SKKN Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi (GV: Trần Thị Lệ - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi.” - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: từ ngày 15/09/2024 Tại trường MN Ba Trại A
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất)
Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau:
+ Giải pháp 1: Xây dựng môi trường lớp học theo hướng tiếp cận Reggio Emilia. + Giải pháp 2: Ứng dụng hướng tiếp cận phương pháp Reggio - Emilia vào tổ chức các hoạt động khám phá. + Giải pháp 3. Tích hợp vào các hoạt động trong ngày. + Giải pháp 4. Tuyên truyền - phối kết hợp giữa nhà trường, giáo viên với phụ huynh. - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Lợi ích có được từ sáng kiến đó là:
* Đối với giáo viên
- Tôi đã phát huy được hết khả năng của mình, trong giảng dạy, chú ý đến tính tích cực của từng cá nhân trẻ, tạo mọi tình huống để trẻ tham gia hoạt động một cách có hiệu quả nhất.
- Mạnh dạn, tự tin hơn trong các cuộc họp phụ huynh học sinh, biết phối hợp chặt chẽ, trao đổi thường xuyên với các bậc phụ huynh.
- Tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy.
* Đối với trẻ
- Trẻ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng và hiệu quả. Trẻ thích đến lớp học, tích cực tham gia tất cả các hoạt động, mạnh dạn tự tin hơn, mục tiêu cuối độ tuổi của trẻ đạt cao. * Đối với phụ huynh
- Các bậc phụ huynh luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ cũng như các phong trào ở nhà trường.
- Phụ huynh quan tâm và phối hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức thông qua bảng thông tin dành cho cha mẹ, bảng đánh giá trẻ ở lớp, zalo nhóm lớp.
- Cha mẹ cảm thấy hài lòng với thành công của trẻ, tin tưởng vào kết quả giáo dục của nhà trường. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi (GV: Trần Thị Lệ - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN REGGIO-EMILIA VÀO HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Lĩnh vực : Giáo dục mẫu giáo Tên tác giả : Trần Thị Lệ Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại A Chức vụ : Giáo viên Năm học: 2024 – 2025 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm huyện Ba Vì Trình độ Ngày tháng Nơi công Chức Họ và tên chuyên Tên sáng kiến năm sinh tác danh môn “Một số giải pháp ứng Giáo dụng phương pháp Trường viên- tiếp cận Reggio- Trần Thị Lệ 27/02/1992 MN Ba Đại học khối 5 Emilia vào hoạt động Trại A tuổi khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi.” - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi.” - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: từ ngày 15/09/2024 Tại trường MN Ba Trại A - Mô tả bản chất của sáng kiến: Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất) Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau: + Giải pháp 1: Xây dựng môi trường lớp học theo hướng tiếp cận Reggio Emilia. + Giải pháp 2: Ứng dụng hướng tiếp cận phương pháp Reggio - Emilia vào tổ chức các hoạt động khám phá. + Giải pháp 3. Tích hợp vào các hoạt động trong ngày. + Giải pháp 4. Tuyên truyền - phối kết hợp giữa nhà trường, giáo viên với phụ huynh. - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: Lợi ích có được từ sáng kiến đó là: * Đối với giáo viên - Tôi đã phát huy được hết khả năng của mình, trong giảng dạy, chú ý đến tính tích cực của từng cá nhân trẻ, tạo mọi tình huống để trẻ tham gia hoạt động một cách có hiệu quả nhất. - Mạnh dạn, tự tin hơn trong các cuộc họp phụ huynh học sinh, biết phối hợp chặt chẽ, trao đổi thường xuyên với các bậc phụ huynh. - Tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy. * Đối với trẻ - Trẻ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng và hiệu quả. Trẻ thích đến lớp học, tích cực tham gia tất cả các hoạt động, mạnh dạn tự tin hơn, mục tiêu cuối độ tuổi của trẻ đạt cao. * Đối với phụ huynh - Các bậc phụ huynh luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ cũng như các phong trào ở nhà trường. - Phụ huynh quan tâm và phối hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức thông qua bảng thông tin dành cho cha mẹ, bảng đánh giá trẻ ở lớp, zalo nhóm lớp. - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với thành công của trẻ, tin tưởng vào kết quả giáo dục của nhà trường. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Trại, ngày 20 tháng 3 năm 2025 Người yêu cầu Trần Thị Lệ TRƯỜNG MN BA TRẠI A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TRƯỜNG MN BA TRẠI A --------------- ---------------- Ba Vì, ngày 24 tháng 3 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi. - Tác giả sáng kiến: Trần Thị Lệ - Họ tên người đánh giá: Bùi Thị Thanh Thùy - Cơ quan công tác: Trường MN Ba Trại A Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến có nhiều tính sáng tạo, mới mẻ phù hợp với trường, gần gũi với học sinh, dễ thực hiện. Điểm đánh giá: 17 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp): 5 điểm Sáng kiến đưa ra các giải pháp rõ ràng, dễ thực hiện, có đối chứng, so sánh khoa học, hợp lí... Điểm đánh giá: 4,5 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới): 20 điểm Trình bày sáng kiến khoa học, lôgic. Các biện pháp đưa ra có tính sáng tạo, mới mẻ, có hiệu quả khi áp dụng thực tế vào lớp, trường. địa phương, huyện... Điểm đánh giá: 17 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Số liệu so sánh đố chiếu trước, sau khi thực hiện đề tài chính xác, hợp lí không mang tính thành tích. Điểm đánh giá: 7,5 điểm 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Nội dung sáng kiến có khả năng áp dụng trong lớp, trường, nhiều đơn vị khác. Vì nội dung thực tế; không sáo rỗng; gần gũi với học sinh. Học sinh có thể tự thực hiện được hoặc thêm sự gợi mở; dẫn dắt của thầy, cô. Điểm đánh giá: 17 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Sáng kiến đã được công nhận rộng rãi và mang lại kết quả rõ rệt cho cơ quan. Nó không chỉ nâng cao hiệu quả công tác, cải thiện năng suất và chất lượng công việc, mà còn đem lại lợi ích kinh tế và xã hội, đồng thời cải tiến quy trình làm việc. Điểm đánh giá: 17 điểm 4. Nội dung 4: Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, đầy đủ và có bố cục hợp lý, với các nội dung rõ ràng và dễ hiểu, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nắm bắt các giải pháp đã được đề xuất. Điểm đánh giá: 5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 85 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt X - Không đạt Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Bùi Thị Thanh Thùy MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ...................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến: ........................................................... 1 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. .......................................................................... 3 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ....................................................... 4 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN ........................................................ 4 I. Hiện trạng vấn đề: .............................................................................................. 4 1. Cơ sở lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài: ..................................................... 4 2. Thực trạng điều tra ban đầu. .............................................................................. 6 II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề: ........................................ 7 1. Những giải pháp chính: ..................................................................................... 7 2. Các giải pháp thực hiện từng phần: ................................................................... 7 2.1. Giải pháp 1: Xây dựng môi trường lớp học theo hướng đưa môi trường thiên nhiên đến gần với trẻ. ............................................................................................ 7 2.2. Giải pháp 2: Ứng dụng hướng tiếp cận phương pháp Reggio - Emilia vào tổ chức các hoạt động khám phá. ............................................................................ 10 2.3. Giải pháp 3: Tích hợp vào các hoạt động trong ngày. ................................. 14 2.4. Giải pháp 4: Tuyên truyền - phối kết hợp giữa nhà trường, giáo viên với phụ huynh. .................................................................................................................. 16 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị: ................................ 17 4. Hiệu quả của sáng kiến: .................................................................................. 18 4.1. Hiệu quả về khoa học: .................................................................................. 18 4.2. Hiệu quả về kinh tế: ..................................................................................... 18 4.3. Hiệu quả về xã hội:....................................................................................... 18 5. Tính khả thi: .................................................................................................... 18 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến: ............................................................. 18 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến. ............................................................... 18 PHẦN III: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ................................................................ 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO MINH CHỨNG: HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO CÁC GIẢI PHÁP PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến: Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi, trẻ rất tò mò, ham hiểu biết và luôn mong muốn được khám phá thế giới xung quanh. Hoạt động khám phá khoa học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển trí tuệ, tư duy logic, và khả năng tìm tòi, khám phá của trẻ mầm non. Đây là nền tảng để trẻ phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phản biện và sáng tạo, giúp trẻ hiểu biết về thế giới xung quanh một cách khoa học và có hệ thống. Giáo dục mầm non hiện nay đang hướng đến việc giúp trẻ chủ động tiếp cận tri thức thông qua trải nghiệm và khám phá. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động khám phá khoa học tại các trường mầm non chưa thực sự phát huy tối đa hiệu quả do một số hạn chế như: Cách tổ chức hoạt động còn đơn điệu, thiếu sáng tạo, chưa thu hút được sự hứng thú của trẻ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động khám phá khoa học còn hạn chế. Một số giáo viên chưa áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Trẻ 5-6 tuổi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về nhận thức, thích đặt câu hỏi và tìm hiểu thế giới xung quanh. Nếu không có phương pháp giảng dạy phù hợp, trẻ sẽ dễ bị nhàm chán, thiếu hứng thú với các hoạt động khám phá khoa học. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tư duy và sáng tạo của trẻ trong tương lai. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi là hết sức cần thiết. Những giải pháp này không chỉ giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách hứng thú, mà còn tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện cả về tư duy, ngôn ngữ, vận động và kỹ năng xã hội. Thông qua sáng kiến này, tôi mong muốn đóng góp một phần vào việc đổi mới phương pháp giáo dục mầm non, giúp trẻ được học tập trong một môi trường khoa học, sáng tạo và đầy cảm hứng. Việc áp dụng các biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học theo hướng tiếp cận Reggio-Emilia tập trung vào việc khơi gợi sự tò mò tự nhiên của trẻ em và tạo điều kiện cho trẻ tự khám phá thế giới xung quanh thông qua các trải nghiệm trực tiếp, đa giác quan. Hoạt động khám phá khoa học theo hướng tiếp cận Reggio Emilia không chỉ giúp trẻ em phát triển kiến thức khoa học mà còn nuôi dưỡng tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề, sự sáng tạo và tình yêu đối với thế giới tự nhiên. Sự phát triển của xã hội và công nghệ hiện đại cũng yêu cầu trẻ cần được tiếp cận với những phương pháp học hiện đại hơn: 2 Trẻ ngày nay lớn lên trong thời đại 4.0, nếu không được kích thích khả năng khám phá, tìm tòi và sáng tạo ngay từ nhỏ thì sẽ khó có thể đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài. Việc đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ là một xu hướng tất yếu và cấp bách. Từ những lý do trên, việc tìm ra và thực hiện sáng kiến “Một số giải pháp mới giúp trẻ 5-6 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học” là rất cấp thiết và ý nghĩa. a. Cơ sở lý luận: Khám phá khoa học không chỉ là việc truyền thụ kiến thức khoa học mà còn là quá trình trẻ chủ động tìm tòi, trải nghiệm, tương tác với thế giới xung quanh để hình thành những hiểu biết và kỹ năng khoa học ban đầu. Hoạt động khám phá khoa học là quá trình trẻ tìm hiểu, quan sát, thực hành và trải nghiệm các hiện tượng, sự vật trong thế giới xung quanh thông qua các phương pháp khoa học đơn giản. Đây là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục mầm non, giúp trẻ rèn luyện khả năng quan sát, tư duy logic và phát triển sự tò mò tự nhiên. Các hoạt động khám phá khoa học bao gồm thí nghiệm đơn giản, trò chơi khoa học, quan sát thiên nhiên và các hoạt động trải nghiệm thực tế nhằm giúp trẻ tiếp cận kiến thức một cách trực quan, sinh động. Đây là quá trình tạo ra môi trường hoạt động, tạo ra các tình huống và tổ chức các hoạt động cho trẻ được tiếp xúc, được trải nghiệm với các sự vật hiện tượng của môi trường xung quanh. Qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, tính chất, các mối quan hệ, sự thay đổi và phát triển của chúng. Đồng thời giúp trẻ học được các kỹ năng quan sát, phân nhóm, phán đoán và giải quyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận về các sự vât hiện tượng đã quan sát, tiếp xúc. Tạo ra một môi trường học thuật đa dạng, phong phú với nhiều tài liệu, vật liệu và thiết bị hỗ trợ để trẻ có thể thực hiện các hoạt động khám phá khoa học. Khuyến khích trẻ sử dụng và tương tác với nguồn tài nguyên tự nhiên như cây cỏ, đất, nước để hiểu về quy luật tự nhiên và môi trường xung quanh. Khích lệ trẻ đặt câu hỏi, khám phá và tìm hiểu về thế giới xung quanh thông qua sự tò mò và sự chủ động của trẻ. Cung cấp cơ hội cho trẻ thực hiện các thí nghiệm đơn giản, quan sát hiện tượng và rút ra những kết luận từ kinh nghiệm thực tế. Khuyến khích trẻ hợp tác với nhau trong các hoạt động khám phá khoa học, chia sẻ ý tưởng và kinh nghiệm để mở rộng kiến thức của mình. Hỗ trợ trẻ ghi chép lại quá trình khám phá của trẻ thông qua vẽ tranh, viết và thảo luận để trẻ có thể hiểu sâu hơn về những gì trẻ đã học được. 3 Khuyến khích trẻ chia sẻ những gì trẻ đã học được với nhóm và gia đình, qua đó củng cố kiến thức và khả năng giao tiếp của trẻ. Bằng cách áp dụng những giải pháp này, trẻ sẽ có cơ hội phát triển tư duy khoa học, khám phá thế giới xung quanh mình và xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc từ trong bản thân mình. b. Cơ sở thực tiễn: Khi nói đến “Trẻ 5 – 6 tuổi khám phá khoa học”, chắc rằng người lớn sẽ rất ngạc nhiên và cho đó là xa vời không thực tế đối với trẻ. Vì người lớn chúng ta cho rằng khoa học là cần đến tri thức, cần đến sự hiểu biết sâu rộng. Thế nhưng đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 -6 tuổi nói riêng thì hoạt động “khám phá khoa học” có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức, tri thức của trẻ sau này. Thực tế hiện nay cho thấy giáo viên còn chưa chú trọng tới việc hướng dẫn trẻ khám phá khoa học về các hiện tượng xung quanh, chưa quan tâm đầu tư nên nhiều hoạt động không gây được sự hứng thú của trẻ. Trong quá trình trẻ thực hiện trẻ vẫn chú ý, vẫn trả lời tốt, làm tốt những gì cô yêu cầu nhưng trẻ không còn hứng thú và không phát triển năng lực, khả năng tư duy và đặc biệt không thỏa mãn nhu cầu bản thân trẻ. Điều đó đã làm tôi trăn trở và suy nghĩ Mình phải làm gì? Tìm giải pháp, phương pháp là gì? Làm sao để trẻ nhận thức tốt hơn? Tích cực hơn nữa? Lĩnh hội kiến thức khoa học một cách nhanh nhạy nhất? Trong quá trình công tác tôi đã rút ra cho mình một số kinh nghiệm. Hơn thế bản thân tôi luôn bị cuốn hút bởi hoạt động khám phá khoa học từ khi mới bước vào nghề. Muốn trẻ phát triển toàn diện theo tôi chúng ta cần xây dựng biện pháp giáo dục hay mới lạ cuốn hút trẻ để hình thành thói quen say mê khám phá khoa học chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi” để nghiên cứu tìm ra những biện pháp hay giúp trẻ học tốt hoạt động học này. 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. Nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi trong bối cảnh giáo dục mầm non hiện nay. Cải thiện cách thức tổ chức và thực hiện hoạt động khám phá khoa học, giúp trẻ thu được nhiều lợi ích hơn từ hoạt động này. Tạo điều kiện cho trẻ hình thành và phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, tính tò mò ham hiểu biết. Đồng thời hình thành cho trẻ tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, lòng nhân ái, tình yêu thương với mọi người và cảnh vật xung quanh. Đồng thời chuẩn bị tốt cho trẻ các điều kiện về mặt thể lực, trí tuệ, ngôn ngữ để trẻ tự tin bước vào lớp 1. 4 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/ 2024 đến tháng 4/2025. - Đối tượng nghiên cứu: Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, tôi chọn đối tượng nghiên cứu là “Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio- Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi” - Đối tượng khảo sát, thực nghiệm: Trẻ lớp 5 tuổi A2 - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu và thực hiện tại lớp 5 tuổi A2 trường Mầm non Ba Trại A. PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN I. Hiện trạng vấn đề: 1. Cơ sở lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài: Theo nhà tâm lí học lỗi lạc Jean Piaget cho rằng trẻ từ 5-6 tuổi ở giai đoạn này phát triển tư duy biểu tượng, ngôn ngữ và khả năng hình dung. Tuy nhiên, tư duy của trẻ vẫn còn mang tính trực quan, chưa logic và dễ bị chi phối bởi những tri giác bên ngoài. Piaget nhấn mạnh vai trò của sự tương tác trực tiếp của trẻ với môi trường thông qua các hoạt động khám phá, thử nghiệm để xây dựng kiến thức. Trẻ học tốt nhất khi tự mình trải nghiệm và giải quyết vấn đề. Trẻ tiếp nhận thông tin mới và điều chỉnh các cấu trúc nhận thức hiện có để phù hợp với thông tin mới. Hoạt động khám phá khoa học tạo cơ hội cho quá trình này diễn ra hiệu quả. Trẻ em là chủ nhân của đất nước, vì vậy mà chăm sóc và giáo dục trẻ không phải chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Tất cả mọi thứ xung quanh trẻ đều rộng lớn, mới lạ, hấp dẫn Lúc này trẻ bắt đầu tò mò muốn biết, muốn khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh cho nên giáo dục mầm non đã góp phần không nhỏ và việc giáo dục thế hệ trẻ. Trong các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo, hoạt động khám phá khoa học là một trong những hoạt động đóng vai trò chủ đạo. Thông qua hoạt động khám phá, trẻ được lĩnh hội các kiến thức về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chức hoạt động khám phá thế nào để trẻ tiếp thu kiến thức thật đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao trong quá trình hoạt động. Với phương châm “Lấy trẻ làm trung tâm” mỗi trẻ có tốc độ học tập, sở thích và cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Các giải pháp mới cần đáp ứng được sự đa dạng này, tạo cơ hội cho mọi trẻ được tham gia và phát triển theo cách riêng của mình. * Cách làm cũ. Trong giáo dục trẻ em thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức thông qua việc giảng dạy lý thuyết. Trong môi trường này, trẻ thường là người tiếp nhận 5 kiến thức mà không được khuyến khích tham gia tích cực vào quá trình học tập. Điều này dẫn đến một số nhược điểm: Hình thức giảng dạy truyền thống ít tạo ra cơ hội cho trẻ tương tác với nội dung học tập và với nhau. Điều này làm giảm khả năng phát triển kỹ năng xã hội và giao tiếp của trẻ. Việc học theo cách truyền thống ít khuyến khích sự sáng tạo và tư duy linh hoạt của trẻ. Thay vào đó, chú trọng vào việc nhớ và lặp lại thông tin. Giáo viên còn chưa linh hoạt khi cho trẻ tham gia hoạt động khám phá, mới chỉ dừng lại ở phương pháp quan sát, đàm thoại mà chưa chú ý nhiều đến hình thức trải nghiệm và phát huy tính tích cực của trẻ. Hệ thống giáo dục truyền thống thường không tôn trọng và không đáp ứng được sự đa dạng cá nhân của trẻ. Một phần của trẻ có thể cảm thấy thiếu hứng thú hoặc không có môi trường phát triển phù hợp. *Cách làm mới. Năm học 2024-2025 tôi được học tập chuyên đề ứng dụng phương pháp mới theo hướng tiếp cận Reggio-Emilia và tôi đã ứng dụng vào dạy học. Tôi nhận thấy việc giải quyết các vấn đề này bằng cách tạo ra một môi trường học tập phù hợp với tính cách và nhu cầu của trẻ, đồng thời khuyến khích sự tò mò, sáng tạo và tương tác tích cực. Trong quá trình tôi thực hiện phương pháp mới theo hướng tiếp cận Reggio- Emilia tôi nhận thấy: Mô hình giáo dục Reggio-Emilia đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tài nguyên phong phú, có thể là một thách thức đối với các giáo viên và trường học. Việc thúc đẩy sự tò mò và sáng tạo của trẻ đồng nghĩa với việc giáo viên phải có khả năng linh hoạt trong việc điều chỉnh và thích ứng với nhu cầu và quan tâm của trẻ. Để áp dụng phương pháp Reggio-Emilia một cách hiệu quả, cần sự hỗ trợ và hợp tác giữa giáo viên, phụ huynh và cộng đồng. Mặc dù có những nhược điểm và thách thức, nhưng phương pháp Reggio- Emilia mang lại nhiều lợi ích cho sự phát triển toàn diện của trẻ em, từ kỹ năng xã hội đến sự sáng tạo và tư duy khoa học. Ngoài ra tôi căn cứ vào các kế hoạch của năm học 2024-2025 sau: Căn cứ Kế hoạch số 135/ KH-MNBTA ngày 12/09/2024 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2024-2025 của trường mầm non Ba Trại A; Căn cứ Kế hoạch số 136/ KH-MNBTA ngày 15/09/2024 kế hoạch hoạt động chuyên môn năm học 2024-2025 của trường mầm non Ba Trại A; 6 2. Thực trạng điều tra ban đầu. - Năm học 2024-2025, tôi được phân công giảng dạy lớp 5 tuổi A2. Qua một quá trình cho trẻ tham gia các hoạt động của lớp tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: 2.1. Thuận lợi - Trường nơi tôi công tác có khá nhiều thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các hoạt động của cô và trẻ. - Có đội ngũ cán bộ giáo viên đa số là trẻ nên việc nắm bắt thực hiện chương trình, sáng tạo trong giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học khá dễ dàng. - Ban giám hiệu luôn quan tâm tới cán bộ giáo viên cũng như các hoạt động của nhà trường. - Nhà trường luôn được sự quan tâm và ủng hộ của các đoàn thể xã hội. - Giáo viên luôn được tham gia tập huấn theo công văn của phòng, Sở giáo dục. - Về phía nhóm lớp tôi chủ nhiệm: + Học sinh phát triển khá đồng đều. + Được sự quan tâm và giúp đỡ của nhà trường cũng như của phụ huynh về mọi mặt. + Năm học 2024-2025 nhà trường tiếp tục chỉ đạo công tác chuyên môn có ứng dụng phương pháp dạy học tiên tiến Reggio-Emilia trong xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động cho trẻ. Mô hình học tập này cho phép trẻ tự tìm tòi, khám phá những sự vật xung quanh trong môi trường mở bằng cách thấu hiểu nhu cầu của trẻ 2.2. Khó khăn - Đối với giáo viên: Giáo viên còn chưa linh hoạt khi cho trẻ tham gia hoạt động khám phá, mới chỉ dừng lại ở phương pháp quan sát, đàm thoại mà chưa chú ý nhiều đến hình thức trải nghiệm và phát huy tính tích cực của trẻ. - Về phía các bậc phụ huynh: Vì ở độ tuổi còn nhỏ nên phụ huynh mới chỉ quan tâm nhiều tới việc chăm sóc trẻ mà chưa chú trọng nhiều tới việc giáo dục trẻ như thế nào cho đúng phương pháp. - Về phía học sinh: Học sinh còn lĩnh hội kiến thức một cách thụ động, chưa linh hoạt, hời hợt với những gì đã biết, nhàm chán với những trò chơi quen thuộc. Từ cơ sở lý luận và thực trạng, từ những thuận lợi và khó khăn. Tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu tài liệu để đưa ra: “Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi”. 7 2.3. Thực trạng trước khi thực hiện đề tài. khi thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành điều tra thực trạng tại lớp mẫu giáo 5TA2 tuổi do tôi phụ trách đầu năm học 2024 - 2025 với số lượng là 37 trẻ như sau: Bảng 1: Khảo sát thực trạng ban đầu ( tổng số: 37 trẻ) Kết quả đạt được trên trẻ Nội dung Tổng số trẻ Đạt Chưa đạt (%) (%) Sự hứng thú của trẻ 37 13 = 35% 24 = 65% Kiến thức 37 11 = 30% 26 = 70% Kỹ năng 37 13 = 35% 24 = 65% Thái độ 37 10 = 27% 27 = 73% Từ những thực tế trên tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp ứng dụng phương pháp tiếp cận Reggio-Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5 tuổi, được áp dụng chính trên nhóm lớp mình chủ nhiệm. II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề: 1. Những giải pháp chính: - Giải pháp 1: Xây dựng môi trường lớp học theo hướng tiếp cận Reggio Emilia. - Giải pháp 2: Ứng dụng hướng tiếp cận phương pháp Reggio - Emilia vào tổ chức các hoạt động khám phá. - Giải pháp 3. Tích hợp vào các hoạt động trong ngày. - Giải pháp 4. Tuyên truyền - phối kết hợp giữa nhà trường, giáo viên với phụ huynh. 2. Các giải pháp thực hiện từng phần: 2.1. Giải pháp 1: Xây dựng môi trường lớp học theo hướng đưa môi trường thiên nhiên đến gần với trẻ. Xây dựng môi trường lớp học theo hướng tiếp cận Reggio Emilia, Ứng dụng phương pháp giáo dục tiên tiến theo hướng tiếp cận Reggio Emilia vào dạy học. Ở trường tôi năm nay được Ban giám hiệu quan tâm và tạo điều kiện mời cô giáo Nguyễn Thị Cẩm Giang giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Trung ương về giảng dạy tại trường, các chuyên đề về phương pháp giáo dục tiến tiến tiếp cận ứng dụng Reggio Emilia. Phương pháp Reggio Emilia là cách tiếp cận giáo dục nhiều cảm hứng, dựa trên hình ảnh những đứa trẻ mạnh mẽ, khát khao học hỏi. Mô hình học tập này cho phép trẻ tự tìm tòi, khám phá những sự vật xung quanh trong môi trường mở bằng cách thấu hiểu nhu cầu của trẻ. Phương pháp Reggio Emilia được xem là phương pháp giáo dục tiên phong trong gắn kết sự phát triển toàn diện của trẻ với thiên nhiên, cây cỏ. Chính vì vậy, những nguyên liệu dùng 8 để trang trí đồ chơi và lớp học đều được lấy từ thiên nhiên. Với phương pháp giáo dục Reggio Emilia, vật dụng bằng nhựa màu sắc sặc sỡ sẽ hạn chế. Đồng thời, cho trẻ tiếp cận với những nguyên liệu đã được tái chế, lành tính, thân thiện với môi trường, an toàn sức khỏe cho trẻ. Từ đó giúp cha mẹ và cô giáo có thể dạy bé bảo vệ môi trường từ khi còn nhỏ. Theo các nghiên cứu và quan điểm của phương pháp giáo dục Reggio Emilia thì những tông màu sáng, rực rỡ sẽ khiến trẻ dễ tức giận, làm gia tăng nguy cơ tăng động. Do đó, phương pháp Reggio Emilia chủ yếu lựa chọn các tông màu nhẹ nhàng, trung tính cho vật liệu, đồ dùng, không gian lớp học. Vậy nên tôi cũng đã áp dụng xây dựng môi trường lớp học thân thiện, gần gũi với trẻ giúp trẻ hứng thú khi đến lớp. + Môi trường trong lớp Tạo môi trường là một biện pháp rất quan trọng trong việc đưa hoạt động khám phá, trải nghiệm của trẻ vào hoạt động thực tiễn. Với phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, bản thân tôi luôn suy nghĩ phải làm thế nào để cho môi trường lớp mình vừa thoáng mát rộng rãi, đẹp mắt, vừa đa dạng về nguồn nguyên vật liệu, vừa sử dụng các nguyên liệu thân thiện với trẻ và môi trường. Khi cho trẻ thực hành khám phá, trải nghiệm các góc phải thiết kế mở để trẻ thỏa sức sáng tạo Hiểu rõ được tầm quan trọng của cở sở vật chất trong việc tạo ra các thí nghiệm trực tiếp cho trẻ quan sát, hay các hoạt động khám phá về các chủ đề sự kiện, dự án nhỏ ngay từ đầu năm học tôi đã thực hiện một số việc sau: - Khảo sát cơ sở vật chất ngay từ những ngày đầu năm - Đề nghị nhà trường đầu tư thêm một số đồ dùng đặc trưng của hoạt động khám phá khoa học. - Tạo môi trường lớp học ngăn nắp, gọn gàng, sắp xếp khoa học theo chủ đề sự kiện, sử dụng tối đa sản phẩm của trẻ để trang trí lớp - Sưu tầm trên mạng internet nhạc, tranh ảnh, video thực hành các thí nghiệm, các hình ảnh khám phá khoa học ngộ nghĩnh phù hợp với trẻ để trang trí lớp. Khi trang trí và tổ chức các hoạt động tôi căn cứ vào mục tiêu giáo dục của từng chủ đề, đồng thời tận dụng tối đa môi trường xung quanh lớp học, khai thác các thiết bị đồ dùng sẵn có và bổ sung thêm các nguyên vật liệu mở. Với mỗi chủ đề tôi luôn dành thời gian để nghiên cứu, thiết kế môi trường trong lớp sao cho phù hợp với chủ đề mà trẻ được khám phá. Vì môi trường được coi là tiềm năng mang lại cảm hứng cho trẻ. Nên cần xây dựng một môi trường với đầy đủ ánh sáng tự nhiên, ngăn nắp và đẹp đẽ. Có những không gian mở thông thoáng, môi trường như một nhà kho mỹ thuật chứa đầy đủ các vật liệu thiên nhiên, vật liệu 9 tái chế để khuyến khích trẻ tìm tòi, nghiên cứu sâu hơn nữa những điều trẻ thích và trẻ quan tâm. Không gian sẽ khuyến khích trẻ hợp tác, giao tiếp và khám phá. Các góc chơi được trang trí theo hướng mở để trẻ được hoạt động tích cực nhất. Hình ảnh minh hoạ cho giải pháp 1: Các góc chơi + Môi trường ngoài lớp học Để hoạt động khám phá, trải nghiệm với môi trường tự nhiên của trẻ đạt hiệu quả cao hơn nữa, thì môi trường ngoài lớp học cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng. Tận dụng tất cả không gian ngoài lớp học để có thể trang trí tạo cảnh quan. Tạo ra một khu vực được trang bị đầy đủ vật liệu thí nghiệm và dụng cụ khoa học phù hợp với độ tuổi của trẻ. Bao gồm các loại kính lúp, ống nghiệm nhỏ, cốc thử, và các loại vật liệu như nước, cát, đất sét để trẻ có thể thực hiện các thí nghiệm đơn giản. Sử dụng khu vực ngoài trời để thực hiện các hoạt động quan sát tự nhiên, như quan sát cây cỏ, sâu bọ, hoặc thu thập các mẫu vật từ môi trường xung quanh để phân tích. Tổ chức các hoạt động thực hành như tạo ra một mô hình đơn giản của hệ mặt trời, thực hiện các thí nghiệm đơn giản về nước và lửa, hay thực hiện các hoạt động như trồng cây hoặc nuôi côn trùng. Thăm các địa điểm ngoại khóa: Tổ chức các chuyến thăm địa điểm như: vườn bách thú, cánh đồng lúa, vườn cây tại địa phương hoặc các công viên thiên nhiên để mở rộng kiến thức và trải nghiệm thực tế. Hình ảnh minh hoạ cho giải pháp 1: Hình ảnh thăm quan trải nghiệm cánh đồng lúa tại thôn 7- Ba Trại Cần lựa chọn các đối tượng phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học, sinh động và thu hút trẻ với các nguyên vật liệu tự nhiên như đất sét, sơn, gỗ, cành cây, vỏ trứng, giấy vụn để trẻ có thể thỏa trí sáng tạo. Tôi bố trí không gian phù hợp cho các hoạt động của trẻ, đặc biệt tôi chú ý tới việc tạo môi trường cho trẻ hoạt động theo các nhóm nhỏ hoặc theo cá nhân. - Ví dụ: Ở phía ngoài hành lang lớp học, tôi xây dựng góc khám phá khoa học. Ở đó có các trò chơi thí nghiệm như: Vật nổi vật chìm, công thức pha màu nước, Tôi mạnh dạn cho trẻ tiếp xúc với nhiều đồ dùng đồ chơi khác nhau và đặc biệt cho trẻ được trải nghiệm trên những nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương. Ví dụ: Các nguyên vật liệu mở: ống hút, lá cây, sỏi, lõi giấy vệ sinh, vỏ hộp sữa, Từ việc tạo môi trường cho trẻ, tôi thấy trẻ luôn hứng thú và luôn muốn tìm tòi, khám phá những hiện tượng xung quanh. 10 2.2. Giải pháp 2: Ứng dụng hướng tiếp cận phương pháp Reggio - Emilia vào tổ chức các hoạt động khám phá. Việc ứng dụng hướng tiếp cận phương pháp Reggio - Emilia vào tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mầm non, đặc biệt là lứa tuổi 5-6, mang lại nhiều cơ hội để khơi gợi sự tò mò, phát triển tư duy phản biện và xây dựng kiến thức một cách chủ động. Dưới đây là cách bạn có thể triển khai và những điểm cần lưu ý khi ứng dụng phương pháp này vào hoạt động khám phá khoa học: Lắng nghe những câu hỏi, nhận xét của trẻ về thế giới xung quanh. Quan sát những gì trẻ đang quan tâm và hứng thú. Sử dụng các tình huống bất ngờ, các vật thể lạ để khơi gợi sự tò mò. Ví dụ: Trẻ quan sát thấy một con kiến tha mồi, giáo viên có thể đặt câu hỏi: "Các con có thắc mắc gì về bạn kiến này không?", "Bạn kiến đang đi đâu?", "Bạn kiến có mang được đồ vật đó không?". Trang bị các vật liệu tự nhiên (đá, lá cây, vỏ sò, cát, nước...), đồ dùng quen thuộc (lọ, chai, ống hút, thìa, rây...), kính lúp, nam châm, cân, thước đo... Đưa vào các vật liệu mới theo chủ đề hoặc theo sự quan tâm của trẻ. Kích thích trẻ đến khám phá và tương tác. Tổ chức các hoạt động khám phá theo dự án: Chọn chủ đề dựa trên sự hứng thú của trẻ: Ví dụ: "Nước", "Ánh sáng và bóng tối", "Cây xanh", "Con vật quanh em" Chú bộ đội... Hình ảnh minh hoạ cho giải pháp 2: Ảnh minh họa dự án chú bộ đội Cùng trẻ lập kế hoạch khám phá: Thảo luận về những câu hỏi cần giải đáp, những hoạt động sẽ thực hiện. Tạo cơ hội cho trẻ tự nghiên cứu và thử nghiệm: Giáo viên cung cấp tài liệu, hướng dẫn sử dụng công cụ, nhưng để trẻ tự tiến hành các hoạt động. Khuyến khích trẻ ghi lại quá trình khám phá: Vẽ, viết, chụp ảnh, làm video... Chia sẻ và thảo luận kết quả: Trẻ trình bày những gì mình đã khám phá được với bạn bè và giáo viên. Ví dụ: Dự án "Rau mầm" có thể bao gồm các hoạt động: Gieo hạt, tưới nước chăm sóc, quan sát hạt nảy mầm (ở mức độ đơn giản) ... Hình ảnh minh hoạ cho giải pháp 2: Ảnh trẻ thực hiện dự án “Rau mầm” Sử dụng trò chơi hoặc trò chơi tương tác để giúp trẻ hiểu về các khái niệm khoa học một cách thú vị và hấp dẫn hơn. Ví dụ: Trò chơi về hệ mặt trời, hoặc các trò chơi giáo dục về loài động vật. Ngoài ra tôi còn luôn linh hoạt trong tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mầm non, đặc biệt là theo hướng tiếp cận Reggio-Emilia. Linh hoạt về thời gian: 11 Không gò bó vào khung giờ cố định: Thay vì ấn định thời gian cụ thể cho hoạt động khám phá khoa học, hãy quan sát sự hứng thú của trẻ và tận dụng những khoảnh khắc tò mò tự nhiên. Một câu hỏi bất ngờ của trẻ về một hiện tượng có thể là khởi đầu cho một hoạt động khám phá thú vị bất cứ lúc nào trong ngày. Cho phép trẻ có đủ thời gian để khám phá sâu: Trẻ em cần thời gian để quan sát kỹ lưỡng, thử nghiệm, suy nghĩ và đưa ra kết luận. Tránh việc thúc ép hoặc chuyển hoạt động quá nhanh khi trẻ vẫn đang tập trung và hứng thú. Kéo dài hoặc thu hẹp hoạt động dựa trên sự quan tâm của trẻ: Nếu trẻ đặc biệt say mê một chủ đề hoặc thí nghiệm, hãy linh hoạt kéo dài thời gian hoạt động. Ngược lại, nếu trẻ có dấu hiệu mất tập trung hoặc không còn hứng thú, có thể chuyển sang hoạt động khác hoặc thay đổi cách tiếp cận. Linh hoạt về không gian: Không giới hạn trong góc khoa học: Hoạt động khám phá khoa học có thể diễn ra ở bất kỳ đâu trong lớp học, ngoài sân trường, thậm chí trong các chuyến đi thực tế. Tận dụng mọi không gian để cung cấp cơ hội khám phá đa dạng. Tạo nhiều không gian khám phá nhỏ: Bên cạnh góc khoa học chính, có thể tạo ra các khu vực khám phá nhỏ hơn, tập trung vào một chủ đề cụ thể hoặc sử dụng các vật liệu khác nhau. Thay đổi cách bố trí không gian: Thường xuyên làm mới không gian học tập bằng cách thay đổi vị trí đồ dùng, thêm các vật liệu mới để kích thích sự tò mò và khám phá của trẻ. Khuyến khích khám phá ngoài trời: Môi trường tự nhiên là một phòng thí nghiệm tuyệt vời. Tạo cơ hội cho trẻ khám phá cây cối, côn trùng, đất, nước, các hiện tượng thời tiết... Linh hoạt về vật liệu: Sử dụng đa dạng các loại vật liệu: Kết hợp vật liệu tự nhiên (lá cây, đá, vỏ sò...), vật liệu tái chế (chai nhựa, hộp carton...), đồ dùng quen thuộc hàng ngày (thìa, cốc, ống hút...) và một số đồ dùng khoa học đơn giản (kính lúp, nam châm...). Không ngại thử nghiệm với những vật liệu mới: Thường xuyên đưa vào các vật liệu mới lạ để kích thích sự tò mò và khám phá của trẻ. Cho phép trẻ tự do lựa chọn và kết hợp vật liệu: Trẻ có thể có những ý tưởng sáng tạo trong việc sử dụng các vật liệu khác nhau để thực hiện khám phá của mình. Linh hoạt trong cách cung cấp vật liệu: Có thể để vật liệu ở các khu vực cố định, hoặc mang đến các vật liệu cụ thể theo chủ đề hoặc theo yêu cầu của trẻ. Linh hoạt về phương pháp và hình thức tổ chức: 12 Không chỉ là thí nghiệm: Hoạt động khám phá khoa học có thể bao gồm quan sát, thu thập, phân loại, so sánh, dự đoán, thử nghiệm, thảo luận, vẽ, nặn, kể chuyện... Tổ chức theo nhóm nhỏ, cá nhân hoặc cả lớp: Tùy thuộc vào mục tiêu và tính chất của hoạt động, có thể linh hoạt thay đổi hình thức tổ chức. Khuyến khích trẻ thể hiện những khám phá của mình thông qua nhiều hình thức khác nhau, không chỉ giới hạn ở lời nói. Khuyến khích trẻ ghi chú về các quan sát của trẻ và theo dõi quá trình học tập của mình thông qua việc vẽ tranh, viết nhật ký hoặc sử dụng các ứng dụng kỹ thuật số đơn giản như máy ảnh. Tích hợp khám phá khoa học vào các hoạt động khác: Lồng ghép các yếu tố khám phá khoa học vào các hoạt động vui chơi, âm nhạc, tạo hình, ngôn ngữ... Linh hoạt trong vai trò của giáo viên: Từ người hướng dẫn trực tiếp sang người đồng hành và gợi mở: Giáo viên không áp đặt kiến thức mà lắng nghe, quan sát, đặt câu hỏi gợi mở để khuyến khích trẻ tự suy nghĩ và khám phá. Thay đổi cách tương tác dựa trên nhu cầu của từng trẻ: Có những trẻ cần sự hỗ trợ sát sao, trong khi những trẻ khác lại thích tự mình khám phá. Sẵn sàng thay đổi kế hoạch dựa trên sự phát triển và hứng thú của trẻ: Kế hoạch hoạt động chỉ là một khung tham khảo, giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế. Trở thành người cùng học hỏi với trẻ: Thể hiện sự tò mò và hứng thú với những khám phá của trẻ, cùng trẻ đặt câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời. Năm học 2024-2025 là năm nhà trường tiếp tục thực hiện ứng dụng phương pháp dạy học tiên tiến Reggio Emilia, khi tiến hành tổ chức các hoạt động giáo dục khoa học cho trẻ có ứng dụng phương pháp dạy học tiên tiến Reggio-Emilia tôi sử dụng các biện pháp, hình thức, các kĩ thuật dạy học tích cực, tạo cơ hội cho trẻ tự do lựa chọn hoạt động, học qua vui chơi và các trải nghiệm lí thú, vừa có tác dụng gây hứng thú cho trẻ để phát huy tối đa năng lực của trẻ. Năm học 2024-2025 tôi tham dự hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường và đạt giải Nhất hội thi với hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng phương pháp tiên tiến Reggio Emilia. Hình ảnh minh hoạ cho giải pháp 2: Trẻ khám phá khám phá bộ xương con người và hình ảnh tham dự hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường. VD: Với Đề tài: Khám phá bộ xương con người 13 Hoạt động của Hoạt động của cô trẻ 1.Ổn định tổ chức - Cô kể câu chuyện “Bí mật bên trong cơ thể” - Trẻ lắng nghe và - Câu hỏi gợi mở dẫn dắt vào bài. trả lời cô. + Các con có biết bên trong cơ thể chúng ta có những bộ phận nào không? - Các con đang thực hiện dự án gì? 2. Phương pháp hình thức tổ chức a. Hoạt động 1: Trò chuyện về cách khám phá - Bây giờ cô con mình cùng đi tìm hiểu? (xem video - Trẻ xem và trả lời khám phá hệ xương) câu hỏi. - Chúng mình vừa xem video nói về điều gì? + Cho trẻ xem mô hình cô tự làm. - Hệ thống xương gồm những xương chính nào? Chức năng của các xương? - Giới thiệu về bộ xương: “Bộ xương là khung xương giúp chúng ta đứng vững, di chuyển và bảo vệ các cơ quan trong cơ thể.” -Trẻ lắng nghe cô - Chia trẻ về 3 nhóm tự phân công nhiệm vụ cử 1 bạn phân công nhiệm đội trưởng và để trẻ thảo luận sắp xếp lô tô các bộ phận vụ. như: xương sọ, xương ngực, cột sống, đùi, chân, tay. - Các con đã sắp xếp được 1 hệ xương đầy đủ chưa? - Nhóm nào xung phong lên trình bày? - Các nhóm còn lại bổ xung nhận xét thêm. - Các nhóm còn lại có nhất trí với bản trình bày của bạn không? -> Chốt lại: Hệ xương của con người gồm các bộ phận chính sau: xương đầu, xương thân, xương chi. - Xương đầu: Bảo vệ não và cấu tạo khuôn mặt. - Xương thân: Gồm xương sườn và xương cột sống. - Xương chi: Bao gồm xương tay và xương chân. + Chúng mình cần làm gì để bảo vệ xương của chúng mình? - Giáo dục: Chúng mình cần ngồi học đúng tư thế, ăn nhiều chất có chứa canxi giúp xương chắc khỏ như: 14 trứng, sữa, tôm cua, và chúng mình phải chăm tập thể thao để xương chúng mình luôn chắc khỏe. - Cô cho trẻ thực hiện dự án b. Hoạt động 2: Trẻ thực hiện nhiệm vụ khám phá. Nhóm 1: Ghép bộ xương con người bằng tăm bông, ống hút. Các con tìm hiểu bộ xương của cơ thể người: Ở trên bàn, có giấy đen, bông tăm, ống hút, keo dán để các con thảo luận, sắp xếp, gắn thành bộ xương - Trẻ chọn nhóm của con người. khám phá. Nhóm 2: Cắt và sắp xếp dán đúng các hệ thống xương của cở thể. Trên bàn có nhiều bức tranh về các xương cơ bản của con người. Các con tìm các xương cắt, xắp xếp và dán đúng vị trí các xương trên cơ thể con người tạo thành một bộ xương con người hoàn chỉnh. Nhóm 3: Phác họa bằng bột và tạo xương bàn tay bằng tăm bông. Sẽ khám phá xương trên bàn tay của con người Nhóm 4: Nặn bộ xương. Các con cùng sáng tạo dùng đất sét nặn thành bộ xương con người. - Bạn nào thích khám phá nhóm nào thì hãy về vị trí nhóm đó. b. Hoạt động 3: Thuyết trình kết quả khám phá. - Cho trẻ trình bày sản phẩm của mình và nói về một số Trẻ thuyết trình kết xương mà các con đã học. quả. - Cô nhận xét 3. Củng cố - Hỏi trẻ những điều mà các con đã học được về bộ - Trẻ trả lời xương. 2.3. Giải pháp 3: Tích hợp vào các hoạt động trong ngày. Để ứng dụng phương pháp Reggio Emilia vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi, việc tích hợp các hoạt động khoa học vào trong các hoạt động hàng ngày là một giải pháp hiệu quả. Phương pháp Reggio Emilia khuyến khích sự khám phá tự nhiên và việc học thông qua trải nghiệm, vì vậy, việc tích hợp
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_ung_dung_phuong_phap_tiep_can_reggio_e.pdf

