SKKN Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non (GV: Nguyễn Thị Cần - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chăm sóc nuôi dưỡng
- Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non”
- Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ ngày 09/2024 tại trường Mầm non Ba Trại A.
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” trình bày đúng quy định văn bản kết cấu gồm 3 phần chính (đặt vấn đề, nội dung, kết luận và khuyến nghị).
Việc áp dụng phương pháp được tiến hành theo các biện pháp thực hiện cụ thể như sau:
Giải pháp 1: Xây dựng khẩu phần ăn hợp lí, thưòng xuyên thay đổi kết hợp nhiều loại thực phẩm giúp trẻ ăn ngon miệng.
Giải pháp 2: Lựa chọn thực phẩm tươi ngon để đảm bảo an toàn cho trẻ.
Giải pháp 3: Cách chế biến các món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng.
Giải pháp 4: Tuyên truyền và kết hợp với các bậc phụ huynh về chế độ ăn của trẻ.
- Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non”
- Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ ngày 09/2024 tại trường Mầm non Ba Trại A.
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” trình bày đúng quy định văn bản kết cấu gồm 3 phần chính (đặt vấn đề, nội dung, kết luận và khuyến nghị).
Việc áp dụng phương pháp được tiến hành theo các biện pháp thực hiện cụ thể như sau:
Giải pháp 1: Xây dựng khẩu phần ăn hợp lí, thưòng xuyên thay đổi kết hợp nhiều loại thực phẩm giúp trẻ ăn ngon miệng.
Giải pháp 2: Lựa chọn thực phẩm tươi ngon để đảm bảo an toàn cho trẻ.
Giải pháp 3: Cách chế biến các món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng.
Giải pháp 4: Tuyên truyền và kết hợp với các bậc phụ huynh về chế độ ăn của trẻ.
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non (GV: Nguyễn Thị Cần - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non (GV: Nguyễn Thị Cần - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHẾ BIẾN MÓN ĂN CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON Lĩnh vực : Nuôi dưỡng Tên tác giả : Nguyễn Thị Cần Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại A Chức vụ : Nhân viên nuôi dưỡng Năm học 2024-2025 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------------- ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm cấp cơ sở Trình Họ và Nơi công Chức độ Ngày sinh Tên sáng kiến tên tác danh chuyên môn Một số kinh nghiệm Nguyễn Trường Nhân Cao chế biến món ăn cho Thị 26/11/1991 Mầm non viên nuôi đẳng trẻ trong trường mầm Cần Ba Trại A dưỡng non. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chăm sóc nuôi dưỡng - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ ngày 09/2024 tại trường Mầm non Ba Trại A. - Mô tả bản chất của sáng kiến: Đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non” trình bày đúng quy định văn bản kết cấu gồm 3 phần chính (đặt vấn đề, nội dung, kết luận và khuyến nghị). Việc áp dụng phương pháp được tiến hành theo các biện pháp thực hiện cụ thể như sau: Giải pháp 1: Xây dựng khẩu phần ăn hợp lí, thưòng xuyên thay đổi kết hợp nhiều loại thực phẩm giúp trẻ ăn ngon miệng. Giải pháp 2: Lựa chọn thực phẩm tươi ngon để đảm bảo an toàn cho trẻ. Giải pháp 3: Cách chế biến các món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng. Giải pháp 4: Tuyên truyền và kết hợp với các bậc phụ huynh về chế độ ăn của trẻ. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có. - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Để cho việc thực hiện và áp dụng sáng kiến đạt kết quả cao cần đảm bảo các yếu tố sau: - Nhân viên nuôi dưỡng nắm vững kỹ thuật chế biến và các kiến thức về an toàn thực phẩm trong chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong trường Mầm non. - Các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ được thuận lợi. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến của tác giả: Sáng kiến được áp dụng tại trường Mầm non Ba Trại A và đã thu được những kết quả khảo sát trên từng trẻ. Tôi nhận thấy các biện pháp và sáng kiến “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non” đưa ra là phù hợp từ việc lựa chọn thực phẩm an toàn cùng với sự kết hợp trong các nguyên liệu tạo nên các món ăn ngon giúp trẻ thích thú ăn hết suất từ đó tỉ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi, nhẹ cân cuối năm học giảm đáng kể so với đầu năm học. *Đối với trẻ: Tạo cảm giác hứng thú khi ăn, ăn hết suất của mình, trẻ đến trường được ăn uống dầy đủ chế độ dinh dưỡng. Phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ Trẻ không thích ăn rau nay đã thích thú với các món rau Đảm bảo bữa ăn cho trẻ phong phú hấp dẫn đảm bảo giá trị dinh dưỡng góp phần nâng cao sức khỏe giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng và phòng chống bệnh béo phì *Đối với bản thân: Bản thân tôi được trau dồi những kinh nghiệm trong cách chế biến món ăn đảm bảo sức khỏe của trẻ em, con người trong cuộc sống và trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường Mầm non. Biết kết hợp các loại rau, củ, quả với nhau để cho các món ăn không những giàu chất dinh dưỡng mà còn đảm bảo tính thẩm mỹ cao để tạo cảm giác thèm ăn trong những bữa ăn hàng ngày. Đa số phụ huynh đã nhận thức rõ về việc chăm sóc, nuôi dưỡng về tầm quan trọng trong những bữa ăn của con một ngày đến trường. Hiểu được giá trị dinh dưỡng một bữa ăn của con tại trường Khi trẻ ở nhà phụ huynh không phải vất vả khi cho trẻ ăn, không cần quát mắng, ép buộc trẻ ăn rau. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Trại, ngày 22 tháng 3 năm 2025 Người nộp đơn (Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Cần TRƯỜNG MN BA TRẠI A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TRƯỜNG MN BA TRẠI A --------------- ---------------- Ba Vì, ngày 24 tháng 3 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trong trường mầm non. - Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Cần - Họ tên người đánh giá: Bạch Thị Hạnh - Cơ quan công tác: Trường MN Ba Trại A Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến tập trung vào các kinh nghiệm thực tế trong quá trình chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Ba Trại A. Các kinh nghiệm được chia sẻ gần gũi, thiết thực và dễ dàng áp dụng trong điều kiện bếp ăn của trường. Điểm đánh giá: 18 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp): 5 điểm Sáng kiến đã đề cập đến việc xây dựng khẩu phần ăn hợp lý, thay đổi thực đơn và tuân thủ quy trình giao nhận thực phẩm, cho thấy sự chú trọng đến việc cải thiện chất lượng bữa ăn cho trẻ so với các phương pháp có thể đã áp dụng trước đây. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới): 20 điểm Tính sáng tạo của sáng kiến thể hiện ở việc hệ thống hóa các kinh nghiệm trong chế biến món ăn, kết hợp nhiều loại thực phẩm để tạo sự hấp dẫn cho trẻ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và có sự linh hoạt trong việc điều chỉnh thực đơn. Điểm đánh giá: 17,5 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Có số liệu so sánh đối chiếu trước, sau khi thực hiện đề tài hợp lí, không mang tính hình thức. Điểm đánh giá: 7,5 điểm 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Các kinh nghiệm được chia sẻ trong sáng kiến có tính thực tiễn cao và có thể được tham khảo, áp dụng cho nhân viên nuôi dưỡng tại các trường mầm non khác, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong toàn ngành. Điểm đánh giá: 17 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Sáng kiến đã được công nhận rộng rãi và mang lại kết quả rõ rệt tại nhà trường. Nó không chỉ nâng cao hiệu quả công tác, cải thiện năng suất và chất lượng công việc, mà còn đem lại lợi ích kinh tế và xã hội, đồng thời cải tiến quy trình làm việc cho nhân viên nuôi dưỡng. Điểm đánh giá: 17 điểm 4. Nội dung 4: Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày rõ ràng, có bố cục hợp lý với các phần đặt vấn đề, nội dung và kết luận. Việc đưa ra các giải pháp cụ thể và hình ảnh minh chứng giúp người đọc dễ hình dung và tiếp cận. Điểm đánh giá: 5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 86 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt ☑ - Không đạt ☐ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Bạch Thị Hạnh MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ. .................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết và tiến hành sáng kiến. ............................................................... 1 2. Mục đích nghiên cứu. ........................................................................................ 2 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ....................................................... 2 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN. ................................................................... 2 1. Hiện trạng của vấn đề. ....................................................................................... 2 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề.......................................... 5 2.1.Giải pháp 1: Xây dựng thực đơn đa dạng phong phú, thay đổi thực phẩm theo từng mùa. ............................................................................................................... 5 2.2. Giải pháp 2: Lựa chon thực phẩm tươi ngon đảm bảo an toàn cho trẻ. ........ 7 2.3. Biện pháp 3: Kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. ..................................................................................................................... 8 2.4. Biện pháp 4: Tuyên truyền và kết hợp với các bậc phụ huynh về chế độ ăn ngủ của trẻ. .......................................................................................................... 11 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị. ................................. 11 4. Hiệu quả của sáng kiến.................................................................................... 12 4.1. Hiệu quả về khoa học. .................................................................................. 12 4.2. Hiệu quả về kinh tế. ..................................................................................... 12 4.3. Hiệu quả về xã hội. ....................................................................................... 13 5. Tính khả thi. .................................................................................................... 13 6. Thời gian thực hiện đề tài................................................................................ 13 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến. ............................................................... 13 III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ............................................................................ 13 1. Kết luận. .......................................................................................................... 13 2. Kiến nghị, đề xuất ........................................................................................... 13 IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO. ......................................................................... 15 MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH CHỨNG CHO CÁC BIỆN PHÁP I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến Sinh thời Bác Hồ đã dạy chúng ta: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Mỗi trẻ em được sinh ra đều có quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng để trẻ em phát triển toàn diện mọi mặt về tài năng, trí tuệ thì trong những bữa ăn cho trẻ ngon miệng, đảm bảo dinh dưỡng phải có người nấu hiểu biết về các chất dinh dưỡng và các kỹ thuật cơ bản. Theo tạp chí giáo dục mầm non - số 1, 2015. Trong đó Bác sĩ, Thạc sĩ Lê Thị Hải Giác đốc trung tâm khám - Tư vấn dinh dưỡng Viện dinh dưỡng Quốc gia đã khẳng định: Tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống đây là nhu cầu hằng ngày hàng ngày của tất cả mọi người, nhưng đối với trẻ em lại càng quan trọng. Một bữa ăn cân đối và hợp lý phải đầy đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng: Nhóm cung cấp chất bột đường từ ngũ cốc. Nhóm cung cấp chất đạm từ thịt, cá, tôm, trứng, sữa, đậu, đỗ, lạc, vừng. Nhóm cung cấp chất béo từ mỡ động vật và dầu thực vật. Nhóm cung cấp vitamin và khoáng chất là từ rau xanh và quả chín. Bữa ăn lúc nào cũng cần 4 nhóm trên ở tỉ lệ cân đối và hợp lý. Nhiều bà mẹ cho rằng chỉ cần cho con ăn nhiều chất bổ là được (Cho con ăn nhiều chất đạm) mà không cần ăn rau xanh hoặc ăn quả chín thay cho rau cũng không đúng, vì rau xanh cung cấp vi ta min có giá trị cao tỉ lệ hấp thu tương đối cao, do đó cần cung cấp đầy đủ rau xanh cho trẻ chống tình trạng táo bón và tốt cho đường ruột Đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho một ngày hoạt động của trẻ: Trẻ đến trường được được ăn uống như thế nào để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, không chỉ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng mà còn giúp trẻ ăn ngon miệng hứng thú với bữa ăn của mình. Món ăn ngon hấp dẫn đầy đủ dinh dưỡng giúp cơ thể trẻ phát triển tốt, tránh được bệnh tật và tạo điều kiện phát triển toàn diện giúp trẻ có tâm thế vững chắc bước vào ngưỡng cửa trường tiểu học. Chăm sóc sức khỏe, giáo dục dinh dưỡng và nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ luôn được toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường thực hiện rất nghiêm túc. Chăm sóc sức khỏe với mục tiêu là trẻ được tăng cân và đảm bảo giảm dần tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến mức thấp nhất. Cân đối hài hòa hợp lý giữa các chất dinh dưỡng với nhau để chế biến những món ăn ngon giúp trẻ tăng cường sức khỏe làm cơ sở cho sự phát triển cho 2 nhiều hoạt động mà trẻ tham gia ở gia đình cũng như ỏ nhà trường, quan trọng hơn là sự phát triển về nhân cách cho trẻ. Nhà trường chúng tôi đã duy trì hình thức 100% trẻ ăn ở bán trú từ nhiều năm nay, chất lượng bữa ăn được cải thiện, gia đình trẻ đã có sự thay đổi trong nhận thức về tầm quan trọng của công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non. Trước thực trang hiện nay nhiều trẻ còn tình trạng kén ăn, không ăn rau, không ăn các chất tanh, hoặc các loại gia vị có mùi hoặc vị cay nóng như gừng, sả. trong quá trình chế biến các gia vị như gừng sả băm nhỏ, khi ăn các con ăn phải thấy vị cay từ đó xẽ cảm thấy sợ món ăn đó. Từ thực tiễn của nhà trường, nhà bếp nấu ăn cho 543 trẻ, các độ tuổi từ 24- 36 tháng đến trẻ 5 tuổi. Là một nhân viên nuôi dưỡng của trường bản thân tôi luôn trăn trở làm sao để trẻ có thể ăn ngon miêng, ăn hết xuất và hào hứng với bữa ăn của mình. Vì vậy tôi xin mạnh dạn tổng kết kinh nghiệm dưới đề tài: “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non”. 2. Mục đích nghiên cứu Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Giảm thiểu một số bệnh đối với trẻ. Giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi, béo phì và các bệnh khác của trẻ của nhà trường trong năm học. Tạo được niềm tin, uy tín với cha mẹ học sinh yên tâm hơn khi con đến trường. Tuyên truyền cha mẹ học sinh vai trò và nhiệm vụ và tầm quan trọng của việc cho trẻ ăn uống đủ 4 nhóm chất cho trẻ ở gia đình và trường mầm non. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 9-2024 đến tháng 5-2025. - Đối tượng nghiên cứu: “Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non”. - Nghiên cứu thực tế áp dụng những biện pháp chế biến món ăn cho trẻ các độ tuổi từ 24-36 tháng đến 5 tuổi. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại trường mầm non Ba Trại A nơi tôi công tác. II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề Trẻ đến trường 1 ngày tham gia rất nhiều các hoạt động, do đó trẻ cần được cung cấp các chất dinh dưỡng để duy trì. Ngoài học tập ra trẻ còn được ăn bán trú tại trường tuy nhiên vẫn còn nhiều trẻ không ăn hết xuất, không ăn rau, trẻ thấp còi suy dinh dưỡng và béo phì. 3 Làm sao để chế biến món ăn giúp trẻ ăn ngon, ăn hết xuất là điều chúng tôi trăn trở. Tuy nhiên thì hiện tại chúng tôi thấy các phương pháp chế biến cũ không được khả thi. Như món canh rau chúng tôi chế biến bằng cách đun sôi nước sau đó thả rau vào rồi mới nêm nếm ra vị với cách làm này thì chúng tôi phải đun thật lâu để cho nhau chín nhừ, nhưng nấu như vậy rau rất rễ bị nồng và mất đi dinh dưỡng vốn có. Hay những món cần dùng đến gia vị như gừng sả, chúng tôi băm nhỏ sau đó phi thơm rồi cho thực phẩm vào đảo nhưng như vậy khi trẻ ăn rất dễ ăn phải gừng hoặc sả có vị cay làm trẻ không có hứng thú với món ăn đó Trẻ không thích ăn rau đặc biệt là rau gia vị mặc dù chúng tôi đã thái nhỏ, nhưng khi ăn món ăn có rau gia vị trẻ vẫn gắp bỏ. * Khảo sát thực trạng. Đặc điểm điển hình của nhà trường: Năm học 2024-2025 trường có 2 điểm trường, hai bếp ăn đều được cung cấp giấy chứng nhận bếp ăn an toàn thực phẩm. Bếp ăn được xây dựng theo quy trình bếp một chiều với đầy đủ thiết bị đồ dùng theo quy chuẩn của trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia. Trong quá trình thực hiện việc chế biến bữa ăn cho trẻ tại trường gặp những thuận lợi và khó khăn sau: Thuận lợi: - Về phía nhà trường: + Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và Ban Giám hiệu nhà trường cùng các bậc cha mẹ phụ huynh học sinh, đặc biệt là các con là nguồn động viên lớn nhất của các cô nuôi chúng tôi. Đây là động lực để các cô nuôi hoàn thành tốt công việc của mình trong năm học 2024-2025. + Nhà trường có đầy đủ trang thiết bị phục vụ ăn bán trú cho các con. + Chúng tôi nằm ở khu vực nông thôn lại gần chợ nên rất thuận lợi cho công tác chọn và mua các thực phẩm sạch, tươi ngon và giá cả phù hợp. + Bên cạnh đó Ban Giám hiệu hằng năm tổ chức các cuộc thi cô nuôi giỏi cấp Trường và thi đua lập thành tích chào mừng ngày 20-11 để các cô có thể năng cao tay nghề. - Về cô nuôi: + Cô nuôi yêu nghề, mến trẻ và luôn tìm tòi học hỏi các kinh nghiệm về chế biến món ăn. + Các cô nuôi có trình độ đào tạo từ trung cấp đến cao đẳng. 4 + Hằng năm các cô được khám sức khỏe định kỳ và được tham gia các buổi tập huấn do phòng giáo dục tổ chức. Khó khăn: - Vì lợi nhuận nên chất lượng một số thực phẩm còn bị ảnh hưởng. - Tài liệu tham khảo dành cho các cô nuôi còn ít. - Việc sử dung công nghệ thông tin của các cô nuôi còn hạn chế. * Điều tra thực trạng trước khi thực hiện đề tài. Sau khi quan sát trực tiếp thực tế giờ ăn của từng lớp, sổ khám sức khỏe, cân đo đầu năm học 2024-2025 của trẻ tôi đã tổng hợp số liệu khảo sát bữa ăn của trẻ như sau: Tổng số Đầu năm STT Tiêu chí khảo sát trẻ Số lượng Tỉ lệ % 1 Trẻ ăn ngon miệng hết suất 282 51,9 2 Trẻ không thích ăn rau 351 64,6 3 Trẻ SDD thể nhẹ cân 543 43 7,9 4 Trẻ SDD thể thấp còi 55 10,1 5 Trẻ thừa cân béo phì 20 3,6 Kết quả: Nhìn số liệu trên tôi thấy thực sự không yên tâm. Trẻ không thích ăn rau còn cao Trước thực trạng này nếu cứ để trẻ như vậy thì không đạt yêu cầu về cân bằng đều các chất dinh dưỡng tối thiểu trên ngày cho trẻ đủ sức khỏe học tập và vui chơi, nếu để tình trang này kéo dài thì tỉ lệ trẻ thừa cân sẽ có nguy cơ tăng cao. Vì vậy tôi đã tìm hiểu và đưa ra một số biện pháp chế biến món ăn giúp trẻ ăn ngon, hào hứng với bữa ăn ở trường. * Những giải pháp thực hiện sáng kiến. Trước thực trạng trẻ kén ăn, không ăn rau, trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, trẻ thừa cân béo phì cao như hiện nay ảnh hưởng đến các hoạt động hằng ngày của trẻ, làm sao để cân bằng các chất dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày ở trường của trẻ. Để giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất vì vậy bản thân tôi đã tìm và áp dụng một số biện pháp như sau. Giải pháp 1: Xây dựng khẩu phần ăn hợp lí, thường xuyên sử dụng các loại rau, củ, quả trong thực đơn của trẻ. Giải pháp 2: Lựa chọn thực phẩm tươi ngon đảm bảo an toàn cho trẻ. Giải pháp 3: Cách chế biến các món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng. Giải pháp 4: Tuyên truyền và kết hợp với các bậc phụ huynh về chế độ ăn uống của trẻ. 5 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 2.1.Giải pháp 1: Xây dựng thực đơn đa dạng phong phú, thay đổi thực phẩm theo từng mùa. Với mỗi một mùa nào trong năm thì đều có những loại thực phẩm phù hợp với mùa đó. Ăn những loại thực phẩm có trong mùa vừa ngon lại không có chất kích thích, chất bảo quản phù hợp với kinh tế đó cũng là lý do quan trọng để xây dựng thực đơn cho trẻ. Thực đơn là khẩu phần tính thành lượng thực phẩm để chế biến dưới dạng các món ăn, sau khi sắp xếp thành bảng món ăn,tùy từng bữa ăn hằng ngày,hàng tuần.Việc phối hợp giữa các chất dinh dưỡng là một vấn đề rất quan trọng làm sao cho một ngày trẻ đến trường được ăn đủ các chất P-L-G, Vitamin và các chất khoáng. Trong mỗi thực đơn của trẻ được kết hợp rất nhiều nguyên liệu và nhiều loại thực phẩm ,Mỗi loại thực phẩm lại cung cấp một số chất dinh dưỡng nhất định , cách tốt nhất để trẻ được ăn đủ chất là phải đan xen thêm nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn , có như vậy thực đơn mới phong phú đa dạng. Trong mỗi chúng ta ai cũng có thể nấu ăn được nhưng chế biến như thế nào để đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng một cách an toàn và hợp lý nhất, điều này luôn luôn đòi hỏi các cô nuôi ở trường mầm non phải có sáng tạo và hiểu biết về nấu ăn cho các cháu ở nhà trẻ và mẫu giáo. Do đó việc chế biến như thế nào để giữ lại các chất dinh dưỡng trong thực phẩm rất cần được chú ý. Do vậy dinh dưỡng trong trường mầm non là hết sức quan trọng vì vậy khẩu phần ăn của trẻ phải xây dựng thực đơn hợp lý, đảm bảo đủ calo, tỷ lệ các chất P – L- G đối với trẻ mẫu giáo P: 15-25%, L: 25-35%, G: 45-52% % năng lượng khẩu phần, canxi, B1, thay đổi thực đơn theo mùa với nhiều loại thực phẩm phong phú đa dạng. Sau đây là thực đơn của trẻ trong trường mầm non chúng tôi: - Thực đơn tuần chẵn: Thứ Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6 Bữa - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Thịt lợn - Thịt bò + - Cá trắm, - Thịt gà + - Thịt lợn, Sáng xay, trứng thịt lợn, thịt lợn rim lợn, khoai trứng cút vịt đảo bông khoai tây, cà gừng rả tây, cà rốt kho tàu - Canh bí rốt om mềm - Canh bí om mềm - Canh đỏ, đỗ xanh - Canh rau xanh, đậu - Canh rau rau cải nấu lạc ngót nấu phụ, cà rốt ngót nấu nấu tôm tôm nấu thịt lợn tôm 6 - Rau cải - su su ,cà xanh,thịt bò rốt xào xào tỏi thịt lợn - Cháo chim - Chè ngô - Sữa bột - Mỳ gạo - Sữa bột Chiều bồ câu,đỗ non, đỗ xanh Netsure thịt bò nấu Netsure xanh cà rốt nấu bột sắn GROW cà chua rau GROW rau thơm dây - Bánh ngọt thơm - Bánh -Sữa bột - Sữa bột - Cháo cá - Sữa bột bao Netsure Netsure trăm,đỗ Netsure -Cháo Grow Grow xanh,cà rốt Grow ngao đô rau thơm xanh cà rốt rau thơm - Thực đơn tuần lẻ: Thứ Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6 Bữa - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Cơm tẻ - Thịt gà + - Thịt lợn + - Tôm, thịt - Thịt - Thịt Sáng lợn, khoai đậu phụ lợn, cà rốt, lợn+thịt đà lợn+Trứng tây, cà rốt chiên sốt cà hành tây rim điểu, cà rốt cút kho tàu om mềm chua mắm om gừng xả - Canh rau - Canh rau - Canh bí - Canh rau - Canh bí ngót nấu lạc ngót nấu đỏ đỗ xanh cải nấu thịt đỏ, đỗ xanh - su su,cà rôt tôm nấu lạc lợn nấu thịt lợn xào thịt lợn - Bắp cải,cà rốt xào thịt lợn - Mì gạo, - Cháo - Caramen - Xôi - Sữa bột thịt lợn nấu tôm, đỗ - Bánh bao ngô(gấc) Nutrigold cà chua, rau xanh, cà - Cháo - Bánh bao thơm rốt, rau ngao,đỗ -Mỳ +thịt Chiều - Sữa bột thơm xanh cà rốt - Sữa bột lợn nấu cà Nutsure -Sữa bột rau thơm Nutsure chua Grow Nutsure -Sữa bột Grow Grow Nutsure Grow 7 Bản thân là một nhân viên nuôi dưỡng tôi luôn cố gắng để chế biến được những món ăn ngon, hấp dẫn để giúp trẻ ăn ngon miệng và ăn hết xuất. Để làm được điều đó tôi cũng thường xuyên lên lớp phụ ăn cho trẻ để phối hợp chặt chẽ với các giáo viên trên lớp động viên trẻ trong giờ ăn giúp trẻ ăn ngon miêng, hết xuất của mình. 2.2. Giải pháp 2: Lựa chọn thực phẩm tươi ngon đảm bảo an toàn cho trẻ. Đảm bảo nguồn thực phẩm sạch là tiêu chí đặt lên hàng đầu kết hợp nhiều loại thực phẩm, ở đây không phải là cho trẻ ăn cho nhanh béo, nhanh lớn mà phải cân đối tỉ lệ các chất để trẻ phát triển hài hòa. An toàn thực phẩm là vấn đề được quan tâm nhất trong việc chế biến món ăn cho trẻ. Có thực hiện tốt khâu lựa chọn thực phẩm nhất là rau, củ, thịt, hải sản đưa vào bếp ăn mới đảm bảo an toàn đủ số lượng cũng như đảm bảo chất lượng. Chính vì vậy tôi đánh giá cao khâu lựa chọn thực phẩm. Từ đầu năm Ban giám hiệu kết hợp với kế toán đã lựa chọn những nhà cung cấp thực phẩm uy tín đảm bảo an toàn thực phẩm để cung cấp thực phẩm cho trường. Tôi trực tiếp tham gia cùng Ban Giám hiệu, Kế toán, Giáo viên, giao nhận thực phẩm đúng quy định, kiểm tra kỹ chất lượng, số lượng thực phẩm xem tình trạng rau, củ qua hình thức bên ngoài, khi nhập có đảm bảo tươi mới, có dấu hiệu bị dập, nát không. Thịt có tươi ngon hay không, hải sản tươi sống và đặc biệt thực phẩm nhập vào trường không được sử dụng thực phẩm đông lạnh. Thực phẩm nhập hằng ngày phải có hóa đơn, chứng từ chứng minh thực phẩm có nguồn gốc xuất xứ, có sổ sách, có giấy biên nhận hàng ngày nhận đủ cân. Chế biến thực phẩm đảo bảo vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo đủ chất, đủ lượng. Để đảm bảo nguồn rau sạch cho trẻ, chúng tôi đã tham gia tăng gia trồng các loại rau theo mùa, mùa nào rau đấy để trẻ được ăn rau sạch đảm bảo an toàn thực phẩm. (Ảnh vườn rau) Thực phẩm phải đảm bảo tươi ngon, đảm bảo an toàn cho trẻ, thức ăn phải được nấu chín kỹ, nấu xong cho ăn ngay. Thực hiện nghiêm túc việc lưu mẫu thức ăn theo Quyết định 1246/QĐ-BYT ngày 31/3/2017, đủ lượng cần thiết đối với thức ăn lỏng tối thiểu 150ml Thức ăn rắn 100g mẫu thức ăn phải được lấy vừa nấu xong trước khi cho trẻ ăn, hộp đựng mẫu thức ăn bằng thủy tinh, inox sạch sẽ, có nhãn mác, có nắp đạy, có chữ ký người lưu, có đóng dấu nhà trường lưu mẫu thức ăn 24/24 giờ trong ngăn mát tủ lạnh với nhiệt độ 2 đến 8 độ. 8 Kết quả: Trong những năm qua cũng như năm học 2024-2025 nhờ làm tốt khâu giao nhận thực phẩm nên nhà trường không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào, luôn đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ đồng thời nâng cao kiến thức, kỹ năng lựa chọn, nhận thực phẩm của tôi và các thành viên trong tổ nuôi. (Ảnh thực phẩm tươi sống được giao vào trường) 2.3. Biện pháp 3: Kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Để đáp ứng yêu cầu, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ được tốt hơn, bản thân tôi đã cùng các thành viên trong tổ nuôi luôn trao đổi nhưng cách chế biến mới phù hợp để tạo ra những bữa ăn ngon, hợp lí, đầy đủ chất dinh dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Là người trực tiếp nấu ăn và tôi thường xuyên lên lớp phụ ăn cho trẻ. Để xem trẻ có thích thú với món ăn đó không từ đó tìm ra phương pháp chế biến phù hợp. Vì vậy tôi và các chị em tổ nuôi luôn tìm tòi cách chế biến món ăn cho trẻ theo đúng thực đơn thay đổi theo tuần và thường xuyên thay đổi cách chế biến của mình sao cho phù hợp với sở thích, và màu sắc mới lạ để giúp trẻ ăn ngon miệng. Sau khi giao nhận thực phẩm xong bắt đầu sơ chế thức ăn: Loại bỏ những phần già không ăn được và những phần gân, xơ có giá trị dinh dưỡng thấp. Phải rửa sạch rau, củ bằng nước sạch và rửa nhiều nước dưới vòi nước sạch. Không ngâm thực phẩm quá lâu trong nước vì ngâm lâu sẽ làm giảm các giá trị dinh dưỡng có trong thực phẩm. Đặc thù trường mầm non đều là các con còn nhỏ, còn bé nên khi sơ chế các cô nuôi đều phải thái hình hạt lựu nhỏ phù hợp với độ tuổi trẻ. Thịt sau khi rửa sạch được say nhỏ. Rau sau khi rửa sạch thì chúng ta phải thái thật nhỏ Khoai tây cà rốt thái hạt lưu Một số trẻ không thích ăn rau gia vị chúng tôi xay nhỏ sau đó trộn lẫn thức ăn vừa tạo màu sắc vừa để trẻ không phát hiện ra rau. (Ảnh: Sơ chế thực phẩm) Đến khâu tẩm ướp gia vị.. Từ việc trẻ không thích ăn món ăn có gừng sả băm nhỏ phi thơm chúng tôi đã áp dụng phương pháp xay nhuyễn, sau đó vắt lấy nước ướp với thực phẩm, để gia vị ngấm đều vào thực phẩm vẫn giữ đươc mùi thơm, vừa giúp trẻ không ăn phải gia vị có vị cay giúp trẻ ăn ngon miệng hơn. 9 Đối với các món canh rau thì mọi khi chúng tôi đun nước sôi lên thì thả rau vào nay chúng tôi có thể cho rau vào đảo trước, sau đó chế thêm nước rồi đun giúp rau mềm nhừ ngấm gia vị hơn Chế biến món ăn ngon, hấp dẫn là nghệ thuật của mỗi cô nuôi. Để giúp trẻ ăn ngon miệng, khi chế biến các món ăn cho trẻ tôi thường phối hợp các loại rau, củ, quả có màu sắc đẹp tạo cho trẻ cảm giác hứng thú, thích ăn. Ngoài ra để tạo hương vị thơm, ngon đối với các món ăn tôi thường tẩm ướp thức ăn khoảng 10 - 15 phút trước, đối với các món sử dụng hành khô chúng tôi phi thơm sau đó cho thực phẩm vào đảo đều. Sự kết hợp giữa thịt với các loại củ quả tăng thêm phần hấp dẫn cho món ăn Ví dụ: Khoai tây, cà rốt để chế biến món “Thịt gà thịt lợn khoai tây cà rốt om mềm”. Thịt gà thịt lợn kết hợp với khoai tây cà rốt là để tăng thêm phần hấp dẫn của món ăn hơn, giúp trẻ ăn những món ăn lạ miệng, trong thịt gà có chất béo, các vitamin A, B1, B2, C, E, axit, canxi, photpho, sắt. Mỗi một món ăn đều có một hương vị đặc trưng của nó, vì vậy sự kết hợp các thực phẩm với nhau rất cần thiết trong quá trình chế biến món ăn. Chúng ta phải kết hợp một cách hợp lý để các thực phẩm không kỵ nhau không tốt cho sức khỏe của trẻ. Nấu chín thực phẩm là khâu cuối cùng của quá trình chế biến món ăn từ lúc nguyên liệu còn tươi sống trở thành món ăn chín, mềm nhừ, có mùi thơm ngon tạo sự hứng thú với món ăn và thúc đẩy cảm giác thèm ăn của trẻ. Mỗi món ăn đều có một độ chín thích hợp, . Mỗi món ăn khác nhau thì cho thành phẩm khác nhau. (Ảnh: Chế biến thực phẩm) Sau đây là một số món ăn chúng tôi chế biến trong thực đơn hằng ngày: - Thịt bò+thịt lợn khoai tây cà om mềm - Canh rau ngót nấu tôm - su su,cà rốt xào thịt bò - Chè ngô non đỗ xanh nấu bột sắn dây * Cách chế biến: - Món thịt bò + thịt lợn, khoai tây, cà rốt om mềm. + Nguyên liệu: - Thịt lơn,thịt bò rửa sạch thái miếng sau đó xay nhỏ - Khoai tây, cà rốt gọt vỏ rửa sạch thái hạt lựu - Xả, gừng bỏ vỏ sửa sạch say nhuyễn sau đó vắt lấy nước + Cách chế biến: Cho dầu vào nồi đun nóng cho thịt bò và thịt lợn đã được ướp nước gừng sả vào đảo cùng cho săn thịt rồi cho khoai tây và cà rốt đảo đều 10 cho thêm một ít nước vào rồi nêm nếm gia vị cho vừa rồi đun cho đến khi thịt chín rồi tắt bếp. +Yêu cầu thành phẩm: thịt chín mềm, màu sắc đẹp, nước sánh. (Hình ảnh : Món thịt bò + thịt lợn, khoai tây, cà rốt om mềm) - Món canh rau ngót nấu tôm + Nguyên liệu: - Rau ngót tuốt bỏ cẫng, rỏ sạch cho ít muối vào vò nát. - Tôm đồng sủa sạch xay nhỏ cho nước vào lọc bổ bã + Cách chế biến: cho rau ngót đã sơ chế vào nồi cho gia vị đảo cho rau mềm sau đó cho nước lọc tôm vào nấu sôi cho ít dầu ăn vào rồi nêm nếm gia vị cho vừa đun cho rau ngót chín mềm rồi tắt bếp. + Yêu cầu thành phẩm: Rau ngót chín mềm, vị ngọt của tôm, vị vừa ăn, rau ngót có màu xanh. (Hình ảnh : Món canh rau ngót nấu tôm) - Su su,cà rốt xào thịt lợn + Nguyên liệu: - su su và cà rốt gọt bỏ vỏ rửa sạch rồi duôi sợi -Thịt lợn rửa sạch thái miếng rồi xay nhỏ -Hành củ băm nhỏ,hành lá rửa thái nhỏ + Cách chế biến: Bắc chảo lên bếp cho nóng, cho dầu ăn vào, cho hành củ đã băm nhỏ vào phi thơm, cho thịt lợn đã sơ chế vào đảo săn. Sau đó cho su su, cà rốt đã sơ chế sạch vào đảo đều cho gia vị mắm muối vừa ăn, đảo tiếp cho đến khi món ăn chín đều rồi rắc hành lá vào và tắt bếp. + Yêu cầu thành phẩm: Món xào chín mềm, màu bắt mắt, vị vừa ăn. (Hình ảnh: su su, cà rốt xào thịt lợn) - Chè ngô non đỗ xanh nấu bột sắn dây + Nguyên liệu: Ngô non bỏ vỏ rửa sạch tách lấy hạt,đỗ xanh đãi sạch ngâm qua.Đường,bột sắn dây. + Cách chế biến: Đổ nước vào nồi rồi bắc lên bếp, cho đỗ xanh vào đun sôi, cho ngô đã tách hạt vào đun cùng cho đến khi ngô và đỗ chín đều, sau đó cho bột sắn dây hòa nước đã được lọc sạch cặn vào khuấy đều thêm đường cho vừa ăn rồi tắt bếp. + Yêu cầu thành phẩm: Chè sánh đều, màu vàng đẹp mắt, vị ngọt thanh (Hình ảnh: Chè ngô non đỗ xanh bột sắn dây) Do vậy kỹ thuật chế biến món ăn ngon kết hợp hài hòa giữa các mùi vị, màu sắc. Chính là khâu quyết định một bữa ăn ngon đạt được độ cảm quan cao nhằm giúp trẻ ăn ngon miệng, hết suất và không kén thức ăn, thì việc đầu tiên tôi nghĩ đến kỹ thuật chế biến thức ăn làm sao phải có mùi thơm ngon, hấp dẫn. Nhận thức được điều này tôi đã bàn bạc với chị em trong tổ nuôi thường xuyên thay đổi 11 cách chế biến món ăn trong quá trình nấu phải biết cách phối hợp từng món ăn để tạo nên mùi vị đặc trưng của từng món ăn cho trẻ. Kết quả: Qua quá trình nghiên cứu tôi đã thấy rằng được xử lý một món ăn chúng ta cần phải trải qua các công đoạn chế biến theo quy trình bếp một chiều từ thực phẩm sống làm sạch rửa thái nhỏ nấu chín chia ăn Đây là một quá trình rất phù hợp cho công tác chế biến món ăn giúp ta rút ngắn được thời gian và công sức. Bên cạnh đó để đảm bảo an toàn vệ sinh. Khi chế biến các thực phẩm xong chúng ta nên đạy vung lại để đảm bảo vi khuẩn không xâm nhập vào thức ăn. 2.4. Biện pháp 4: Tuyên truyền và kết hợp với các bậc phụ huynh về chế độ ăn ngủ của trẻ. Phối kết hợp giữa nhà trường với phụ huynh là điều rất quan trọng, giúp phụ huynh biết được hằng ngày ở trường các con được ăn uống như thế nào. Chia sẻ với phụ huynh về dinh dưỡng của những món ăn mà các con ăn ở trường. Xây dựng góc tuyên truyền bao gồm thực đơn hằng ngày của trẻ. (Hình ảnh: Bảng tuyên truyền với phụ huynh) Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về bữa ăn hằng ngày ở nhà của con từ đó nắm bắt được tâm lý của trẻ để có cách chế biến món ăn phù hợp hơn. Hằng năm mời phụ huynh tham dự hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, thao giảng chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Mời phụ huynh đến giao nhận thực phẩm để kiểm tra thực phẩm nhập vào hằng ngày đủ chất, đủ lượng. Nhà trường kết hợp với nhân viên y tế kiểm tra sức khỏe cho trẻ,rồi các đồng chí giáo viên thông báo tình hình sức khỏe của trẻ qua các đợt cân trẻ, thông báo chế độ ăn uống, thực đơn chế biến của nhà trường để các bậc phụ huynh nắm được. Năm học vừa qua chúng tôi đã mang những kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ tham gia hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp huyện và đã đạt giải ba. Ảnh hội thi nhân viên giỏi cấp huyện Qua việc tuyên truyền đã giúp nhiều phụ huynh học sinh nắm và hiểu rõ hơn chế độ ăn uống của trẻ ở trường, để phụ huynh yên tâm gửi trẻ , kết hợp với nhà trường trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt hơn . 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị Trong năm học 2024-2025 đến thời điểm hiện tại sau khi áp dụng các biện pháp trên tôi đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tôi đã làm tốt công tác nuôi dưỡng chăm sóc trẻ. Số trẻ thích ăn các món chế biến từ rau, củ, quả tăng lên chỉ còn lại 12 một vài học sinh cá biệt chưa khắc phục được. 100% trẻ được cân đo và theo dõi theo biểu đồ tăng trưởng. Tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì giảm và khống chế, trẻ suy dinh dưỡng giảm so với đầu năm có sổ liệu cụ thể như sau: Tổng Đầu năm Cuối năm STT Thời gian số Số Tỉ Số Tỉ Tăng Giảm trẻ lượng lệ % lượng lệ % Trẻ ăn ngon 1 282 51,9 490 90,2 21 miệng hết suất Trẻ không thích 2 351 64,6 129 23,7 40,9 ăn rau Trẻ SDD thể 3 543 43 7,9 13 3,6 4,3 nhẹ cân Trẻ SDD thể 4 55 10,1 15 2,7 7,4 thấp còi Trẻ thừa cân 5 20 3,6 12 2,2 1,4 béo phì Qua bảng số liệu trên cho thấy tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi giảm xuống, trẻ thừa cân béo phì giảm và cơ bản được khống chế không tăng thêm. Nhờ chế biến ăn ngon, các món ăn thường xuyên kết hợp và thay đổi mỗi ngày, các món xào đẹp mắt mùi thơm, ngon miệng hợp khẩu vị. Đặc biệt thành công lớn nhất là trong năm học vừa qua học sinh của nhà trường được đảm bảo an toàn, không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra tại trường. Cuối năm tỉ lệ học sinh suy dinh dưỡng giảm, tỉ lệ học sinh béo phì được khống chế không gia tăng. Các cháu ăn ngon miệng, không kén thức ăn. 4. Hiệu quả của sáng kiến 4.1. Hiệu quả về khoa học Biện pháp này đã được áp dụng tại trường mầm non ba trại A mang lại hiệu quả cao bữa ăn của trẻ trong trường Mầm non nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày của trẻ. Giải pháp này có thể áp dụng đối với cả các bữa ăn hằng ngày ở nhà của trẻ. Thực đơn đa dạng , các thực phẩm kết hợp với nhau cân đối hợp lý đảm bảo cho trẻ tăng cân, giảm suy dinh dưỡng, thấp còi 4.2. Hiệu quả về kinh tế Giải pháp đề xuất góp phần tích cực về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường. 13 4.3. Hiệu quả về xã hội Góp phần chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non để đảm bảo sức khỏe và an toàn của học sinh. Nhằm nâng cao nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sức khỏe của con em mình. Thông qua đề tài này bản thân tôi là một nhân viên nuôi dưỡng cũng được nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng đối vối sức khỏe của trẻ mầm non và mọi lứa tuổi. Bản thân tôi sẽ không ngừng phấn đấu, học tập và tích cực hơn nữa để được trau dồi kiến thức, tìm tòi, sáng tạo các kiến thức và các kỹ năng chế biến các món ăn cho trẻ mầm non để tạo ra các món ăn đầy đủ chất dinh dưỡng và có tính thẩm mỹ cao, để tạo hứng thú cho trẻ mỗi bữa ăn tại trường Mầm non. 5. Tính khả thi Thông qua đề tài này bản thân tôi cũng như đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng đã nâng cao được nhận thức và ý thức trách nhiệm trong việc sử dụng: Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non”. Bản thân tôi sẽ không ngừng phấn đấu, học tập và sẽ tích cực hơn nữa để có thể sáng tạo thêm nhiều những kinh nghiệm hay, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ. 6. Thời gian thực hiện đề tài Từ tháng 9/2024 đến tháng 5/2025. 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến Với đề tài này tôi đã áp dụng kiến thức, kinh nghiệm có sẵn và học hỏi trên sách, báo, internet nên kinh phí là 0 đồng. III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 1. Kết luận Qua quá trình nghiên cứu thực tế tại trường, bản thân tôi đã đúc kết được một số kinh nghiêm khi chế biến món ăn cho trẻ, xây dựng thực đơn đa dạng hợp lý. Đổi mới cách chế biến món ăn giúp trẻ ăn ngon, ăn hết suất và hứng thú với bữa ăn của mình, từ đó giúp cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đầy đủ để trẻ phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ. Năm học vừa qua chúng tôi đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như: Không có trường hợp nào bị ngộ độc xảy ra tại trường... Giảm tỉ lệ trẻ béo phì, suy dinh dưỡng, tăng sức đề kháng, giảm tỉ lệ trẻ mắc các bệnh khác. 2. Kiến nghị, đề xuất - Kính mong các ban, nghành quan tâm hơn nữa đến chế độ đời sống cho nhân viên nuôi dưỡng chúng tôi để chúng tôi thật sự yên tâm công tác. 14 - Phòng giáo dục đào tạo và ban giám hiệu nhà trường tổ chức các buổi tập huấn về chuyên môn, để chúng tôi có nhiều đổi mới vận dụng vào công việc hằng ngày. Tôi xin cam đoan các nội dung trong sáng kiến kinh nghiệm là bản thân tôi tự nghiên cứu không sao chép của ai. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi xin trân thành cảm ơn. Ba Trại, ngày 22 tháng 3 năm 2025 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Người viết sáng kiến (ký tên, đóng dấu) (ký tên) Nguyễn Thị Cần
File đính kèm:
skkn_mot_so_kinh_nghiem_che_bien_mon_an_cho_tre_trong_truong.pdf

