SKKN Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục. Người thường xuyên theo dõi và có những lời chỉ dạy quý giá cho những người làm công tác giáo dục. Người đã từng nói “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người ” đã trở thành khẩu hiệu của tất cả các trường. Đó cũng chính là nguồn động lực tinh thần to lớn để các thầy giáo, cô giáo nỗ lực làm tốt nhiệm vụ vẻ vang của mình. Và Người cũng khẳng định “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ, nhân dân nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của đất nước”. Đúng như vậy không có giáo dục sẽ không có những người chủ tương lai của nước nhà. Dù ở thời đại nào, đất nước nào, dân tộc nào muốn phát triển về mọi mặt thì trước hết phải có giáo dục, không có giáo dục đất nước sẽ không phát triển. Nền giáo dục là thước đo đánh giá sự phát triển phồn thịnh của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đồng thời nó cũng đảm bảo cho sự phát triển về kinh tế, chính trị xã hội của quốc gia đó, dân tộc đó, trong đó có giáo dục bảo vệ môi trường cũng như việc nâng cao ý thức giữ gìn bảo vệ môi trường của mỗi người dân; cán bộ, giáo viên, học sinh.

Đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển nền kinh tế, hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa làm cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhưng bên cạnh đó có nhiều người do ý thức kém chiỉ chú trọng sự phát triển kinh tế, nên đã góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường quá giới hạn cho phép, đi ngược lại mục đích sử dụng, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sinh vật. Những tác động của thị trường cũng len lỏi vào trường học, trong học sinh khiến cho đội ngũ giáo viên và các bậc cha mẹ phải hết sức quan tâm, lo lắng như chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, ăn kẹo trong lớp, ăn quà vặt vứt rác bừa bãi, không có ý thức trong bảo vệ cây xanh, bảo vệ bàn ghế và cơ sở vật chất của nhà trường. Đó chính là những trăn trở của người làm giáo dục. Phải làm thế nào? Có biện pháp gì để giáo dục cho thế hệ trẻ trở thành những người có “ tài” đồng thời có “đức” ? có lòng nhân ái và là những người có ích cho xã hội, vậy có nghĩa là vì lợi ích lâu dài, chúng ta cần phải tập trung vào con người.
Từ thực tế đó, với vai trò là phó hiệu trưởng nhà trường tôi nhận thấy mình có trách nhiệm lớn trong việc hình thành, phát triển ở các em thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự và thân thiện với môi trường, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, những xúc cảm, xây dựng cái thiện và hình thành thói quen, kĩ năng sống bảo vệ môi trường cho các em với mong muốn các em trở thành những con người toàn diện “Cao trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Chính vì lẽ đó tôi đã chọn sáng kiến “Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô ”.
II. Mục tiêu sáng kiến.
- Làm tốt công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học.
- Kinh nghiệm giáo dục môi trường của nhà trường đối với học sinh.
- Bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, giáo viên, học sinh.
- Tìm ra hình thức tổ chức quản lý, chỉ đạo “ giáo dục bảo vệ môi trường” cho học sinh Tiểu học; Nghiên cứu cơ sở lý luận; thực trạng của giáo dục bảo vệ môi trường với học sinh Tiểu học.
- Thống nhất được kế hoạch, nội dung chỉ đạo “giáo dục bảo vệ môi trường” ngay từ đầu năm cho các khối lớp.
- Học sinh biết vận dụng bảo vệ môi trường vào cuộc sống hàng ngày.
III. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian : Năm học 2023 - 2024 (từ tháng 9/2023 đến tháng 5/2024)
- Đối tượng:
+ Giáo viên, học sinh - trường Tiểu học Cổ Đô .
+ Công tác bảo vệ môi trường Tiểu học Cổ Đô.
- Phạm vi:
+ Trường Tiểu học Cổ Đô năm học 2023-2024.
+ Ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của cán bộ, giáo viên, công nhân, học sinh nhà trường.

pdf 25 trang Bình An 31/03/2026 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô

SKKN Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô
 TÊN SKKN: 
 “Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức 
 bảo vệ môi trường cho học sinh trường Tiểu học Cổ Đô ” 
 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 
 I. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 
 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục. Người thường xuyên 
theo dõi và có những lời chỉ dạy quý giá cho những người làm công tác giáo dục. 
Người đã từng nói “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì 
phải trồng người ” đã trở thành khẩu hiệu của tất cả các trường. Đó cũng chính là 
nguồn động lực tinh thần to lớn để các thầy giáo, cô giáo nỗ lực làm tốt nhiệm vụ vẻ 
vang của mình. Và Người cũng khẳng định “Trường học của chúng ta là trường học 
của chế độ dân chủ, nhân dân nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, 
những người chủ tương lai của đất nước”. Đúng như vậy không có giáo dục sẽ không 
có những người chủ tương lai của nước nhà. Dù ở thời đại nào, đất nước nào, dân tộc 
nào muốn phát triển về mọi mặt thì trước hết phải có giáo dục, không có giáo dục đất 
nước sẽ không phát triển. Nền giáo dục là thước đo đánh giá sự phát triển phồn thịnh 
của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đồng thời nó cũng đảm bảo cho sự phát triển về kinh tế, 
chính trị xã hội của quốc gia đó, dân tộc đó, trong đó có giáo dục bảo vệ môi trường 
cũng như việc nâng cao ý thức giữ gìn bảo vệ môi trường của mỗi người dân; cán bộ, 
giáo viên, học sinh. 
 Đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển nền kinh tế, hàng hoá nhiều thành phần, 
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng xã hội 
chủ nghĩa làm cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhưng bên cạnh đó có 
nhiều người do ý thức kém chiỉ chú trọng sự phát triển kinh tế, nên đã góp phần làm 
suy giảm chất lượng môi trường quá giới hạn cho phép, đi ngược lại mục đích sử 
dụng, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sinh vật. Những tác động của thị 
trường cũng len lỏi vào trường học, trong học sinh khiến cho đội ngũ giáo viên và các 
bậc cha mẹ phải hết sức quan tâm, lo lắng như chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, 
ăn kẹo trong lớp, ăn quà vặt vứt rác bừa bãi, không có ý thức trong bảo vệ cây xanh, 
bảo vệ bàn ghế và cơ sở vật chất của nhà trường. Đó chính là những trăn trở của người 
làm giáo dục. Phải làm thế nào? Có biện pháp gì để giáo dục cho thế hệ trẻ trở thành 
những người có “ tài” đồng thời có “đức” ? có lòng nhân ái và là những người có ích 
cho xã hội, vậy có nghĩa là vì lợi ích lâu dài, chúng ta cần phải tập trung vào con 
người. 
 Từ thực tế đó, với vai trò là phó hiệu trưởng nhà trường tôi nhận thấy mình có 
trách nhiệm lớn trong việc hình thành, phát triển ở các em thói quen, hành vi ứng xử 
văn minh, lịch sự và thân thiện với môi trường, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, những 
xúc cảm, xây dựng cái thiện và hình thành thói quen, kĩ năng sống bảo vệ môi trường 
cho các em với mong muốn các em trở thành những con người toàn diện “Cao trí tuệ, 
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Chính vì lẽ 2 
đó tôi đã chọn sáng kiến “Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho 
học sinh trường Tiểu học Cổ Đô ”. 
 II. Mục tiêu sáng kiến. 
 - Làm tốt công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học. 
 - Kinh nghiệm giáo dục môi trường của nhà trường đối với học sinh. 
 - Bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, giáo viên, 
học sinh. 
 - Tìm ra hình thức tổ chức quản lý, chỉ đạo “ giáo dục bảo vệ môi trường” cho 
học sinh Tiểu học; Nghiên cứu cơ sở lý luận; thực trạng của giáo dục bảo vệ môi 
trường với học sinh Tiểu học. 
 - Thống nhất được kế hoạch, nội dung chỉ đạo “giáo dục bảo vệ môi trường” 
ngay từ đầu năm cho các khối lớp. 
 - Học sinh biết vận dụng bảo vệ môi trường vào cuộc sống hàng ngày. 
 III. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 
 - Thời gian : Năm học 2023 - 2024 (từ tháng 9/2023 đến tháng 5/2024) 
 - Đối tượng: 
 + Giáo viên, học sinh - trường Tiểu học Cổ Đô . 
 + Công tác bảo vệ môi trường Tiểu học Cổ Đô. 
 - Phạm vi: 
 + Trường Tiểu học Cổ Đô năm học 2023-2024. 
 + Ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của cán bộ, giáo viên, công nhân, học 
sinh nhà trường. 
 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
 I. Hiện trạng vấn đề. 
 1 . Cơ sở lý luận: 
 Tuổi vào Tiểu học là giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời của học sinh. Chính 
trong giai đoạn này các em phát triển rất nhanh cả về thể chất, tình cảm và trí tuệ, hình 
thành và phát triển mạnh mẽ những năng lực khác nhau, đặt cơ sở nền móng cho phát 
triển nhân cách của chúng. 
 Sự hiểu biết các mối quan hệ khác nhau trong thiên nhiên góp phần phát triển trí 
tuệ, phát triển năng lực phân tích trong hoàn cảnh sinh thái của học sinh. Các yếu tố 
của sự tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên có ý nghĩa to lớn trong giáo dục 
bảo vệ môi trường cho học sinh. Trước hết đó là việc cho các em làm quen với các 
hoạt động thực tiễn khác nhau của con người trong thiên nhiên, hoạt động bảo vệ môi 
trường (Bảo vệ cơ sở vật chất; đi vệ sinh đúng nơi qui định; bảo vệ giữ gìn, chăm sóc 
công trình măng non; Không vứt giấy bừa bãi; giữ gìn và bảo vệ nguồn nước...); làm 
quen với các cảnh đẹp trong thiên nhiên, các di tích văn hoá - lịch sử, viện bảo tàng, 
đồng thời hướng sự chú ý của học sinh đến các tác động tốt cũng như không tốt của 
con người đối với thiên nhiên, những khó khăn về môi trường nơi mà các em đang 
sống (bụi, tiếng ồn, nước bị ô nhiễm...) 3 
 Trong các hoạt động nhận thức, hoạt động lao động, hoạt động mĩ thuật, nội dung 
giáo dục bảo vệ môi trường bao gồm cả việc giáo dục các chuẩn mực đánh giá, giúp 
học sinh nhận thức được giá trị đặc biệt quý báu của thiên nhiên. Một trong những 
biểu hiện quan trọng của thái độ quan tâm đến thiên nhiên là mong muốn tham gia vào 
việc chăm sóc vật nuôi, cây trồng. Trong khi chăm sóc chúng, học sinh hiểu được các 
nhu cầu của động - thực vật (thức ăn, nước, ánh sáng, không khí, độ ẩm...). Chúng 
hiểu được rằng để mọi cơ thể sống được, lớn lên và phát triển, các điều kiện sống của 
chúng phải được thoả mãn. Chính trong quá trình đó, học sinh hiểu một cách trực quan 
sự phụ thuộc của vật nuôi, cây trồng vào lao động của con người. 
 Trong lao động, các em vui sướng vì được giúp cho vật nuôi, cây trồng lớn lên và 
phát triển. Lao động để hình thành, phát triển ở các em ý thức bảo vệ thiên nhiên trong 
điều kiện tự lực và tích cực. Lao động cải tạo môi trường xung quanh cùng với người 
lớn (trồng cây, làm vệ sinh) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Học sinh Tiểu học cần được 
tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường như: trồng cây, thu dọn rác, chăm sóc 
vườn hoa cây cảnh. Sự tham gia vào các hoạt động chung tạo cho các em cơ hội hợp 
tác với những bạn cùng tuổi, khác tuổi và người lớn trong hoạt động bảo vệ môi 
trường. 
 2. Cơ sở thực tiễn: 
 Hiện nay, việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh như thế nào làhiệu
quả và phù hợp với tình hình địa phương, của trường là vấn đề đặt ra đối vớitôi.Nơi
đây đa số người dân sống bằng nghề nông và buôn bán, đời sống nhân dân còn nhiều
khó khăn. Cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, hệ thống xử lý nước, rác thải chưađược
đầu tư đúng mức. Công tác bảo vệ môi trường là vấn đề chưa được quan tâm nhiều, tất
cả làm ảnh hưởng tới môi trường. Đối với trường Tiểu học nơi tôicôngtác,trong
những năm qua, được sự quan tâm của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực củalãnh
đạo nhà trường, trường từng bước được đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ chocôngtác
giáo dục toàn diện; công tác xây dựng quang cảnh nhà trường xanh- sạch - đẹp được 
chú trọng. Tuy nhiên, công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong điều kiện tình hình
thực tế của nhà trường và qua các môn học là vấn đề chưa được giáo viên quantâm
thường xuyên. Trong dạy học giáo viên bám chặt vào các yêu cầu của chuẩn kiếnthức
kỹ năng, việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường là vấn đề giáo viên vẫn còn băn
khoăn, e dè, sợ đi lệch mục tiêu bài dạy. Hơn nữa, việc tích hợp giáo dục bảo vệmôi
trường ở các bài có nội dung cần tích hợp theo phương thức trực tiếp như mônTiếng
Việt hoặc nội dung tích hợp ở mức độtoàn phần như môn Đạo đức đòi hỏi người giáo
viên phải có những thông tin đầy đủ về môi trường liên quan đến nội dung bài dạyđể
tích hợp vào bài học đảm bảo tự nhiên, nhẹ nhàng không làm thay đổi đặc trưngcủa
môn học. Đối với học sinh tiểu học, các em được lĩnh hội kiến thức về môi trường và
bảo vệ môi trường qua các môn học về mặt lý thuyết còn mờ nhạt; các hoạt độnglao
động vệ sinh trường lớp, chăm sóc bồn hoa cây cảnh, giữ vệ sinh lớp học đều đượccác
em tham gia dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viêntheo kế hoạch của nhà trường 
chứ các em chưa thực sự có được ý thức tự giác trong việc làm mọi lúc, mọi nơi;bởilẽ
các em chưa hiểu được vai trò quan trọng của môi trường đối với cuộc sống cũngnhư 4 
chưa hiểu hết được tác hại của việc ô nhiễm môi trường. Với thực trạng về môi trường 
địa phương, nhà trường, tình hình thực tế về giáo dục bảo vệ môi trường của giáoviên,
cùng với nhiệm vụ xây dựng nhà trường xanh - sạch - đẹp thì giáo dục bảo vệ môi
trường gắn với thực tế, qua các môn học và hoạt động giáodục là con đường ngắn 
nhất để hình thành ý thức, kỹ năng, hành vi về bảo vệ môi trường cho học sinh dễđạt
hiệu quả nhất. Khi nghiên cứu chương trình các môn học Tiếng Việt, Khoa học, Lịch
sử, Địa lý, tự nhiên và Xã hội, Đạo đức, Mĩ thuật và Hoạt độnggiáodục ngoài giờ lên 
lớp, chúng ta dễ dàng nhận thấy chương trình các môn học và các hoạt động giáodục
ngoài giờ lên lớp ngoài mục tiêu cần đạt của mỗi bài còn nhiều bài có nội dunggiáo
dục bảo vệ môi trường ở các mức độ khác nhau. Khả năng thành công trongviệc giáo 
dục bảo vệ môi trường không phải chúng ta thu được ngay sau bài giảng. Mục đích
quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ làm cho các em hiểu rõtầm
quan trọng của bảo vệ môi trường mà quan trọng là phải hình thành thói quen, hànhvi
ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường; bồi dưỡng tình cảm, niềm tin hình thành
kỹ năng, hành vi giúp học sinh biết tham gia tích cực vào công tác bảo vệ môi trường..
Nếu ở cấp học này các em chưa hình thành được tình yêu thiên nhiên, sống hòađồng
với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh
thì ở các cấp sau khó có thể bù đắp được.
 3..Thực trạng ban đầu: 
 3.1. Thực trạng môi trường Việt Nam. 
 Có thể nói, chất lượng môi trường Việt Nam hiện tại đang ở tình trạng báo động. 
Tài nguyên rừng cạn kiệt, tài nguyên đất suy thoái, tài nguyên biển suy kiệt, môi 
trường đất, nước, không khí ô nhiễm nặng, dân số tăng nhanh và phân bố không đều 
đã gây sức ép quá lớn đối với môi trường. 
 - Ô nhiễm môi trường không khí: một số thành phố ô nhiễm bụi tới mức trầm 
trọng; chất thải giao thông, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động dịch vụ, 
sinh hoạt của con người. 
 - Ô nhiễm môi trường nước. (Nguyên nhân: Nhu cầu nước dùng cho công nghiệp, 
nông nghiệp, sinh hoạt tăng nhanh, nguồn nước bị ô nhiễm, nạn chặt phá rừng, . . .) 
 - Quản lí chất thải rắn: Hiệu quả thu gom thấp, hiệu quả xử lí chưa đạt yêu cầu, 
chưa có phương tiện đầy đủ và thích hợp để xử lí chất thải nguy hại. 
 3.2. Thực trạng môi trường ở địa phương, trường lớp: 
 3.2.1. Thuận lợi. 
 - Được sự quan tâm của các cấp chính quyền và toàn xã hội về môi trường trong 
trường học. Số lượng cây xanh trong sân trường không nhiều nhưng đảm bảo bóng 
mát và môi trường trong lành cho học sinh. 
 - Chương trình “xanh- sạch- đẹp” trường lớp đã được thực hiện, nhà trường đã 
được trang bị nguồn nước uống sạch, có nhà vệ sinh cho học sinh và giáo viên, nhà 
trường luôn giáo dục ý thức bảo vệ môi trường bằng các công việc hàng ngày như 
trồng cây, chăm sóc cây, trồng chậu cây cảnh, vệ sinh trường lớp. Những nội dung đó 
đã được nhà trường đưa vào danh ụm c thi đua của từng lớp, từng tuần, từng tháng cho 
mỗi lớp. 5 
 3.2.2. Khó khăn. 
 - Ý thức của học sinh về môi trường, bảo vệ môi trường chưa cao. 
Ví dụ như: 
 + Khạc nhổ bừa bãi, vứt rác tứ tung, đi tiêu, đi tiểu không đúng nơi quy định, 
chạy chân đất, chơi nhiều trò chơi ấm t vệ sinh. 
 + Trèo cây, bẻ cành, giẫm đạp lên cây hoa, không tôn trọng, bảo vệ tài sản của 
công, vẽ bậy trên tường, bảng, bàn ghế. 
 + Tham gia lao động vệ sinh ở trường với thái độ thờ ơ, bắt buộc, chưa biết gìn 
giữ an toàn trong lao động vệ sinh, không đeo khẩu trang, đùa nghịch bằng dụng cụ 
lao động. 
 + Chưa có ý thức bảo vệ cây, hoa trong trường. 
 3.2.3. Kết quả khảo sát. 
 Số học sinh Số học sinh có ý thức bảo vệ 
 Số học 
 STT Khối có ý thức bảo vệ môi trường môi trường chưa nhiều 
 sinh 
 Số lượng % Số lượng % 
 1 1 106 25 23,6 81 76,4 
 2 2 106 32 30,2 74 69,8 
 3 3 116 28 24,1 88 75,9 
 4 4 113 35 31,0 78 69,0 
 5 5 114 29 25,4 85 74,6 
 II. Những giải pháp thực hiện sáng kiến: 
 1. Các khái niệm 
 1.1. Môi trường là gì? 
 * Có nhiều quan niệm về môi trường 
 Môi trường là một tập hợp các yếu tố xung quanh hay là các điều kiện bên 
ngoài có tác động qua lại (trực tiếp, gián tiếp) tới sự tồn tại và phát triển của sinh vật. 
 Theo điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường (2005) “Môi trường bao gồm các yếu tố tự 
nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản 
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người. 
 Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ 
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn 
tại, phát triển của con người và thiên nhiên. 
 1.2. Thế nào là môi trường sống ? 
 - Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên 
và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên 
nhiên, đất, nước và không khí, ánh sáng, công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo đức, văn 
hoá, lịch sử và mĩ học. 
 - Môi trường sống của con người được phân thành môi trường sống tự nhiên và 
môi trường sống xã hội. 
 1.2.1. Môi trường tự nhiên: 
 Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học tồn tại ngoài ý 
muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng 6 
mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất nước. Môi trường tự 
nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung 
cấp cho con người các loại tài nguyên cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa 
đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc 
sống con người thêm phong phú. 
 1.2.2. Môi trường xã hội : 
 Là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, 
cam kết, quy định, ước định  ở các cấp khác nhau như: Liên hợp quốc, Hiệp hội 
các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ 
chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của 
con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự 
phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với thế giới sinh vật khác. Ngoài 
ra người ta còn phân biệt khái niệm Môi trường nhân tạo: Bao gồm tất cả các nhân 
tố vật lí, sinh vật, xã hội do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong 
cuộc sống, như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên và 
chịu sự chi phối của con người. 
 1.2.3. Môi trường nhà trường. 
 Bao gồm không gian trường, cơ sở vật vật trong trường như phòng học, 
phòng thiết bị, thư viện, thầy giáo, cô giáo, học sinh, nội quy của trường, các tổ 
chức xã hội như Đoàn, Đội 
 * Môi trường (theo nghĩa rộng): là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần 
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không 
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội 
 * Môi trường (theo nghĩa hẹp): bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực 
tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. 
 Bởi môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và 
phát triển. 
 1.2.4. Giáo dục bảo vệ môi trường là gì? 
 - Giáo dục môi trường là một quá trình (thông qua các hoạt động giáo dục 
chính quy và không chính quy) hình thành và phát triển ở người học sự hiểu biết, kĩ 
năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điều kiện cho họ 
tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái. 
 - Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có 
sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức); những 
khái niệm cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường (kiến thức); những tình cảm, 
mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường (thái độ, hành vi); những kĩ 
năng giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kĩ 
năng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và có những hành 
động thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực). 
 7 
 2. Những giải pháp thực hiện. 
 2.1. Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường 
 Tổ chức thực hiện kế hoạch tức là hiện thực hóa kế hoạch, căn cứ vào kế hoạch 
đã được phê duyệt để tiếp nhận các nguồn lực (con người, kinh phí, vật chất...) để bố 
trí, xắp xếp một cách hợp lí, tạo ra các mối quan hệ trên, dưới; quan hệ đồng đẳng hợp 
tác cần thiết để đảm bảo đạt được mục tiêu đã định. Triển khai kế hoạch, đưa kế hoạch 
vào thực tiễn; Thống nhất cách thức thực hiện, nhiệm vụ cần thực hiện, các định 
hướng chỉ đạo thực hiện đối với mỗi cá nhân tại từng thời điểm khác nhau của năm 
học. 
 Bằng cách: 
 + Công khai kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường tới từng cá nhân qua cả ba 
con đường: Bản tin nội bộ; họp triển khai trực tiếp và gửi email. Thời điểm thực hiện 
việc này là ngay trong tuần đầu tiên của năm học. Trong cuộc họp triển khai trực tiếp, 
ban giám hiệu thông báo công khai chi tiết nhiệm vụ của các đối tượng có liên quan. 
 + Lập kế hoạch và trực tiếp tổ chức thực hiện kế hoạch. Xây dựng các cơ chế 
giám sát, kiểm tra cần thiết. Xây dựng các nội dung, chương trình phù hợp để giáo dục 
giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong trường và triển khai các tài liệu đó tới 
các ồđ ng chí giáo viên. 
 + Giáo viên chủ nhiệm các lớp: Là những thành viên chủ chốt thực hiện công 
tác giáo dục giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, là những người thiết kế các hoạt 
động và điều khiển học sinh thực hiện các hoạt động đó, qua đó truyền tải đến học sinh 
các thông điệp cần thiết và rèn luyện cho các em các giáo dục bảo vệ môi trường. Giáo 
viên chủ nhiệm là cầu nối giữa nhà trường, học sinh và gia đình học sinh, cung cấp 
những thông tin cần thiết cho việc điều chỉnh, bổ sung cho kế hoạch. 
 - Tất cả các đồng chí giáo viên trong hội đồng giáo dục nhận thức đầy đủ về 
mục đích của công tác giáo dục giáo dục bảo vệ môi trường, hiểu rõ vai trò, nhiệm vụ 
của mình trong hoạt động này, làm chủ được các kiến thức, lý luận cần thiết về giáo 
dục bảo vệ môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. 
 - Đảm bảo tính đồng thuận, phối hợp, trao đổi thông tin cần thiết giữa các đối 
tượng tham gia thực hiện nhiệm vụ. 
 2.2.Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục ý thức của học sinh. 
 Tuyên truyền giáo dục là một phương pháp không thể thiếu trong quá trình giáo 
dục, nó có vai trò tác dụng lớn góp phần thực hiện thành công nội dung giáo dục. 
Trong đó Đội Thiếu niên mà trung tâm là các đồng chí giáo viên chủ nhiệm; Tổng phụ 
trách đội giữ vai trò chủ chốt trong công tác này. Vì vậy công tác này được giao trọng 
trách cho đồng chí Tổng phụ trách Đội trực tiếp phối hợp với giáo viên chủ nhiệm tổ 
chức thực hiện. 
 Công tác tuyên truyền giáo dục thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường mà trong 
đó phong trào xây dựng “ trường học xanh, sạch, đẹp, an toàn” là cốt lõi và được thực 
hiện với các hình thức cụ thể như: 
 + Tuyên truyền trong giờ chào cờ thứ hai đầu tuần: nhận xét, đánh giá, nhắc 
nhở, khen thưởng, động viên học sinh. 8 
 + Tuyên truyền thông qua chương trình măng non; trong sinh hoạt sao, sinh 
hoạt Đội; giáo viên nhắc nhở trong sinh hoạt chi đội, sinh hoạt lớp nhi đồng. 
 + Tổ chức ngày hội vệ sinh trường học, thi vẽ tranh về chủ đề môi trường, an 
toàn giao thông. 
 + Phát động cho học sinh trồng cây xanh trong lớp và tự trang trí lớp học và 
thường xuyên tuyên truyền các khẩu hiệu “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh 
tích cực”, “ không vứt rác là văn minh”, “ Cổng trường em sạch đẹp, an toàn”, và 
thầy cô là người trực tiếp tuyên truyền cho các em hiểu ý nghĩa của các khẩu hiệu, 
hướng dẫn các em thực hiện theo. 
 Tuyên truyền là một trong các biện pháp mang lại hiệu quả cao vì nó tác động 
vào ý thức giữ gìn môi trường, bảo vệ cây xanh, bảo vệ lớp học,  của từng em học 
sinh. Đa số các em học sinh thông qua tuyên truyền giáo dục ý thức các em sẽ thực 
hiện theo nội dung tuyên truyền một cách nghiêm túc. 
 2.3.Giáo dục môi trường trong các tiết học. 
 Hiện nay việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống 
trong một số tiết học là bắt buộc. Nếu các thầy cô giáo biết cách lồng ghép thường 
xuyên vấn đề này trong các bài giảng của mình thì hiệu quả chắc chắn không phải là 
nhỏ. Sở dĩ như vậy vì thầy cô giáo vừa là những tấm gương rất thuyết phục, vừa là 
những người có sức lay động, cảm hóa sâu sắc. Một lời nói của thầy cô có thể tác động 
trực tiếp và lớn lao hơn cả những chương trình truyền thông khô cứng. 
Để chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nội dung trên thì nhà trường tổ chức tập huấn các 
chuyên đề bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho giáo viên về giáo dục môi trường nhằm 
nâng cao khả năng tích hợp, lồng ghép giáo dục môi trường trong các giờ học chính 
khóa. Tổ chức thao giảng theo tổ khối để giáo viên trong tổ cùng bàn bạc để đưa ra 
những phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh từng khối. Ban giám 
hiệu thường xuyên dự giờ, góp ý cho giáo viên cách thực thực hiện để đạt mục tiêu đề 
ra. Đặc biệt chú ý giáo viên giáo dục bằng những tình huống cụ thể tránh nói lý thuyết 
suông. 
Tóm lại: Qua các tiết học có giáo dục môi trường thì giáo viên cung cấp cho học sinh 
những kiến thức cơ bản về môi trường, đó là những hiểu biết về môi trường tự nhiên, 
sự ô nhiễm môi trường, phương pháp bảo vệ môi trường để giúp học sinh có ý thức 
giữ gìn, bảo vệ môi trường sống và các kỹ năng bảo vệ môi trường. 
 2.4. Kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục bảo vệ môi trường. 
 Kiểm tra đánh giá là bước cuối cùng của chu trình quản lý, giúp nhà quản lý xác 
định mức độ về chất lượng thực hiện kế hoạch, đem lại các thông tin đánh giá tính 
thực tế, tính khả thi của kế hoạch. 
 + Thu thập các thông tin về quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi 
trường của toàn trường cũng như việc thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân. Đối chiếu 
kết quả với tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Từ đó xác định các 
vấn đề cần điều chỉnh trong chu trình quản lý tiếp theo, xác định các cá nhân tích cực 
để động viên khen thưởng kịp thời cũng như các tồn tại để khắc phục . 
 Bằng cách: 9 
 + Xác định chuẩn mực, thu thập thông tin, đối chiếu với chuẩn để kết luận về 
hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. 
 + Phát hiện mức độ về chất lượng hoàn thành nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi 
trường của từng học sinh. 
 + Điều chỉnh những bất hợp lí của kế hoạch; những ý thức thái độ chưa tốt khi 
thực hiện nhiệm vụ của giáo viên; những bất cập nảy sinh về chế độ phối hợp, thời 
gian. 
 + Sử dụng kết quả kiểm tra như một phần trong công tác thi đua khen thưởng. 
 Với việc đánh giá phải hợp lý cơ sở lý luận, phù hợp với điều kiện thực tế nhà 
trường; Quá trình kiểm tra đánh giá thực hiện đúng thời điểm. Kết hợp giữa đánh giá 
giai đoạn với đánh giá quá trình. Đảm bảo khách quan, công bằng, công khai, dân chủ; 
Đánh giá đi vào thực chất của hoạt động, tránh tình trạng xuê xoa, cào bằng, bệnh 
thành tích. 
 2.5. Xây dựng môi trường giáo dục bảo vệ môi trường. 
 Xác định môi trường sư phạm là một trong những điều kiện tác động trực tiếp, 
thường xuyên đến việc giáo dục đạo đức, giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh nên 
nhà trường rất quan tâm đến việc xây dựng trường học có một môi trường sư phạm 
đảm bảo tính thẩm mỹ, tính giáo dục. 
 Tập thể sư phạm nhà trường là đội ngũ cán bộ; giáo viên; công nhân viên đa số 
đạt và vượt chuẩn về chuyên môn, có lòng yêu nghề, trách nhiệm, tận tụy với học sinh. 
Hầu hết các thầy, các cô giáo đều nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục 
đạo đức, giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, từ đó luôn quan tâm thực hiện một 
cách có hiệu quả nhất. 
 Gia đình, nhà trường và xã hội luôn được coi là "tam giác" giáo dục quan trọng 
đối với học sinh. Tầm quan trọng của mỗi lực lượng cũng như ốm i quan hệ giữa chúng 
trong việc giáo dục học sinh ai cũng hiểu nhưng vẫn có khoảng cách lớn giữa nói và 
làm. 
 Trên thực tế, lâu nay, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc 
giáo dục học sinh không còn chặt chẽ như những năm trước. Sự lỏng lẻo của mối quan 
hệ này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song do cả hai phía giáo viên và cha mẹ học 
sinh. Chuyện cha mẹ học sinh chỉ gặp gỡ 1 hoặc 2 buổi họp phụ huynh học sinh, thậm 
chí không trò chuyện với giáo viên chủ nhiệm của con mình, không phải hiếm. Giáo 
viên đến thăm nhà học sinh lại càng hiếm hơn, chỉ khi nào có học sinh bỏ học. Điều 
này ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục đạo đức, giáo dục bảo vệ môi trường cho 
học sinh.Trước thực tế ấy, việc đẩy mạnh phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội 
trong việc giáo dục đạo đức, giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh là việc làm hết 
sức cần thiết. Sự phối hợp này phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể và thiết thực 
trong đó nhà trường phải đóng vai trò chủ động trong sự phối hợp, để học sinh được 
học tập, giáo dục, rèn luyện trở thành những công dân có đức, có tài. 
 10 
 3. Giải pháp cụ thể. 
 3.1.Tổ chức, chỉ đạo các phong trào. 
 Kết hợp với công tác tuyên truyền nhà trường phối hợp thêm nhiều các biện 
pháp giáo dục khác để thực hiện nội dung đã đề ra. 
 3.1.1.Phong trào “ Phút sạch trường, đẹp lớp”. 
 Sân trường có thể nói là bộ mặt của nhà trường, sân trường sạch hay bẩn nó 
phản ánh một phần nội dung giáo dục môi trường của trường đó đã đạt hiệu quả hay 
chưa. 
 Để thực hiện phong trào này nhà trường bố trí hợp lý các giỏ, thùng đựng rác tại 
sân trường, trên các phòng học, hành lang. Ở từng thùng đựng rác được dán các khẩu 
hiệu tuyên truyền như “ Hãy bỏ rác đúng nơi qui định”, “Bỏ rác vào thùng”, “Hãy bảo 
vệ môi trường” Đồng thời tổ chức cho đội viên đăng ký không vứt rác bừa bãi. Đội 
sao đỏ làm nhiệm vụ theo dõi, giám sát, theo dõi tình hình thực hiện của các bạn mình. 
Kịp thời phát hiện, nhắc nhở những bạn thực hiện chưa tốt, báo cáo giáo viên chủ 
nhiệm có các bạn vi phạm và các chi đội được phân công làm vệ sinh đúng thời gian, 
đúng khu vực quy định, nếu ngày nào sân trường, lớp học còn nhiều giấy rác thì liên 
đội đó sẽ trừ điểm thi đua, chịu trách nhiệm khu vực được giao. Qua đó các em học 
sinh bỏ rác đúng nơi qui định, sân trường, lớp học luôn được giữ gìn sạch đẹp. 
 3.1.2. Phong trào “ Sân trường xanh, sạch, đẹp”. 
 Một trường học, lớp học xanh mát, ngập tràn sắc màu thiên nhiên, để mỗi ngày 
đến lớp, các em học sinh có cảm giác như mình đang vào công viên. Quả là tâm trạng 
tuyệt vời. Nhìn cây cỏ, lá hoa được ví như lá phổi thanh lọc những khí chất độc hại 
cho cơ thể. Ở góc độ đời sống tinh thần, màu xanh thiên nhiên có tác dụng giúp tâm 
hồn thư giãn, sảng khoái. 
 Để thực hiện phong trào nhà trường giao cho mỗi lớp phụ trách một bồn hoa, 
cây cảnh. Các em cùng chung tay góp sức vào việc chăm sóc, nhặt cỏ, bảo vệ bồn hoa; 
cây xanh của nhà trường luôn được bảo vệ, chăm sóc xanh tốt. Tạo nên khuôn viên 
nhà trường mát mẻ. 
 3.1.3. Phong trào “Lớp em gọn gàng, sạch đẹp”. 
 Không chỉ chú trọng phát triển mảng xanh trong khuôn viên trường, xây dựng 
môi trường học tập hiệu quả còn được đặt ra ở từng lớp học mà nhiệm vụ này do chính 
giáo viên, học sinh đảm nhận. 
 Nhà trường phát động các lớp trồng cây xanh, trang trí trong lớp học. Giáo viên, 
học sinh tìm cây xanh, hoa lá trang trí trong lớp học. Tạo lập, rèn luyện cho học sinh 
thói quen quan tâm đến tập thể, môi trường, thiên nhiên. Đến lúc các em có thể cảm 
nhận có thêm chậu cây lớp học như thêm bạn. Hoa lá trong lớp dần trở thành góc khám 
phá vô tận, hình như có thêm một mầm non, một chiếc lá sắp nhú; hình như, có chiếc lá 
đã già cỗi, bắt đầu ngả vàng; hình như thân cây đã dài thêm được một đoạn chan hòa 
cùng sắc màu thiên nhiên, căng thẳng, mệt mỏi trong học tập vì thế giãn ra rất nhiều. 
 Các lớp thực hiện sắp xếp bàn ghế thẳng lối, thẳng hàng hàng ngày. Thứ sáu 
hàng tuần thực hiện lau sạch sẽ bàn ghế, định kỳ lau cửa kính Phong trào đã rèn 11 
luyện tinh thần vì tập thể của học sinh, cùng nhau xây dựng lớp học gọn gàng, sạch đẹp 
như chính ngôi nhà của các em. 
 3.1.4. Phong trào “ Nhà vệ sinh của em sạch sẽ”. 
 Vấn đề nhà vệ sinh trường học là một vấn đề nổi cộm của trường học trong thời 
gian vừa qua. Các báo, đài cũng thường xuyên đề cập tới vấn đề này. Sở giáo dục đào 
tạo, Phòng giáo dục đào tạo cũng đã có các văn bản chỉ đạo thực hiện việc không được 
để nhà vệ sinh học sinh dơ bẩn. 
 Việc làm đầu tiên là xây dựng nội qui sử dụng công trình vệ sinh của học sinh 
với các nội dung cụ thể như học sinh đi đúng nơi vệ sinh dành cho nam, nữ. Đi tiểu 
đúng nơi qui định, tiểu xong múc nước dội sạch, rửa tay sạch sẽ; đi đại tiện vào khu 
vực qui định, đóng cánh cửa, đi đại tiện đúng lỗ, sử dụng giấy vệ sinh phải bỏ vảo sọt 
đựng, xả nước khi đi đại tiện, rửa tay sạch sẽ  Bảng nội qui được dán ngay trước các 
khu vệ sinh của học sinh bằng cách giáo viên hướng dẫn và giáo dục ý thức chấp hành 
nội qui sử dụng công trình vệ sinh, tạo thành thói quen có văn hóa khi đi vệ sinh cho tất 
cả học sinh trong lớp và để học sinh có thói quen, biết cách vệ sinh cá nhân hằng ngày; 
vào đầu năm học nhất là các em học sinh lớp Một vào tiết hoạt động tập thể thầy cô dẫn 
các em ra vòi nước rửa sạch sẽ, hướng dẫn cho từng em cụ thể đồng thời thường xuyên 
kiểm tra nhắc nhở hằng ngày rửa tay trước khi ăn cơm, sau khi dùng bảng phấn, sau khi 
đi vệ sinh. Nếu em nào tay chân bẩn cần cho đi rửa ngay và nhắc nhở trước lớp. Đến 
cuối tuần có phần thưởng động viên khuyến khích cho những học sinh sạch sẽ, gọn 
gàng trong cả tuần, nhắc nhở những học sinh chưa sạch giáo viên làm thường xuyên 
như vậy nên học sinh đã đi vào nền nếp, có thói quen giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ. 
 Đồng thời thường xuyên nhắc nhở việc quét dọn nhà vệ sinh của nhân viên phục 
vụ, đảm bảo không để nhà vệ sinh dơ bẩn. Ít nhất một ngày phải thực hiện ba lượt vệ 
sinh, cụ thể là sau giờ ra chơi buổi sáng, sau giờ ra chơi buổi chiều và khi học sinh tan 
học. Qua việc thực hiện phong trào thì nhà vệ sinh của nhà trường luôn được vệ sinh 
sạch sẽ. 
 3.1.5. Tổ chức lao động thường xuyên, định kỳ. 
 Ngay từ đầu năm học nhà trường xây dựng kế hoạch lao động. Phân công trách 
nhiệm cụ thể cho từng lớp phụ trách từng khu vực, giáo viên chủ nhiệm chịu trách 
nhiệm trước nhà trường về nhiệm vụ được giao. 
 Các lớp vừa có trách nhiệm lao động, vệ sinh khu vực được phân công hàng 
ngày, đồng thời cũng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sinh khu vực của mình. Kịp thời phát 
hiện và báo cáo thầy cô chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội nếu có học sinh lớp khác làm 
mất vệ sinh khu vực của lớp mình quản lý. 
 Ngoài ra 1 tháng/lần các lớp thực hiện tổng vệ sinh toàn bộ trường lớp học như 
vệ sinh trường, lớp, lau bàn ghế, lau cửa kính, với tất cả Đoàn viên, học sinh tham 
gia tổng vệ sinh chung toàn trường. 
 Các phòng hành chính, các phòng chức năng của nhà trường cũng được chỉ đạo 
vệ sinh, bố trí sắp xếp hợp lý tủ, bàn, trang trí hoa lá để tạo môi trường thoải mái, sạch 
đẹp cho cán bộ, giáo viên, học sinh học tập, làm việc. Với việc tổ chức lao động 12 
thường xuyên, định kỳ đảm bảo cho khuôn viên trường, phòng học, phòng chức năng 
và các phòng hành chính luôn luôn được giữ gìn sạch sẽ hàng ngày. 
 3.2.Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua lồng ghép nội dung vào các môn 
học. 
 Chương trình Tiểu học đã được thiết kế, xây dựng trên tinh thần gắn với các nội 
dung giáo dục môi trường. Nội dung giáo dục môi trường được thể hiện ở tất cả các 
môn học: Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Nghệ thuật, Thể dụcvà 
gắn bó vào từng bài cụ thể. Chẳng hạn, chương trình môn Đạo đức ở Tiểu học từ lớp 1 
đến lớp 5 đều phản ánh các chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi trong các 
mối quan hệ của học sinh với gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên. 
Bài 14,19,21 (lớp 1); bài 4,8,9,(lớp 2); bài 11,14,15,27,28 (lớp 3); bài 3,4,5,9 (lớp 4) là 
những bài có liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường. Chương trình môn Tự nhiên 
và xã hội ở các lớp 1, 2, 3 có thể giúp học sinh hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã 
hội, các nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường. 
Môn Tiếng Việt có thể lồng ghép giáo dục môi trường qua các bài có nội dung về lòng 
yêu quê hương đất nước, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp; ở môn Mĩ thuật có thể cho học 
sinh vẽ tranh về môi trường, vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường 
 Thông qua các bài học được tiến hành với các hình thức tổ chức đa dạng, linh 
hoạt có thể ở các địa điểm khác nhau (trên lớp, ngoài trời), giáo viên thông qua tiết học 
có thể đem lại cho học sinh các thông điệp phong phú về giữ gìn, bảo vệ môi trường 
giúp các em lĩnh hội kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường một cách tự nhiên, sinh 
động và hiệu quả. 
 *Tích hợp, lồng ghép Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Tiếng Việt lớp 
5. 
 Khi dạy môn Tiếng Việt, thông qua các ngữ liệu dùng để dạy kiến thức và kĩ 
năng, thể hiện ở các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập 
làm văn, cung cấp cho học sinh những hiểu biết về đặc điểm sinh thái môi trường, sự 
giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Từ đó giáo dục cho các em lòng yêu quý, ý thức bảo 
vệ môi trường, có hành vi đúng đắn với môi trường xung quanh. 
Ví dụ: Chính tả bài Luật Bảo vệ môi trường nội dung tích hợp về GDBVMT là Nâng 
cao nhận thức và trách nhiệm của học sinh về bảo vệ môi trường; Phương thức tích 
hợp là khai thác trực tiếp nội dung bài. 
 *Tích hợp, lồng ghép Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Môn Khoa học 
lớp 5. 
 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường của môn Khoa học được thể hiện chủ yếu 
qua các vấn đề: 
 - Cung cấp cho học sinh những hiểu biết về môi trường sống gắn bó với các em, 
môi trường sống của con người. 
 - Hình thành các khái niệm ban đầu về môi trường, môi trường tự nhiên, môi 
trường nhân tạo, sự ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường. 
 - Biết một số tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, quan hệ khai thác, sử dụng 
môi trường. Biết mối quan hệ giữa các loài trên chuỗi thức ăn tự nhiên. 13 
 - Những tác động của con người làm biến đổi môi trường cũng như sự cần thiết 
phải khai thác, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững. 
 - Hình thành cho học sinh những kỹ năng ứng xử, thái độ tôn trọng và bảo vệ 
môi trường một cách thíết thực, rèn luyện năng lực nhận biết những vấn đề về môi 
trường. 
 - Tham gia một số hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, thuyết 
phục người thân, bạn bè có ý thức, hành vi bảo vệ môi trường. Ví dụ: Chủ đề về Môi 
trường “Con người và môi trường” nội dung tích hợp GDBVMT là mối quan hệ giữa 
con người với môi trường: con người cần đến không khí thức ăn, nước uống từ môi 
trường và mức độ tích hợp là Liên hệ / bộ phận. 
 *Tích hợp, lồng ghép Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Môn Lịch sử-Địa 
lí lớp 5. 
 Thông qua môn học giáo viên giúp học sinh: 
 - Hiểu biết về môi trường sống gắn bó với các em, môitrường sống của con 
 ngời trên đất nước Việt Nam, trong khu vực và trên thế giới. 
 - Nhận biết được những tác động của con người làm biến đổi môi trường cũng 
 như sự cần thiết phải khai thác, bảo vệ môi trường để phát triển bềnvững.
 - Hình thành và phát triển năng lực nhận biết những vấn đề vềmôitrường,
 những kỹ năng ứng xử, bảo vệ môi trường một cách thiết thực.
 - Có ý thức bảo vệ môi trường và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường 
 xung quanh phù hợp với lứa tuổi. 
 *Tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn Mĩ thuật. 
 Phương pháp dạy học mĩ thuật nói trên là sự đúc kết những kinh nghiệm quý báu từ 
Vương quốc Đan Mạch, các nền giáo dục nghệ thuật tiên tiến trên thế giới. Những quy 
trình dạy - học Mĩ thuật theo phương pháp mới đều hướng tới mục tiêu lấy học sinh 
làm “ trung tâm”; Giáo viên Mĩ thuật xác định giáo dục bảo vệ môi trường cho học 
sinh ở phần quan sát chọn nội dung này, muốn có được sự lựa chọn đúng đắn thì cần 
phải làm gì? Bằng những mảng ghép của mình, bằng tinh thần tập thể các em đã có 
sản phẩm thực sự có giá trị sau mỗi tiết học Mĩ thuật; Không chỉ bằng kết quả của các 
em đạt được mà thông qua môn Mĩ thuật đã giáo dục bảo vệ môi trường cho các em. 
 3.3. Lồng ghép Giáo dục môi trường thông qua tiết sinh hoạt dưới cờ. 
 Trong những tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần hoặc tiết hoạt động trải nghiệm 
(lớp 1,2,3,4); tiết sinh hoạt (lớp 5), giáo viên dành khoảng 10 đến 15 phút để tổ chức 
cho học sinh tìm hiểu về môi trường với nhiều hình thức khác nhau nhằm củng cố, 
khắc sâu kiến thức về môi trường như trò chơi, đóng vai, triển lãm tranh, đọc thơ, 
hát.... 
 Để tổ chức thành công tiết sinh hoạt giáo viên đã tiến hành một số hình thức 
lồng ghép, tích hợp sau: 
 * Xây dựng góc môi trường. 
 Giáo viên dùng 3 tờ tô ky có đóng khung viền giao cho 3 tổ treo ở bức tường 
cuối lớp với tên gọi “Góc môi trường tổ...” trong quá trình học tập, tham khảo sách 
báo, các em có thể trưng bày vào góc môi trường của tổ mình những gì mà mình sưu 
tầm được, đó có thể là: 14 
 - Tranh ảnh về các biện pháp bảo vệ môi trường hoặc tác động của con người 
đến môi trường và hậu quả của nó. 
 - Những bài báo, câu thơ, bài hát, bài văn có liên quan đến môi trường. 
 Vào tiết sinh hoạt tập thể, các tổ tổng kết trước lớp, giáo viên nhắc nhở những 
học sinh nào còn vi phạm đồng thời tuyên dương khen, thưởng những học sinh có 
hành động, việc làm tốt tác động đến môi trường. 
 Sau khi sinh hoạt cuối tuần xong, giáo viên yêu cầu tổ trưởng của từng tổ đánh 
dấu những việc thành viên trong tổ đã làm được những công việc gì, ghi rõ thời gian 
làm việc, sau đó tổng hợp lại để khen thưởng, xếp loại thi đua vào cuối tháng. 
 * Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc lồng ghép. 
 Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh mẽ. Ở mỗi trường đều 
được trang bị nhiều thiết bị dạy học đó là điều kiện thuận lợi để giáo viên khai thác tài 
liệu, thông tin, hình ảnh, video,... cũng dễ dàng chuyển tải nội dung đó đến với học 
sinh nhằm kích thích sự hứng thú, niềm say mê khi tiếp thu những vấn đề về môi 
trường. 
 Muốn dạy các vấn đề liên quan đến môi trường, chúng ta chỉ việc vào Google 
hoặc vào Thư viện trực tuyến Violet để download về, sau đó sử dụng phần mềm 
PowerPoint 2003 để soạn thảo trình chiếu 
 Nếu hình ảnh download xuống bị mờ ta có thể sử dụng phần mềm Office Picture 
Manager để điều chỉnh; Đối với phim, khi download về thường có định dạng đuôi là 
flv, cần phải dung phần mềm để chuyển “flv” sang “avi” hoặc “mpg” mới đưa vào 
PowerPoint trình chiếu được. Nếu đoạn phim download xuống quá dài làm ảnh hưởng 
đến tiết dạy giáo viên có thể sử dụng phần mềm Movie Maker để cắt, ghép phim tư 
liệu. 
 Ví dụ: Khi dạy bài “Môi trường” - Khoa học 5 
 Ngoài những hình ảnh trong sách giáo khoa giáo viên có thể download hàng loạt 
hình ảnh về môi trường rừng, môi trường nước, môi trường làng quê, môi trường đô 
thị, để phục vụ bài dạy. 
 Đó chính là cơ sở giúp giáo viên khắc sâu kiến thức và thực hiện hiệu quả cao 
trong việc lồng ghép tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường đến học sinh. 
 3.4. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp. 
 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Tiểu học rất đa dạng và phong phú. Các 
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Tiểu học là điều kiện thuận lợi và phù hợp với 
các nhu cầu tham gia hoạt động tập thể của học sinh tiểu học. Các hình thức đa dạng, 
phong phú của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp cho việc chuyển tải các nội 
dung giáo dục, đặc biệt là giáo dục bảo vệ môi trường đến học sinh một cách nhẹ 
nhàng, tự nhiên và hấp dẫn. 
 - Tổ chức cho những nhóm học sinh có cùng hứng thú, sở thích tìm hiểu môi 
trường tự nhiên hoặc các di sản văn hóa, lịch sử của xã nhà hoặc Phát động phong trào 
“Tết trồng cây - đời đời nhớ ơn Bác”; phát động mỗi học sinh trồng một loại cây tại 
gia đình không chỉ giúp nhà trường có được một khung cảnh đẹp, tăng thêm số lượng 15 
cây xanh mà còn tạo cho học sinh có được một môi trường “xanh - sạch - đẹp” và an 
toàn. 
 Hoặc xây dựng chương trình thử nghiệm cho hoạt động ngoài giờ lên lớp phù 
hợp với nhóm tuổi của học sinh ở các cấp độ Tiểu học khác nhau. 
 Như vậy, trong bất kỳ một hoạt động nào, giáo viên đều đã khéo léo lồng ghép nội 
dung Bảo vệ môi trường vào, nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở học sinh 
như nhắc các em biết bỏ rác vào thùng rác, biết thu dọn đồ dùng học tập hoặc sách vở 
sau khi học xong, tiết kiệm nước khi uống, rửa tay, rửa mặt, tiết kiệm điện trong giờ ra 
chơi, trồng cây xanh để có một bầu không khí trong lành. 
 3.5. Hình thức tích hợp. 
 Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa và đặc thù giảng dạy từng môn 
học ở Tiểu học, có thể tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường theo các hình thức sau: 
 + Khai thác trực tiếp. 
 + Khai thác gián tiếp. 
 + Dạy học trong lớp và ngoài thiên nhiên. 
 Giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ được thực hiện tích hợp trong các tiết học 
(trong lớp, ngoài lớp) mà còn được giáo dục thông qua các hoạt động khác như: thực 
hành giữ gìn trường, lớp sạch sẽ; trang trí lớp học đẹp; giáo dục quyền trẻ em và tiếp 
cận kỹ năng sống. 
 3.6. Phương pháp tích hợp. 
 Khi dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các môn học, giáo viên 
sử dụng các phương pháp của từng bộ môn. 
 - Phương pháp thảo luận; Phương pháp quan sát. 
Ví dụ: Khi dạy bài “Vệ sinh xung quanh nhà” (lớp 3), giáo viên có thể tích hợp giáo 
dục bảo vệ môi trường bằng việc giáo dục học sinh biết việc làm nào đúng, việc làm 
nào chưa đúng trong xử lý rác thải. Có thể tổ chức hoạt động này như sau: 
 + Giáo viên cho học sinh quan sát các hình trong sách giáo khoa và nêu ý kiến của 
mình về các việc làm trong từng hình xem hành động nào đúng, hànhộ đ ng nào chưa 
đúng. 
 + Khi được quan sát dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ có nhận thức và 
hành vi đúngắ đ n không nên vứt rác bừa bãi ở những nơi công cộng; cách xử lý rác thải. 
 - Phương pháp trò chơi: 
 Ví dụ: “Khi dạy bài giữ vệ sinh trường lớp” (lớp 1), giáo viên có thể tổ chức cho 
học sinh chơi trò chơi đóng vai với tình huống như sau: 
 “Trước giờ học, em nhìn thấy một nhóm ăn quà , vứt rác giấy bừa bãi ra lớp, khi 
đó em đã làm gì? Hãy đóng vai thể hiện tình huống và cách xử lý của em”. Khi học 
sinh đóng vai, các em thể hiện nhận thức, thái độ của mình qua vai đã đóng. Từ đó, 
giáo viên có thể điều chỉnh, bổ sung cho học sinh về nhận thức, hành vi giữ gìn vệ sinh 
trường, lớp học. 
 - Phương pháp tìm hiểu điều tra. 
 Trong giáo dục bảo vệ môi trường, đây là phương pháp tổ chức cho học sinh 
tham gia vào quá trình tìm hiểu các vấn đề môi trường ở địa phương. Qua tìm hiểu, 16 
học sinh nhận thức được thực trạng môi trường, giáo dục học sinh tình yêu quê hương 
đất nước, ý thức bảo vệ môi trường. Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần lưu 
ý: Thiết kế các câu hỏi, bài tập cho học sinh (cá nhân, nhóm) tiến hành điều tra, tìm 
hiểu các vấn đề về giáo dục môi trường (phương pháp này thường dùng cho học sinh 
lớp 3,4,5). 
 Ví dụ: Khi dạy bài “Vệ sinh xung quanh nhà” (lớp 3), giáo viên có thể cho học 
sinh tìm hiểu về các vấn đề: 
 + Cách xử lý rác thải của địa phương nơi gia đình em sinh sống. 
 + Các loại nhà tiêu thường xử dụng ở địa phương. 
 + Ở địa phương, các gia đình, bệnh viện và nhà máy thường cho nước thải chảy 
đi đâu? 
 Giáo dục môi trường thông qua các môn học góp phần không nhỏ vào việc hình 
thành nhận thức về môi trường và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh, 
nhưng những kiến thức đó sẽ không vững chắc nếu không được củng cố, rèn luyện 
thông qua các hoạt động bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau. 
 3.7. Xây dựng các hình thức lồng ghép. 
 - Lồng ghép bằng hệ thống câu hỏi. 
 - Lồng ghép dưới dạng bài tập trắc nghiệm. 
. - Lồng ghép dưới dạng trò chơi học tập. 
 - Đóng vai, diễn kịch . 
 3.8. Điều kiện thực hiện biện pháp. 
 + Bám sát nhiệm vụ năm học của phòng Giáo dục và Đào tạo về việc hướng 
dẫn nhiệm vụ năm học cấp Tiểu học, nhà trường chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể, cá 
nhân xây dựng kế hoạch. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các hoạt 
động trong nhà trường, đặc biệt là hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường. Tạo điều 
kiện về cơ sở vật chất, về thời gian để đội ngũ giáo viên trong nhà trường cùng tham 
gia thực hiện. 
 + Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có tâm huyết với nghề, có tinh 
thần học hỏi đồng chí đồng nghiệp. 
 Tóm lại để học sinh Tiểu học có được ý thức “bảo vệ môi trường” thì các biện 
pháp phải có mối quan hệ khăng khít với nhau, đồng thời phải thực hiện tốt bắt đầu từ 
việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo hoạt động chuyên môn, phân công giáo viên chủ 
nhiệm, kiêm nhiệm; Phải có sự kiểm tra chỉ đạo chặt chẽ của ban Giám hiệu nhà 
trường cũng như tổ trưởng tổ chuyên môn. 
 3. Kết quả sau khi thực hiện sáng kiến. 
 Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm quản lý của bản thân, sự 
đồng thuận hợp tác của các bạn đồng nghiệp, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ đã 
giúp tôi đạt được một số kết quả trong việc chỉ đạo giáo viên dạy giáo dục bảo vệ môi 
trường cho học sinh. 
 Qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, đội 
ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường đã chú trọng, đã quan tâm, nhận thức đúng ứm c 17 
tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong nhà trường 
học. Chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt. 
 3.1.Về phía học sinh: 
 - Học sinh phấn khởi, tích cực, say mệ học tập, có ý thức tốt đối với môi 
trường. Có ý thức trong các hành vi đối xử với rác thải, ý thức bảo vệ môi trường và 
sẵn sàng nhắc nhở người thân thực hiện việc bảo vệ môi trường như : 
 +Tự giác tham gia vào việc vệ sinh lớp học, chăm sóc và bảo vệ cây xanh. 
 + Biết tham gia dọn vệ sinh thôn xóm nơi em ở, trồng cây xanh quanh nhà, giữ 
gìn vệ sinh nhà ở và vệ sinh cá nhân sạch sẽ. 
 - Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các môn học đã có tác dụng tích cực, 
hiệu quả các em học sinh đã biết về môi trường, biết bảo vệ môi trường. Đặc biệt là 
các chuẩn mực hành vi về bảo vệ môi trường: 
 + Về tri thức đạo đức: Các em biết tôn trọng, quý trọng thiên nhiên; sống thận 
trọng và có trách nhiệm với môi trường, hiểu ý nghĩa, tác dụng của hành vi bảo vệ môi 
trường; tác hại của những hành động gây ô nhiễm môi trường; ý nghĩa ích lợi của môi 
trường trong lành, tác hại của môi trường bị ô nhiễm; Các em đã sớm nảy nở những 
hành vi, những việc làm cần thiết để bảo vệ môi trường. 
 + Về thái độ: Các em tích cực tham gia các công việc bảo vệ môi trường; Yêu 
mến thiên nhiên xung quanh; Bày tỏ thái độ về hành vi đồng tình với hành vi tốt; phê 
bình hành vi chưa tốt đối với môi trường. 
 + Về hành vi: Các em đã có việc làm, thói quen giữ gìn, bảo vệ môi trường 
bằng những hành động phù hợp như chăm sóc cây, vật nuôi, bảo vệ động vật có ích, vệ 
sinh trường lớp, nhà cửa. Cảnh quan sạch đẹp của nhà trường luôn có sự góp sức của 
các em học sinh từ lớp 1 đến lớp 5. 
 3.2. Về phía giáo viên: 
 Giáo viên nhận thức rõ tầm quan trọng của việc đưa nội dung giáo dục bảo vệ 
môi trường vào nhà trường là cần thiết. Do đó họ tích cực học tập, tích lũy những kiến 
thức cơ bản và các thông tin cập nhập về môi trường để giáo dục ý thức bảo vệ môi 
trường cho học sinh. 
 Trong giảng dạy, chú ý đến hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm nhiều hơn mà 
hiệu quả lớn nhất là nhà trường đã được sự ủng hộ, đồng thuận của cha mẹ các em, của 
các tổ chức, các lực lượng xã hội trong việc giáo dục văn hóa, truyền thống cho học 
sinh, đồng thời đây là những cơ hội vàng dạy học sinh bảo vệ môi trường sống. 
 3. Kết quả thu được: 
 Số học sinh Số học sinh có ý thức bảo vệ 
 Số học 
 STT Khối có ý thức bảo vệ môi trường môi trường chưa nhiều 
 sinh 
 Số lượng % Số lượng % 
 1 1 106 106 100 0 0 
 2 2 106 106 100 0 0 
 3 3 116 116 100 0 0 
 4 4 113 113 100 0 0 
 5 5 114 114 100 0 0 18 
 Cụ thể với cuộc thi: “Xây dựng trường học Sáng – Xanh - Sạch - Đẹp -An toàn” 
năm học 2023-2024: Với bao cố gắng, nỗ lực của Cán bộ, giá viên, công nhân viên, 
học sinh, phụ huynh học sinh _ Ngôi trường Tiểu học Cổ Đô đạt giải Nhất cấp Tiểu 
khu và đã đang tham gia cấp huyện. Đó là niềm tin, là thành quả rất đỗi tự hào mà 
qua “ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường” mới có được. 
 III. Hiệu quả của sáng kiến 
 1. Hiệu quả về khoa học: 
 - Học sinh có ý thức được trách nhiệm bảo vệ môi trường. 
 - Học sinh có các kĩ năng BVMT phù hợp với lứa tuổi của các em (trồng và chăm 
- sóc cây, làm cho nơi ở sạch sẽ, trường lớp không có rác thải bừa bãi...); 
 - Sống hòa hợp gần gũi với thiên nhiên, thân thiện với môi trường; 
 - Sống tiết kiệm, ngăn nắp, vệ sinh chia sẻ, hợp tác. 
 - Học sinh nhận biết, hiểu về: Môi trường tự nhiên và vai trò của môi trường tự 
nhiên đối với sự sống; Ô nhiễm môi trường; Biện pháp bảo vệ môi trường (nhà ở, 
trường học, nơi sinh sống,...). 
 - Học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi. 
 - Tạo cơ hội để học sinh trải nghiệm những cảm xúc khi tiếp xúc với môi trường 
tự nhiên và thái độ của các em khi gặp những “vấn đề” về môi trường, hay những hành 
vi phá hoại hoặc gây ô nhiễm môi trường. 
 2. Hiệu quả về kinh tế: 
 + Bảo vệ sức khỏe (Một môi trường trong lành giúp giảm thiểu nguy cơ mắc các 
bệnh liên quan đến ô nhiễm môi trường, giúp con người có một cuộc sống khỏe mạnh 
hơn). 
 + Cung cấp nguồn thực phẩm và nước sạch (Môi trường tự nhiên cung cấp nguồn 
cung cấp thực phẩm và nước sạch cho con người. Bảo vệ môi trường tự nhiên giúp 
duy trì sự sản xuất thực phẩm và đảm bảo nguồn nước sạch cho cuộc sống của con 
người); 
 + Phát triển kinh tế (Môi trường trong lành có vai trò quan trọng trong việc thu 
hút du lịch và đầu tư, góp phần phát triển kinh tế của một quốc gia hoặc vùng lãnh 
thổ). 
 3. Hiệu quả về xã hội: 
 - Học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được 
vào thực tiễn, từ đó, hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng 
tạo của bản thân. Để học sinh có phẩm chất của người lao động mới. 
 -Trong vui chơi cũng như trong học tập, học sinh luôn có tinh thần phấn khởi, 
mạnh dạn, tự tin, tự giải quyết vấn đề và có nhiều sáng tạo mới . 
 - Phụ huynh học sinh rất vui mừng phấn khởi với những kết quả của các con 
 - Sáng kiến đã giúp cho việc nâng cao chất lượng bảo vệ môi trường mọi lúc, mọi 
nơi được tốt hơn; 
 IV. Tính khả thi 
 Sáng kiến kinh nghiệm dễ áp dụng, dễ thực hiện bởi các giải pháp đề ra không 
quá khó đối với giáo viên, học sinh. 19 
 Sáng kiến này có khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị trường học, cho tất 
cả các giáo viên, học sinh trong thực tế giảng dạy đạt hiệu quả. 
 Những giải pháp đưa ra trong sáng kiến có thể áp dụng với các lớp khác và các 
đơn vị khác trong toàn huyện, thành phố. 
 Các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, 
thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng... Do đó ễd gây hứng thú cho học sinh, đặc biệt là 
học sinh Tiểu học. Học sinh sẽ phát huy vai trò cụ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và 
sáng tạo của bản thân. 
 V. Thời gian thực hiện sáng kiến 
 Từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 5 năm 2024 
 VI. Kinh phí thực hiện sáng kiến 
 Các giải pháp của sáng kiến dễ thực hiện, không tốn thời gian và tiết kiệm được 
rất nhiều chi phí. 
 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 I. Kết luận: 
 Sau một năm nghiên cứu sáng kiến: "Quản lý, chỉ đạo, giáo dục ý thức bảo vệ 
Môi trường cho học sinh Tiểu học Cổ Đô". Tôi đã tiến hành tìm hiểu, nắm bắt thực 
trạng, đề ra một số biện pháp, đồng thời áp dụng những biện pháp đó vào thực tế ở 
trường, bước đầu đã có kết quả tốt: Các em không chỉ học giỏi về kiến thức mà còn 
được “ tôi luyện” những kỹ năng bảo vệ môi trường, qua đó các em có được một môi 
trường lành mạnh, an toàn, tích cực, vui vẻ. 
 Giáo dục bảo vệ môi trường ngay từ cấp Tiểu học sẽ rút ngắn thời gian trang bị 
cho các em vốn kiến thức, kỹ năng, giá trị sống để làm hành trang bước vào đời; 
Không những thế “giáo dục bảo vệ môi trường” cho học sinh là một trong những nội 
dung giáo dục quan trọng, có được ý thức bảo vệ môi trường sẽ giúp các em tự tin 
bước vào cuộc sống tương lai. Tăng ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh chính là 
nâng cao chất lượng nguồn lực đáp ứng yêu cầu hội nhập hiện nay của đất nước; bởi 
khi yếu tố con người được coi trọng về tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần 
nhân cách của con người càng được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực 
xã hội. Một nhà hiền triết đã nói “khoa học mà không có hành vi đạo đức thì chỉ là sự 
tàn rụi của linh hồn” mà hành vi đạo đức đó chính là kĩ năng, ý thức bảo vệ môi 
trường sống của học sinh vì vậy việc thực hiện ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh 
là cần thiết biết bao. Cần khẳng định việc học sinh thích nghi nhanh hay chậm, hình 
thành những kĩ năng sống diễn ra lâu hay mau phụ thuộc rất nhiều vào mức độ đúng 
đắn trong các chuẩn của thầy, của cô đối với học sinh. Và đó cũng chính làphần 
thưởng quý giá nhất giành cho tập thể giáo viên ở trường chúng tôi. 
 II. Kiến nghị: 
 1. Đối với giáo viên: 
 - Nghiên cứu tham khảo tài liệu, không ngừng bồi dưỡng nâng cao trìnhđộ
chuyên môn. Giáo viên phải là tấm gương sáng về giữ gìn và bảo vệ môi trườngđể
học sinh noi theo. 20 
 - Luôn kết hợp với nhà trường và phụ huynh rèn cho học sinh có ý thức bảo vệ
môi trường ở mọi lúc, mọi nơi. 
 2. Đối với nhà trường: 
 - Tổ chức các buổi lao động tập thể, dùng các bảng tin, thông báo để cungcấp
kiến thức cho học sinh; Xây dựng thêm công trình măng non để làm vườn hoa cây
cảnh, tạo khung cảnh xanh- sạch-đẹp cho trường. 
 - Cần thường xuyên tổ chức trao đổi phương pháp giảng dạy ở tất cả cácmôn
học để giáo viên đúc kết kinh nghiệm thu được qua việc tích hợp nộidungtuyên
truyền. 
 - Nhà trường đặt mua sách, tài liệu có liên quanđến nội dung giảng dạy về bảo
vệ môi trường giúp giáo viên nghiên cứu soạn giảng đạt kết quả caohơn.
 Trên đây là một số những biện pháp đã giúp tôi làm tốt công tác quản lý, chỉ 
đạo công tác giảng dạy của giáo viên trong trường. Đây là những kinh nghiệm nhỏ 
của bản thân với mong muốn các cấp lãnh đạo, bạn bè đồng nghiệp tham khảo, đóng 
góp ý kiến để công tác quản lý, chỉ đạo nhằm nâng cao trình độ nhận thức“bảo vệ môi 
trường” cho học sinh trong trường Tiểu học ngày một hoàn thiện, đầy đủ và sâu sắc 
hơn với một hành tinh xanh 
 Tôi xin chân thành cảm ơn! 
 Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2024 
 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Người viết 
 (kí tên, đóng dấu) 
 Cao Thu Thủy. 

File đính kèm:

  • pdfskkn_quan_ly_chi_dao_giao_duc_y_thuc_bao_ve_moi_truong_cho_h.pdf