SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng (GV: Bạch Thị Hằng - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục nhà trẻ.
- Ngày áp dụng sáng kiến: bắt đầu từ Tháng 9/2022.
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
+ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
+ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học.
+ Tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
+ Phối kết hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng (GV: Bạch Thị Hằng - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng (GV: Bạch Thị Hằng - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 - 36 THÁNG Lĩnh vực/Môn: Giáo dục Nhà trẻ Cấp học: Mầm non Tên tác giả : Bạch Thị Hằng Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại A Chức vụ : Giáo viên Năm học: 2022 – 2023 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN trường MN Ba Trại A, Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN ngành GD&ĐT huyện Ba Vì. Trình độ Ngày tháng Nơi công Chức Họ, tên chuyên Tên sáng kiến năm sinh tác danh môn Bạch Thị MN Ba ĐH Một số biện pháp phát 20-03-1987 Giáo viên triển ngôn ngữ cho trẻ Hằng Trại A sư phạm 24 - 36 tháng - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục nhà trẻ. - Ngày áp dụng sáng kiến: bắt đầu từ Tháng 9/2022. - Mô tả bản chất của sáng kiến: + Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. + Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học. + Tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ. + Phối kết hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Trại, ngày 12 tháng 04 năm 2023 Người nộp đơn Bạch Thị Hằng UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MN BA TRẠI A Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ - Họ tên tác giả: BẠCH THỊ HẰNG - Tên đề tài: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng Lĩnh vực: Giáo dục Mầm Non STT Tiêu chuẩn Điểm Điểm tối đạt đa 1 Sáng kiến có tính mới 1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 30 1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 20 1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 10 1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước 0 đây Nhận xét: .. . 2 Sáng kiến có tính áp dụng 2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 30 2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn 20 vị có cùng điều kiện 2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 10 2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị 0 Nhận xét: .. . 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 30 3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 20 3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị 10 3.4 Không có hiệu quả cụ thể 0 Nhận xét: .. . 4 Điểm trình bày 4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 10 4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý 5 Nhận xét: .. . Tổng cộng: Đánh giá: □ Đạt (>70 điểm) □ Không đạt CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ Hoàng Thị Nhân MỤC LỤC A. ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài:.....................................................................................................1 1.1. Cơ sở lý luận:.........................................................................................................1 1.2. Cơ sở thực tiễn: .....................................................................................................2 2. Mục đích nghiên cứu................................................................................................3 3. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................................3 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm..............................................................................3 5. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................3 6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu .............................................................................4 PHẦN II. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .........4 1. Cơ sở lý luận.............................................................................................................4 2. Khảo sát thực trạng...................................................................................................5 2.1. Thuận lợi................................................................................................................5 2.2. Khó khăn ...............................................................................................................5 3. Điều tra thực trạng trước khi thực hiện đề tài: ........................................................5 4. Những biện pháp thực hiện......................................................................................6 5. Phân tích các biện pháp............................................................................................6 5.1. Biện pháp Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi:..................................7 5.2. Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: ................9 5.3. Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: ............................11 5.4. Biện pháp tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển vốn từ cho trẻ:.............................................................................................................11 6. Kết quả đạt được: ...................................................................................................13 7. Kết quả thực hiện có so sánh: ................................................................................13 PHẦN III. KẾT LUẬT VÀ KHUYẾN NGHỊ .....................................................14 1. Kết luận: .................................................................................................................14 2. Khuyến nghị ...........................................................................................................15 PHẦN IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO HÌNH ẢNH MINH CHỨNG CHO CÁC BIỆN PHÁP A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: 1.1. Cơ sở lý luận: Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp, có vai trò quan trọng trong nhận thức, tư duy và các quá trình tâm lý khác. Những năm tháng đầu đời có tính chất quyết định trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Theo các nhà khoa học đã nghiên cứu về quy trình phát triển ngôn ngữ bình thường ở trẻ. Đến giai đoạn trẻ 24 - 36 tháng ngoài việc trẻ dùng đươc các từ đơn như: bà, mẹ, hoa, mèo.... thì trẻ đã dùng câu 2 - 3 từ thường xuyên hơn, vốn từ của trẻ nhiều hơn, trẻ biết gọi tên các màu cơ bản .... Những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi tuy trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, não bộ đã được lập trình dễ tiếp nhận các thông tin cảm quan và sử dụng để hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới, nhưng thiên hướng học của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như thể chất, nhận thức và tình cảm xã hội. Việc được hưởng sự chăm sóc và phát triển tốt từ lứa tuổi trẻ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ. Vốn từ là phương tiện giao tiếp nhận thức thế giới vận vật hấp dẫn xung quanh con người. Nhờ có vốn từ mà trẻ em người lớn thiết lập được những mỗi quan hệ tương hỗ với nhau, hiểu và cảm thông lẫn nhau, đồng thời cũng nhờ có vốn từ mà đưa trẻ có khả năng mở định tầm nhìn của mình. Khi trẻ biết nói, trẻ dễ dàng giao tiếp với người lớn cũng như trẻ có khả năng điều khiển hành vi của mình. Bằng vốn từ của mình trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình cho người lớn hiểu và hiểu được ý của người lớn muốn nói gì, từ đó giúp trẻ tích cực giao tiếp với mọi người. Vì vậy việc phát triển vốn từ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi là nhiệm vụ nặng nề của giáo dục trí tuệ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi. Nếu người lớn chúng ta lơ là công tác giáo dục và dạy trẻ tập nói tức là đã bỏ qua một cơ hội tốt để phát triển vốn từ cho trẻ. Theo đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở độ tuổi này thì nhu cầu giao tiếp của trẻ rất lớn, song do bộ máy phát âm của trẻ chưa phát triển, trẻ thường mắc lỗi phát âm: Cá-chá, không cần - Hông chần, đặc biết vốn từ của trẻ còn nghèo nàn. 2 1.2. Cơ sở thực tiễn: Ở lứa tuổi 24 – 36 tháng tuổi trẻ còn nói lắp và nói ngọng nhiều nhưng nó là thời kỳ “Phát cảm về vốn từ” tức là vốn từ phát triển rất nhanh, trẻ rất ham nói “Trẻ lên ba cả nhà học nói”. Đặc biệt lứa tuổi 24 – 36 tháng tuổi sự phát triển vốn từ đạt tới tốc độ rất nhanh mà sau này khi lớn lên khó có giai đoạn nào sánh bằng. Vì thế việc phát triển vốn từ cho trẻ là vô cùng cần thiết, giúp trẻ hoàn thiện hơn bộ máy phát âm và làm giàu vốn từ cho trẻ. Từ đó giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp và lĩnh hội tri thức tốt hơn giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. Là một cô giáo Mầm non trực tiếp dạy trẻ 24 - 36 tháng tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm sao để giúp các con phát triển vốn từ, dạy các con phát âm chuẩn, và sẽ không có những trẻ bị chậm nói dẫn đến bị tự kỷ như một số trẻ ở trường tôi đã từng biết. Không có những trẻ phải thường xuyên xin phép đi học muộn và về sớm để đến lớp học chuyên biệt học nói. Nhiều năm học tôi được phân công phụ trách nhóm nhà trẻ 24-36 tháng, đồng thời tôi cũng đang có con ở trong lứa tuổi 24-36 tháng này. Từng ngày từng ngày dõi theo sự phát triển vốn từ của trẻ trong lớp và của con mình với hy vọng khi lên lớp 3 tuổi không có bạn nào có tình trạng như bạn Nguyễn Khắc Phú, Nguyễn Khắc Thịnh là hai anh em sinh đôi hiện đang học tại lớp 3 tuổi C3 trường tôi, hai cháu sinh ngày 11/12/2019 đến nay đã hơn 3 tuổi nhưng hai cháu vẫn chưa nói được từ nào. Qua thăm hỏi được biết cháu không học qua lớp nhà trẻ, hiện nay cứ mỗi buổi chiều gia đình lại xin đón cháu sớm hơn 1 tiếng đồng hồ để cho cả hai anh em đi học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò từ khoảng 16h đến 17h tại xã Thuần mỹ Ba Vì Hà Nội. Hiện nay cháu Nguyễn Khắc Phú mới bập bẹ được 1,2 từ chưa rõ ràng, còn cháu Nguyễn Khắc Thịnh thì chưa phát âm được từ nào. Ngoài hai cháu nêu trên trường tôi còn có cháu Đỗ Đức Mạnh sinh ngày 02/07/2019 hiện đang học lớp 3 tuổi C1 trường tôi, cháu đã được gia đình đưa đi Viện Nhi Trung ương khám, đã cho cháu đi học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò, tuy nhiên đến nay cháu vẫn chưa phát âm được từ nào mà chỉ phát lên được những tiếng ớ, ớ, ớ. Như trường hợp cháu Đặng Bích Ngọc sinh ngày 12/07/2020 là học sinh lớp tôi, cháu đi học được một thời gian tôi nhận thấy khả năng phát âm và vốn từ của cháu rất bất thường có vẻ như vốn từ của cháu không có sự gia tăng vốn từ mà ngày càng thui chột đi. 3 Đáng thương vô cùng, tương lai các cháu sẽ ra sao khi các cháu không nói được. Bất kể người mẹ nào nuôi con nhỏ, và giáo viên phụ trách lớp nhà trẻ 24-36 tháng như tôi cũng rễ ràng nhận thấy vốn từ của các con phát triển hàng ngày. Và với các hoạt động một ngày của trẻ tôi đã dạy các con, dạy các con ở mọi lúc mọi nơi. Với kỳ vọng trẻ được khám phá hiểu biết về mọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển vốn từ, phát triển ngôn ngữ, phát triển tư duy... Từ những lý do trên, tôi đã dựa vào kinh nghiệm của mình, kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp và tham khảo thêm sách báo, tạp chí, truyền thông, truyền hình, internet, để từ đó rút ra kinh nghiệm cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi trẻ 24 - 26 tháng tại trường mầm non nơi tôi đang công tác. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24 - 36 tháng”. 2. Mục đích nghiên cứu Nhằm giúp trẻ 24-36 tháng lớp tôi phát triển khả nghe, hiểu và giao tiếp với các bạn với cô giáo, trả lời câu hỏi của cô giáo một cách có logic, có trình tự, mạch lạc để trẻ có thể hiểu biết hơn về thế giới xung quanh, phát triển tư duy của trẻ. Giúp trẻ mạnh dạn tự tin trước mọi người. Làm phong phú vốn từ cho trẻ. 3. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi lớp D1 trường Mầm non nơi tôi công tác. 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm Phạm vi: Nhóm trẻ lớp D1 trường Mần non nơi tôi công tác. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp quan sát Phương pháp thực hành Phương pháp kiểm tra, đánh giá. Phương pháp động viên, khuyến khích. 4 6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài được thực hiện trong năm học: 2022 – 2023 (Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023) và tiếp tục nâng cao thực hiện ở những năm học tiếp theo. PHẦN II. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ được hình thành rất sớm. Trẻ em chưa có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính chất bản năng trể dần dần học được cách nói của những người xung quanh mình. Như nhà Tâm lý học Vygotsky đã nhấn mạnh rằng: “Ngôn ngữ nói rất quan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ khó, tạo mối quan hệ xã hội và kiểm soát hành vi của bản thân. Chúng ta thường nghe thấy trẻ tự nói thành tiếng lớn khi chúng chơi cùng nhau và tương tác với các trẻ khác” Theo nhà Tâm lý học Nguyễn Ánh Tuyết thì số lượng từ ngữ trong giai đoạn trẻ 3-4 tuổi khoảng từ 800 – 1926 từ. Ở lứa tuổi 24 – 36 tháng tuổi trẻ còn nói lắp và nói ngọng nhiều nhưng nó là thời kỳ “Phát cảm về vốn từ” tức là vốn từ phát triển rất nhanh, trẻ rất ham nói “Trẻ lên ba cả nhà học nói”. Đặc biệt lứa tuổi 24 – 36 tháng tuổi sự phát triển vốn từ đạt tới tốc độ rất nhanh mà sau này khi lớn lên khó có giai đoạn nào sánh bằng. Vì thế việc phát triển vốn từ cho trẻ là vô cùng cần thiết, giúp trẻ hoàn thiện hơn bộ máy phát âm và làm giàu vốn từ cho trẻ. Từ đó giúp trẻ tự tin hơn trong giáo tiếp và lình hội tri thức tốt hơn giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay lại xuất hiện những tình trạng trẻ chậm nói ở độ tuổi nhỏ nếu không được can thiệp sớm, không chỉ ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, tư duy, trí tuệ mà còn ảnh hưởng xấu tới tâm lý. Trẻ thích làm theo ý của mình hoặc quấy khóc, ăn vạ vì không tìm được cách diễn đạt để người khác hiểu được mình và như vậy có nguy cơ trẻ bị tự kỷ. 5 2. Khảo sát thực trạng 2.1. Thuận lợi Trường mầm non nơi tôi công tác là một trong những trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1. Cơ sở vật chất khang trang, đồ dùng đồ chơi tương đối đầy đủ. Ban giám hiệu luôn quan tâm tạo điều kiện cho tôi cũng như các giáo viên trong trường phát huy được hết khả năng của mình trong quá trình giảng dạy, được đi học hỏi bồi dưỡng chuyên môn, chuyên đề, học tập thăm quan ở các trường bạn. Trong lớp 3 cô đều đạt trình độ chuyên môn trên chuẩn, có lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ. Giáo viên nắm vững phương pháp tổ chức các hoạt động. Bản thân tham gia thi giáo viên dạy giỏi đạt giải nhất cấp trường vào tham gia giáo viên dạy giỏi cấp huyện năm học 2022 -2023. có nhiều năm được phân công nhiệm vụ dạy lớp nhà trẻ 24-36 tháng. Tôi luôn có ý thức tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ chuyện môn và nâng cao chất lượng dạy trẻ. Đa số Phụ huynh quan tâm đến con em mình. 2.2. Khó khăn Không giống các độ tuổi khác đầu năm học trẻ còn lạ cô, lạ bạn quấy khóc nhiều, nhận thức của trẻ không đồng đều do tháng sinh của trẻ chênh nhau. Đặc điểm tâm lý của trẻ độ tuổi này nhanh nhớ, chóng quên, vốn từ hạn chế, chưa biết cách giao tiếp và biểu đạt mong muốn, nhu cầu của bản thân. Số trẻ trong lớp đông so với quy định của Điều lệ trường mầm non. Lớp tôi 34 học sinh nên khi tổ chức hoạt động học phải chia nhóm. Một số ít phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ. Họ chỉ nghĩ đơn giản con ở độ tuổi nhỏ như này đến trường chỉ cần đảm bảo ăn, ngủ, vệ sinh của con em mình là được. Không quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ nên không bồi dưỡng thêm cho con ở nhà và cũng không để ý đến khả năng ngôn ngữ của con. 3. Điều tra thực trạng trước khi thực hiện đề tài: Năm học 2022– 2023 tôi được nhà trường phân công dạy lớp nhà trẻ 24-36 tháng D1. - Tổng số cháu của lớp là 34 trẻ: Số trẻ nam là 19 trẻ, Số trẻ nữ là 15 trẻ. 6 - Số liệu điều tra: Để thực hiện tốt biện pháp nghiên cứu, đầu năm học tôi cùng 2 đồng chí giáo viên trong lớp tiến hành khảo sát với các nội dung đánh giá về mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ và có kết quả với tổng số trẻ trong lớp 34 cháu như sau: TT Tiêu chí Số trẻ Tỷ lệ 1 Trẻ chưa nói được câu nào 6/34 17,6 % 2 Trẻ nói bập bẹ chưa rõ tiếng 9/34 26,5 % 3 Trẻ nói được 1 từ rời rạc 8/34 23,5 % 4 Trẻ nói được đủ cấu 2-3 từ 11/34 32,3 % Với bảng số liệu khảo sát như trên, tôi nhận ra trẻ lớp tôi ngôn ngữ phát triển chậm hơn so với lứa tuổi. Tôi luôn có tâm nguyện sẽ có nhiều biện pháp, nhiều hình thức và thực hiện kiên trì thường xuyên hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng để phát triển vốn từ cho trẻ. 4. Những biện pháp thực hiện Biện pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học. Biện pháp 3: Tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5. Phân tích các biện pháp Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức. Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễ dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Chính vì vậy mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua một số hoạt động sau: 7 5.1. Biện pháp Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: 5.1.1. Giờ đón trẻ: “Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo, khi đến trường cô giáo như mẹ hiền” câu hát ấy đã được nhạc sĩ Phạm Tuyên nhắc đến trong bài hát “Cô và Mẹ” Ở nhà trẻ có những người thân của mình, trẻ được cưng chiều từ bữa ăn đến giấc ngủ. Khi đến lớp trẻ còn đang bỡ ngỡ lạ lẫm, cô phải là người gần gũi, là người trẻ tin tưởng nhất để chia sẻ mọi chuyện. Vì vậy giờ đón trẻ là lúc cô giáo cần tạo không khí vui vẻ, niềm nở lôi cuốn trẻ tới trường, tới lớp cô giáo phải thật gần gũi, tích cực trò chuyện với trẻ. Vì trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Cô gần gũi trò chuyện với trẻ như: Sáng nay ai đưa con đi học? Con đã ăn sáng chưa? Mẹ đội cho con mũ màu gì? Hôm nay con có váy đẹp quá, ai mua cho con? Váy của con màu gì ..... (cô sửa sai khi trẻ nói ngọng, động viên để trẻ tích cực phát âm). (Ảnh đón trẻ và trao đổi với phụ huynh) Trẻ cảm thấy yên tâm khi ở lớp với cô, trẻ dần đỡ khóc hơn, mạnh dạn hơn khi trò chuyện với cô giáo, trả lời câu hỏi của cô giáo. 5.1.2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc: Hoạt động chơi với đồ chơi ở các góc giúp trẻ được khám phá rất nhiều thứ từ môi trường xung quang trẻ, phát triển các giác quan. Khi chơi cùng nhau có các tình huống chơi sẽ khuyến khích trẻ phát âm, trò chuyện, trao đổi giao lưu cùng bạn chơi, giao lưu giữa các góc chơi. Đây là một hình thức quan trọng, bởi khi chơi có tác dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ. Thời gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, trẻ được chơi thoải mái nhất. Khi chơi trẻ được sử dụng các loại từ khác nhau, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung khác nhau. Trẻ giao tiếp với trẻ trong nhóm chơi, cô gợi mở, trò chuyện với trẻ về nội dung chơi như: Con đang bế ai đấy? (bế em bé), con đang làm gì? (xâu vòng), con xâu vòng màu gì đây? (màu đỏ, màu xanh) .... Trẻ được giao tiếp với bạn khi chơi. (Hình ảnh trẻ chơi ở góc bế em) 8 5.1.3. Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời: Hoạt động ngoài trời cũng là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ. Hoạt động ngoài trời trẻ được tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên, với những tình huống thực tế ví dụ như đang cùng trẻ chơi ngoài sân trường có con chim, con bướm bay qua, trường tôi gần đường khi có ô tô đi ngoài đường trẻ được nhìn thấy và được nghe tiếng còi xe tận dụng những lúc đó tôi cho trẻ phát âm những thứ trẻ được nhìn thấy, được nghe thấy trẻ rất hứng thú. Hàng ngày cho trẻ đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi cá nhân, hỏi tập thể để trẻ được gọi tên các đồ chơi quanh sân trường như: Bập bênh, Cầu trượt, Đu quay... Ngoài ra tôi còn giới thiệu và cho trẻ phát âm tên cây hoa, màu của bông hoa, tên cây xanh ở vườn trường như: Đây là cây hoa Mẫu đơn các con nói cùng cô (Mẫu đơn) Bông hoa Mẫu đơn có màu gì? (Màu đỏ) Cây hoa đồng tiền có lá màu gì? (Màu xanh) Trường tôi có vườn rau tươi rất đẹp, cho trẻ thăm quan vườn rau giới thiệu và hỏi lại trẻ: Đây là rau gì? (Rau cải), Đây là củ gì? (Củ su hào) ... lựa hôm cô nuôi đang thu hoạch rau cho trẻ vận chuyển rau giúp cô nuôi trẻ rất thích thú. Giáo dục: Các con ơi cây xanh rất tốt cho sức khỏe của con người các con không được hái hoa bẻ cành nhé. Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích lũy được những vốn từ mới ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng hơn. Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không. Vì vậy tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại. Đặc biệt không bắt trước hoặc nói theo cách nói chưa chuẩn của trẻ như trẻ hay nói Bông hoa thì trẻ lại nói Bông ha (cô không nhắc lại Bông ha mà cô phát âm chuẩn Bông hoa và yêu cầu trẻ nói lại. Khi trẻ nói đúng cô thường xuyên đưa ra những lời động viên khen ngợi trẻ như (Con giỏi lắm) Trong quá trình dạo chơi trẻ được đặt nhiều câu hỏi về tên gọi, công dụng của đồ vật, cây cối mọi thứ mà trẻ được tiếp xúc. Vì vậy hoạt động ngoài trời có tác dụng rất lớn trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. (Ảnh trẻ đi dạo vườn hoa, trẻ giúp cô nuôi dưỡng thu hoạch rau) 9 5.1.4. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh: Đâu cứ phải giờ nhận biết tập nói mới là phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Với tôi khi vệ sinh cho trẻ tôi vừa vệ sinh cho trẻ vừa trò chuyện, cô đang rửa mặt cho con đấy, con thấy khăn có ấm không? (có ấm), con đưa tay ra để cô rửa tay cho con bằng xà phòng cho sạch nhé, Rửa tay để làm gì? (cho sạch) Khi cho trẻ ăn cơm tôi giới thiệu tên món ăn, mời trẻ và yêu cầu trẻ mời cô và các bạn, cảm ơn các cô ... Có thể trẻ chỉ nói theo được 2 đến 3 từ theo câu cô yêu cầu Ví dụ: Sau khi giới thiệu món ăn cô hỏi lại trẻ, hôm nay con ăn cơm với thức ăn gì? Cô hỏi từng câu đẻ trẻ trả lời (Thịt Gà) (Thịt Lợn) Canh rau cải, Su su xào .... Khi cho trẻ đi ngủ cô hỏi con có gối đầu màu gì? ... cô kể truyện cho trẻ nghe. Kết quả: Với các hoạt động, với những công việc tửng chừng như đơn giản đó tôi cứ kiên trì thường xuyên thực hiện hàng ngày, hàng tuần và nhận thấy trẻ có tiến bộ rõ rệt. Như trẻ nhanh quen cô và các bạn hơn, đỡ khóc khi đến lớp, hòa nhập với các bạn trong lớp và đặc biệt từ chỗ trẻ lười nói, thì nay trẻ đã mạnh dạn trả lời khi cô hỏi, có những trẻ chủ động đưa ra yêu cầu với cô giáo khi cần như: Khi trẻ muốn uống nước, muốn đi vệ sinh, cởi bớt áo khi nóng.... (Ảnh cô vệ sinh cho trẻ, cô cho trẻ ăn, cô cho trẻ ngủ) 5.2. Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: 5.2.1. Thông qua Hoạt động nhận biết: Đây là hoạt động quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp vốn từ cho trẻ. Trẻ ở lứa tuổi 24 - 36 tháng đang học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh, vì vậy trẻ thường nói nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong giờ học cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để thu hút sự chú ý của trẻ. Bên cạnh đó hệ thống câu hỏi cần rõ ràng ngắn gọn, trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu. Thông qua giờ nhận biết nhằm hướng dẫn trẻ xem xét sự vật hiện tượng xung quanh gần gũi với trẻ, giúp trẻ nhận biết được sự vật, những đặc điểm cấu tạo của sự vật, hành động với sự vật . trên cơ sở đó cung cấp những từ ngữ 10 tương ứng, cho trẻ phát âm, rèn luyện trẻ phát âm theo cấu trúc câu đúng ngữ pháp và đặc biệt giúp tăng nhanh vốn từ cho trẻ. Ví dụ: Cô dạy trẻ nhận biết và phát âm: Bông hoa màu đỏ, hoặc quả xoài màu vàng hoặc cái mũ màu xanh, dạy trẻ nhận biết màu xanh màu đỏ.... (Ảnh cô dạy trẻ hoạt động nhận biết màu xanh màu đỏ , nhận biết quả bưởi) 5.2.2. Thông qua hoạt động làm quen với văn học: Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn ngữ cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú. Cô dạy trẻ đọc thơ, cô uốn nắn sửa sai cho trẻ, cô kể chuyện cho trẻ nghe, đặt câu hỏi để trẻ đàm thoại, trẻ trả lời theo ý hiểu về nội dung câu truyện ..... Ví dụ: Dạy trẻ bài thơ Yêu mẹ Mẹ đi làm Từ sáng sớm Dậy thổi cơm .... Với mỗi câu thơ chỉ có 3 từ rất phù hợp với độ tuổi trẻ. Cô kể câu truyện Thỏ con không vâng lời, Cô đàm thoại với trẻ về nội dung câu truyện. Trong truyện có những ai? Thỏ mẹ dặn thỏ con như thế nào? ..... (Ảnh dạy trẻ đọc thơ, cô giáo quan tâm nhiều hơn đến bạn Bích Ngọc) 5.2.3. Thông qua hoạt động Âm nhạc: Khác với trẻ 5 tuổi, trẻ nhà trẻ có bạn hát theo cô được cả bài, có bạn chỉ hát theo cô được 1,2 từ cuối của câu. Tuy nhiên để thu hút sự chú ý của trẻ cô giáo cũng phải suy nghĩ nghiên cứu phương pháp và hình thức thực hiện. Cô hát tình cảm, nhẹ nhàng rõ lời kết hợp với nhạc. Hoặc có thể dạy trẻ vận động theo nhạc, vận động minh họa theo lời bài hát ... (Ảnh cô dạy trẻ hát, cô giáo quan tâm đến cháu Bích Ngọc) Kết quả: Thông qua các hoạt động học mặc dù với trẻ 24 - 36 tháng mội hoạt động học chỉ diễn ra 15 đến 20 phút nhưng có ý nghĩa vô cùng cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trẻ được học theo quy trình từ dễ đến khó từ đơn 11 giản đến phức tạp, trẻ được cô giáo uốn nắn từ cách trả lời câu hỏi đến cách diễn đạt câu, phát âm chuẩn. Vốn từ của trẻ được tăng lên, trẻ bập bẹ từng từ rồi nói được câu ngắn 2 đến 3 từ và nhiều hơn. 5.3. Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: Đối với trẻ nhà trẻ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo, trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích lũy được nhiều vốn từ. Qua trò chơi trẻ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng dần lưu loát hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Tôi nhận thấy rằng khi trẻ chơi trò chơi trẻ rất thoải mái và gây sự hứng thú của trẻ lôi cuốn trẻ vào bài học. Như vậy trẻ sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng và thoải mái, không bị gò bó. Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo sách báo, tài liệu đã áp dụng thực tế tại lớp tôi nhận thấy rằng trò chơi thực sự có hiệu quả làm tăng thêm vốn từ cho trẻ, từ đó ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong phú. Đơn giản như các trò chơi: Trò chơi dẫm xốp bong bóng, Ngón tay nhúc nhích, Bọ dừa, Nu na nu nống, Chi chi chành chành, trò chơi con muỗi .... Mỗi trò chơi đều có những bài đồng dao có cấu trúc câu ngắn dễ đọc phù hợp với trẻ ví dụ như: Kết quả: Thông qua trò chơi trẻ được đọc những câu đồng dao dễ thuộc, kết hợp những cử chỉ ngộ nghĩnh, âm điệu vui tươi, sống động nhí nhảnh gần gũi với cuộc sống, giúp trẻ thêm hào hứng học tập và trẻ rất thích. (Ảnh trẻ chơi nu na nu nống, trò chơi Bọ dừa) 5.4. Biện pháp tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển vốn từ cho trẻ: Như chúng ta đã biết môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và nhà trường vì vậy phụ huynh chính là một trong những nhân tố quyết định trong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ đồng thời phụ huynh cũng tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho giờ hoạt động nhận biết tập nói để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vì đây là trẻ nhà trẻ, trẻ bắt đầu tập nói tôi trao đổi với phụ huynh về ý nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đối với những cháu mới đi học vốn từ của trẻ còn hạn hẹp, hơn nữa trẻ rất hay nói ngọng, nói lắp thì vai trò của phụ huynh trong việc phối hợp với cô giáo trong việc trò chuyện với trẻ là rất cần 12 thiết bởi nó giúp trẻ được vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm, sửa ngọng. Nhận thức rõ về điều này ngay từ đầu năm học tôi đã đưa ra kế hoạch để tuyên truyền cho phụ huynh thấy rõ được tầm quan trọng của việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Tôi thường trao đổi với phụ huynh về giờ hoạt động nhận biết tập nói trên lớp nhắc phụ huynh về nhà hỏi lại trẻ để trẻ trả lời lại hoặc kích thích để trẻ tư duy và nhắc lại trẻ đã được thấy, nhìn những gì xảy ra vào ban ngày. Và luôn mong muốn lắng nghe những phản hồi của phụ huynh về trẻ để từ đó có những biện pháp hữu hiệu giúp trẻ tích cực tham gia hoạt động nhận biết. Đồng thời hàng tháng, hàng tuần tồi đều có kế hoạch cụ thể của trẻ ở trên lớp và trên bảng tuyên truyền của lớp để phụ huynh nắm rõ lịch học của con ở lớp và phối hợp với giáo viên để rèn thêm vốn từ cho con khi ở nhà. Có thể nói công tác tuyên truyền, trao đổi thường xuyên với phụ huynh là một việc làm thiết thực và quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển vốn từ. Từ đầu năm học tôi cảm nhận về khả năng ngôn ngữ của học sinh Đặng Bích Ngọc lớp tôi rất hạn chế, tôi đã trực tiếp trao đổi với mẹ cháu. Tuy nhiên mẹ cháu dường như không muốn tin vào điều đó, mẹ cháu khảng định cháu chậm nói theo dân gian chỉ cần ra chợ cướp bánh về cho cháu ăn là cháu nói được. Tôi cảm thấy buồn về điều đó. Kiên trì trao đổi với cả ông bà nội của cháu và đến giữa tháng 3 năm 2023 gia đình mới cho cháu đi Viện nhi trung ương khám về gia đình cho cháu đi học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò tại Thôn 6 xã Ba Trại, đến nay cháu đã bập bẹ được các từ: Dạ, Ba, Bà nhưng chưa rõ. Kết quả: Qua công tác phối kết hợp với phụ huynh tôi thấy đạt được kết quả rất tốt, được các bậc phụ huynh ủng hộ vật chất và tinh thần. Cứ mỗi buổi sáng phụ huynh đưa con đến lớp trao đổi với cô về những việc trẻ đã làm được, những câu trẻ đã nói được, đó là những món quà vô giá đối với tôi. Thực tế cho thấy nếu như gia đình và nhà trường có sự kết hợp chặt chẽ thì sẽ tạo được một mối quan hệ gần gũi cởi mở giữa 2 bên và cả 2 bên sẽ nhận được những đóng góp chân tình và những kinh nghiệm thiết thực, quý báu trong chăm sóc và giáo dục trẻ. Cô và mẹ là hai cô giáo, mẹ và cô như hai mẹ hiền, trẻ yêu cô yêu lớp và đi học đầy đủ. (Ảnh cô đón trẻ và trao đổi với phụ huynh cháu Đặng Bích Ngọc) 13 6. Kết quả đạt được: Trẻ nhanh quen cô và các bạn hơn, đỡ khóc hơn khi đến lớp, hòa nhập với các bạn trong lớp và đặc biệt từ chỗ trẻ lười nói, thì nay trẻ đã mạnh dạn trả lời khi cô hỏi, có những trẻ chủ động đưa ra yêu cầu với cô giáo khi cần như: Khi trẻ muốn uống nước, muốn đi vệ sinh, cởi bớt áo khi nóng.... Một số trẻ chưa nói được câu nào và nói bập bẹ như cháu: Ánh, Bảo, Quân, Sơn nay cháu đã nói được từng từ rời rạc. Cháu Khôi, Huyền, Khang, Trà, Thư, Nhung, . đầu năm học nói được từng từ rời rạc nay đã nói được câu 2 - 3 từ và nhiều hơn, Đặc biệt cháu Đặng Bích Ngọc tưởng chừng như không có ngôn ngữ nói đến nay đã phát âm được một số từ rời rạc như: Dạ, Ba, Bà Hơn thế khi tham gia thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, thăm lớp dự giờ Ban giám hiệu nhà trường đã đánh giá trẻ lớp tôi có tiến bộ nhiều về ngôn ngữ so với đầu năm học. Khi tham gia thuyết trình dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện về biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ xếp loại: Đạt Phụ huynh học sinh lớp tôi rất vui mừng khi thấy con mình đi học nay đã nói được nhiều hơn, trẻ thích đi học hơn. 7. Kết quả thực hiện có so sánh: Trong năm học 2022-2023 Sau khi áp dụng các biện pháp trên cũng có khó khăn thử thách nhưng với tinh thần yêu nghề mến trẻ đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ chúng tôi đã làm tốt công tác phát triển vốn từ tại nhóm lớp nhà trẻ D1. Số liệu khảo sát cho thấy các tiêu chí tăng lên rõ rệt so với đầu năm cụ thể như sau: TT Tiêu chí Số trẻ khảo Số trẻ khảo So sánh tỷ lệ sát đầu năm sát cuối năm 1 Trẻ chưa nói được câu nào 6/34 =17,6% 0/34 = 0% Giảm 17,6 % 2 Trẻ nói bập bẹ chưa rõ tiếng 9/34 = 26,5% 1/34 = 2,9% Giảm 23,6 % 3 Trẻ nói được 1 từ rời rạc 8/34 = 23,5% 2/34 = 5,8% Giảm 17,7 % 4 Trẻ nói được cấu 2-3 từ 11/34= 32,3% 32/34= 94% Tăng 61,1 % 14 Qua bảng số liệu tôi nhận thấy ngôn ngữ của trẻ trong lớp tôi tiến bộ rõ rệt. Hiện tại lớp tôi còn 2 trẻ nói được từng từ đơn giản nhưng rõ ràng. Duy nhất còn cháu Đặng Bích Ngọc mới nói được bập bẹ chưa rõ tiếng, tuy nhiên cũng là tia hy vọng rất khả quan về khả năng phát âm của cháu. Tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tốt hơn. Phát triển ngôn ngữ tốt chính là tiền đề để trẻ phát triển nhận thức, tư duy, trí tuệ. PHẦN III. KẾT LUẬT VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận: Sau khi áp dụng “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 24- 36 tháng” trong cả năm học tôi thấy có những chuyển biến rõ rệt, phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất khá, các cháu nói năng mạch lạc, rõ ràng được thể hiện như sau: - Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong khi giao tiếp. - Trẻ khi giao tiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh. - Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa. Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào cuộc sống hàng ngày. “Phát triển vốn từ” cho trẻ ở trường Mầm Non là vấn đề rất quan trọng và cần thiết, mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Gây hứng thú giúp trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi phát triển ngôn ngữ đòi hỏi người giáo viên phải yêu nghề, mến trẻ, tư duy, sáng tạo đồng thời phải kiên trì, bền bỉ để luôn luôn tạo hứng thú kích thích tính tò mò ham hiểu biết, thu hút trẻ trong giờ hoạt động nhận biết tập nói, mọi lúc mọi nơi thì mới đạt kết quả cao. Bản thân thôi đã tìm ra được các biện pháp để giúp trẻ phát triển vốn từ thông qua hoạt động nhận biết tập nói. Phụ huynh cũng đã từng bước hiểu được tầm quan trọng về việc cho trẻ đến trường và phối hợp với giáo viên phát triển vốn từ cho trẻ tại gia đình. 15 2. Khuyến nghị * Đối với Phòng giáo dục - Thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề, các lớp tập huấn, tổ chức các nội dung thi dạy để bồi dưỡng về chuyên môn cho giáo viên. * Đối với nhà trường - Khuyến khích giáo viên thi đua dạy tốt hoạt động nhận biết tập nói, viết và triển khai sáng kiến kinh nghiện để giáo viên trong trường học hỏi lẫn nhau. - Tiếp tục cho giáo viên đi thăm quan môi trường sư phạm và các tiết dạy mẫu ở trường bạn để học hỏi kinh nghiệm. - Đầu tư kinh phí, thời gian đồng thời khuyến khích giáo viên tích cực làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động nhận biết và các hoạt động khác. Luôn quan tâm nhiều hơn nữa tới công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hàng năm. Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Tôi xin chân thành cảm ơn!
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_24_36_than.doc

