối phát âm của trẻ như trẻ nói ngọng, trẻ 
ít nói, phát âm sai để phụ huynh có biện pháp giáo dục thêm cho trẻ khi ở nhà.
 Do nắm bắt được tầm quan trọng của bộ môn ''Nhận biết '' đối với
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, trách nhiệm của bản thân đối với năm học. Tôi đã
suy nghĩ nghiên cứu và thử nghiệm áp dụng cải tiến phương pháp giảng dạy của
mình và đạt được kết quả tốt được thể hiện như sau: 
 III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
 Sau khi áp dụng một số biện pháp trên để dạy trẻ tôi thấy trẻ hứng thú
học, nhận biết được đặc điểm của từng sự vật, trả lời đủ câu rõ ràng các câu hỏi,
nhận biết môi trường sống, một số đồ vật gần gũi xung quanh trẻ nó thể hiện qua
quá trình khảo sát đánh giá khả năng học môn "Nhận biết tập nói" của trẻ chất
lượng giờ học đã được nâng lên rõ rệt, so với kết quả ban đầu trẻ mới đến lớp,
ngôn ngữ của trẻ chưa rõ ràng nói còn ngọng có trẻ nói được một từ nhưng đến
nay trẻ đã nói được nhiều từ, nói rõ ràng mạch lạc và vốn từ của trẻ phong phú
hơn.
TT Nội dung KẾT QUẢ
 Kết quả khảo sát cuối năm
 Số trẻ Đạt Chưa đạt
 1 Chú ý quan sát lắng nghe 28 22 cháu = 78,5% 6 cháu = 21,4%
 2 Trả lời câu hỏi đúng 28 22 cháu = 78,5% 6 cháu = 21,4%
 3 Trẻ hứng thú khám phá tìm tòi 28 23 cháu = 82,1% 5 cháu = 17,8%
 4 Trẻ phân biệt đúng sự vật hiện 28 21 cháu = 75% 7 cháu = 25%
 tượng
 5 Phát âm chính xác tên gọi đặc 28 23 cháu = 82,1% 5 cháu = 17,8% 10
 điểm của dự vật hiện tượng và 
 trẻ làm quen Tiếng Việt
 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
 I. KẾT LUẬN
 Ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp giữa con người với con người, là
phương tiện cho việc dạy và học. Ngôn ngữ nói, đọc, viết có ý nghĩa đặc biệt quan 
trọng trong việc phát triển nhân cách của trẻ mầm non nói riêng, của con người và 
xã hội nói chung. Lứa tuổi mầm non là thời kỳ phát triển ngôn ngữ tốt nhất. Là giai 
đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và các kỹ năng 
nghe, hiểu, trả lời câu hỏi của trẻ. Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng 
đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác của trẻ. 
 Ngôn ngữ chính là công cụ để tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng 
đến việc phát triển nhận thức. Từ đó trong quá trình trực tiếp giảng dạy bản thân 
tôi đã tự đúc rút cho mình một số bài học kinh nghiệm sau: Cần hiểu và nắm bắt 
kịp thời đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ, nắm vững nhiệm vụ của môn học, sáng 
tạo vận dụng linh hoạt các phương pháp phù hợp cho trẻ tiếp nhận kiến thức. 
 Tích cực làm đồ dùng đồ chơi, tận dụng mọi lúc mọi nơi thống nhất chặt chẽ 
với phụ huynh. Trong giảng dạy không nên rập khuôn máy móc theo sách vở mà 
nên tổ chức học dưới mọi hình thức ''Học mà chơi,chơi mà học'' thì mới gây được 
hứng thú cho cháu. Luôn tham khảo tài liệu, thường xuyên trao đổi kiến thức, tiếp 
thu cái mới, bổ sung cái cũ, đặc biệt trong giảng dạy luôn luôn phải sáng tạo, tìm 
tòi cải tiến phương pháp dạy học để đạt được kết quả tốt. Thường xuyên trao đổi 
với phụ huynh kết hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình để đạt được kết quả 
tốt. Từ những vốn kinh nghiệm tích lũy ấy tôi đã áp dụng và từng bước nhận thấy 
có hiệu quả cao đối với trẻ của lớp tôi.
 II. KIẾN NGHỊ
 Để thực hiện tốt việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua 
nhân biết, bản thân tôi xin có một số đề xuất sau:
 1. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
 Đề nghị với phòng giáo dục huyện nên mở các lớp bồi dưỡng thường xuyên 
về chuyên môn nghiệp vụ, cung cấp các tài liệu, những kinh nghiệm hay cho giáo 
viên học tập.
 2. Đối với nhà trường 
 Nhà trường nên tổ chức nhiều các tiết dạy mẫu, để tham khảo, học hỏi và
trao đổi trực tiếp với nhau để có nhiều sáng tạo trong tiết học nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ.
 Nhà trường cần tổ chức cho giáo viên trong nhà trường được tham quan, học 
hỏi các lớp trong và ngoài trường.
 Trên đây là một vài biện pháp, giải pháp của tôi nhằm nâng cao sự phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Tuy nhiên trong quá trình viết không thể không tránh 11
khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng 
nghiệp và cấp trên.
 Chu Minh, ngày 1 tháng 4 năm 2023
 XÁC NHẬN CỦA Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình 
 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ viết không sao chép nội dung của người 
 khác. 
 Người thực hiện
 Nguyễn Thị Thoa
 MỤC LỤC
 Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................1
I. Lý do chọn đề tài................................................................................................1
II. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................1 12
III. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................1
IV. Đối tượng khảo sát thực nghiệm .....................................................................2
V. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................2
VI. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.....................................................................2
B. PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................3
I. Cơ sở lý luận và thực trạng vấn đề nghiên cứu..................................................3
1. Cơ sở lý luận......................................................................................................3
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.....................................................................3
2.1. Thuận lợi.........................................................................................................3
2.2. Khó khăn .......................................................................................................3
2.3. Khảo sát đầu năm ..........................................................................................4
II. Một số giải pháp và kết quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông 
qua nhận biết tập nói..............................................................................................4
1. Rèn luyện nề nếp thói quen sử dụng ngôn ngữ tích cực cho trẻ ngay từ đầu 
năm học .................................................................................................................5
2. Luyện phát âm cho trẻ .......................................................................................5
3. Dạy trẻ nói thông qua đồ chơi, vật thật, tranh minh họa ...................................6
4. Dạy trẻ nói thông qua phương pháp dạo chơi thăm quan..................................8
5. Dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi .................................................................................8
6. Quan tâm tới từng cá nhân trẻ, đặc biệt là trẻ nhút nhát thụ động ....................9
7. Phối hợp với phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ ........................9
III. Kết quả nghiên cứu..........................................................................................9
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................10
I. Kết luận ............................................................................................................10
II. Kiến nghị.........................................................................................................10

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_vai_kinh_nghiem_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_24_36_t.docx