SKKN Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 (GV: Vũ Thị Thu Hương - Trường TH Tây Đằng A - Năm học 2023-2024)
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của sáng kiến
Phát triển năng lực tự học cho các đối tượng đào tạo nói chung, học sinh tiểu học nói riêng là vấn đề rất quan trọng trong công tác giáo dục - đào tạo, nhằm hiện thực hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đó là: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”; giúp người học phát huy tích cực, chủ động, tự giác, có phương pháp, kỹ năng phù hợp để tự mình tìm tòi, tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm và nội dung các môn học, bài học trong chương trình đào tạo. Theo quan điểm của Herbert Spence (Triết gia, nhà lý thuyết xã hội học Anh): “Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng... chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt”.
Những năm qua, hệ thống các nhà trường, đội ngũ giáo viên ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc tiểu học đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, chủ động, sáng tạo nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao kết quả học tập của học sinh. Trong đó, quan tâm đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế thời đại, lấy người học làm trung tâm, chú trọng phát triển năng lực tự học cho học sinh và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Học sinh tiểu học ngày càng có ý thức tự giác, chăm chỉ, siêng năng; có phương pháp tự học phù hợp; biết sắp xếp, sử dụng thời gian và khai thác các phương tiện hiện đại để tự học, tự tìm hiểu thông tin liên quan đến nội dung học tập. Năng lực và chất lượng tự học của các em ngày càng tiến bộ. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan (cả từ phía giáo viên, gia đình và chính bản thân học sinh), việc phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học còn bộc lộ một số hạn chế, như: Chưa bảo đảm sự đồng đều giữa học sinh của các nhà trường, giữa các khóa, các lớp, hay trong một lớp học; nhiều học sinh chưa sử dụng tốt thời gian tự học, chưa xây dựng và rèn luyện được kỹ năng, phương pháp tự học hợp lý,... Dó đó chất lượng, hiệu quả tự học của một bộ phận học sinh chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu và sự mong đợi của nhà trường, giáo viên, gia đình.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu, rộng; đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế tiếp tục đặt ra những yêu cầu nhiệm vụ hết sức toàn diện. Trong đó, phát triển năng lực tự học cho tất cả các đối tượng đào tạo (học sinh, sinh viên) nói chung, học sinh tiểu học nói riêng cần được quan tâm, chú trọng hơn nữa. Để tiếp tục nâng cao năng lực tự học cho học sinh tiểu học, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu chuyên sâu, từ đó tìm ra những biện pháp phù hợp, sát thực tế, có tính khả thi, đưa vào áp dụng trong quá trình giảng dạy tại các trường tiểu học. Chính vì vậy, nghiên cứu sáng kiến: “Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 trong thời đại ngày nay” có ý sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Cung cấp cơ sở, luận cứ khoa học để các nhà trường và đội ngũ giáo viên tiểu học tham khảo, vận dụng trong quá trình dạy học, nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh lớp 4 trong thời đại ngày nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Luận giải, phân tích làm rõ cơ sở khoa học về việc phát triển năng lực tự học cho học sinh.
+ Khảo sát, đánh giá đúng đặc điểm học sinh lớp 4 và thực trạng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 hiện nay.
+ Đề xuất một số biện pháp đồng bộ, sát thực tế, có tính khả thi, nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 trong thời đại ngày nay.
3. Giả thuyết nghiên cứu
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế về năng lực tự học của học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng là do thiếu sự quan tâm giáo dục, hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên và gia đình học sinh; tính tích cực, tự giác, say mê của học sinh chưa cao, kỹ năng tự học chưa phù hợp.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Về phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về công tác giáo dục - đào tạo.
- Về phương pháp cụ thể: Sử dụng các phương pháp cụ thể, đó là:
+ Phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh để luận giải, làm rõ những nội dung, vấn đề khoa học của sáng kiến.
+ Nghiên cứu tài liệu (Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, hướng dẫn, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; sách, báo, công trình khoa học đã công bố,...) để làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài.
+ Nghiên cứu thực tiễn để khảo sát, quan sát, điều tra xã hội học, thực nghiệm sư phạm để thu thập thông tin, dữ liệu thực tế; đánh giá khách quan, chân thực hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh; rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân trong phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng.
5. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 9/2023 đến tháng 5/2024.
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của giáo viên trong việc phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Tây Đằng A.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 (GV: Vũ Thị Thu Hương - Trường TH Tây Đằng A - Năm học 2023-2024)
UBND HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂY ĐẰNG A ____________________ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4 Tên Tác giả: VŨ THỊ THU HƯƠNG Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Tây Đằng A Chức vụ: Giáo viên Năm học 2023 - 2024 2 MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Trang 1. Tính cấp thiết của sáng kiến 3 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 4 3. Giả thuyết nghiên cứu 4 4. Phương pháp nghiên cứu 4 5. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4 PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Cơ sở khoa học về phát triển năng lực tự học cho học sinh 5 2. Đặc điểm học sinh lớp 4 và thực trạng phát triển năng lực tự học 7 cho học sinh lớp 4 3. Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 10 4. Kết quả sau khi áp dụng biện pháp sáng kiến tại nhà trường 21 5. Hiệu quả của sáng kiến 23 6. Tính khả thi của sáng kiến 24 7. Thời gian thực hiện sáng kiến 24 8. Kinh phí thực hiện sáng kiến 24 PHẦN III. KẾT LUẬN: KẾT LUẬN; KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 1. Kết luận 24 2. Kiến nghị, đề xuất 25 MỘT SỐ MINH CHỨNG 3 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của sáng kiến Phát triển năng lực tự học cho các đối tượng đào tạo nói chung, học sinh tiểu học nói riêng là vấn đề rất quan trọng trong công tác giáo dục - đào tạo, nhằm hiện thực hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đó là: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”; giúp người học phát huy tích cực, chủ động, tự giác, có phương pháp, kỹ năng phù hợp để tự mình tìm tòi, tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm và nội dung các môn học, bài học trong chương trình đào tạo. Theo quan điểm của Herbert Spence (Triết gia, nhà lý thuyết xã hội học Anh): “Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng... chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Những năm qua, hệ thống các nhà trường, đội ngũ giáo viên ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc tiểu học đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, chủ động, sáng tạo nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao kết quả học tập của học sinh. Trong đó, quan tâm đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế thời đại, lấy người học làm trung tâm, chú trọng phát triển năng lực tự học cho học sinh và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Học sinh tiểu học ngày càng có ý thức tự giác, chăm chỉ, siêng năng; có phương pháp tự học phù hợp; biết sắp xếp, sử dụng thời gian và khai thác các phương tiện hiện đại để tự học, tự tìm hiểu thông tin liên quan đến nội dung học tập. Năng lực và chất lượng tự học của các em ngày càng tiến bộ. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan (cả từ phía giáo viên, gia đình và chính bản thân học sinh), việc phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học còn bộc lộ một số hạn chế, như: Chưa bảo đảm sự đồng đều giữa học sinh của các nhà trường, giữa các khóa, các lớp, hay trong một lớp học; nhiều học sinh chưa sử dụng tốt thời gian tự học, chưa xây dựng và rèn luyện được kỹ năng, phương pháp tự học hợp lý,... Dó đó chất lượng, hiệu quả tự học của một bộ phận học sinh chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu và sự mong đợi của nhà trường, giáo viên, gia đình. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu, rộng; đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế tiếp tục đặt ra những yêu cầu nhiệm vụ hết sức toàn diện. Trong đó, phát triển năng lực tự học cho tất cả các đối tượng đào tạo (học sinh, sinh viên) nói chung, học sinh tiểu học nói riêng cần được quan tâm, chú trọng hơn nữa. Để tiếp tục nâng cao năng lực tự học cho học sinh tiểu học, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu chuyên sâu, từ đó tìm ra những biện pháp phù hợp, sát thực tế, có tính khả thi, đưa vào áp dụng trong quá trình giảng dạy tại các trường tiểu học. Chính vì vậy, nghiên cứu sáng kiến: “Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 trong thời đại ngày nay” có ý sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. 4 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu - Mục tiêu nghiên cứu: Cung cấp cơ sở, luận cứ khoa học để các nhà trường và đội ngũ giáo viên tiểu học tham khảo, vận dụng trong quá trình dạy học, nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh lớp 4 trong thời đại ngày nay. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Luận giải, phân tích làm rõ cơ sở khoa học về việc phát triển năng lực tự học cho học sinh. + Khảo sát, đánh giá đúng đặc điểm học sinh lớp 4 và thực trạng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 hiện nay. + Đề xuất một số biện pháp đồng bộ, sát thực tế, có tính khả thi, nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 trong thời đại ngày nay. 3. Giả thuyết nghiên cứu Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế về năng lực tự học của học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng là do thiếu sự quan tâm giáo dục, hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên và gia đình học sinh; tính tích cực, tự giác, say mê của học sinh chưa cao, kỹ năng tự học chưa phù hợp. 4. Phương pháp nghiên cứu - Về phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về công tác giáo dục - đào tạo. - Về phương pháp cụ thể: Sử dụng các phương pháp cụ thể, đó là: + Phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh để luận giải, làm rõ những nội dung, vấn đề khoa học của sáng kiến. + Nghiên cứu tài liệu (Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, hướng dẫn, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; sách, báo, công trình khoa học đã công bố,...) để làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài. + Nghiên cứu thực tiễn để khảo sát, quan sát, điều tra xã hội học, thực nghiệm sư phạm để thu thập thông tin, dữ liệu thực tế; đánh giá khách quan, chân thực hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh; rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân trong phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng. 5. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Thời gian: Từ tháng 9/2023 đến tháng 5/2024. - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của giáo viên trong việc phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Tây Đằng A. 5 PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Cơ sở khoa học về phát triển năng lực tự học cho học sinh 1.1. Khái niệm - Năng lực tự học Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực giáo dục - đào tạo, năng lực tự học được hiểu là: Khả năng tích cực, chủ động, tự giác của con người trong việc tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm của đời sống xã hội, nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, phục vụ cho hoạt động công tác, sản xuất, đời sống, sinh hoạt, học tập. Theo đó, năng lực tự học của học sinh (người học) là khả năng tích cực, chủ động, say mê, tự giác của mỗi học sinh trong việc tự suy nghĩ, tìm tòi, tiếp thu, chiếm lĩnh kiến thức các môn học, bài học trong nội dung, chương trình đào tạo dưới sự hướng dẫn, giảng dạy, chỉ bảo, của giáo viên, người thân (cha, mẹ, anh, chị,) nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, nắm vững về nội dung các môn học, bài học của trong quá trình học tập. - Phát triển năng lực tự học cho học sinh Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ chưa tốt đến tốt hơn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Quá trình này diễn ra cả trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người; phổ quát ở tất cả các lĩnh vực, các khâu, các tổ chức, cá nhân nói chung, các hoạt động cụ thể của mỗi cá nhân nói riêng, trong đó có hoạt động tự học của học sinh ở tất cả các cấp học, bậc học. Đối với hoạt động tự học của học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng, phát triển năng lực tự học là làm cho khả năng tự học của các em học sinh ngày càng tiến bộ hơn, nâng cao hơn. Đây là quá trình phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có 03 yếu tố cơ bản, chủ yếu, hết sức quan trọng, quyết định hiệu quả tự học của học sinh là: Nhà trường (vai trò của giáo viên), gia đình (vai trò của người thân) và chính bản thân mỗi học sinh (vai trò tự thân). Theo đó, chỉ khi phát huy tốt vai trò, trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của cả 03 yếu tố trên, mới có thể thực hiện có hiệu quả việc phát triển năng lực tự học cho học sinh trong thời đại ngày nay, đặc biệt là đối với học sinh bậc tiểu học, trong đó có học sinh lớp 4. Từ những luận giải trên, có thể đưa ra khái niệm như sau: Phát triển năng lực tự học cho học sinh là quá trình phối hợp tương tác có mục đích của giáo viên (người dạy), gia đình (người thân) và học sinh (người học) nhằm xây dựng, hình thành ở học sinh nhận thức, ý thức, thái độ, trách nhiệm đúng và các kỹ năng, phương pháp phù hợp để mỗi em thật sự đam mê, hứng thú, tích cực, chủ động, tự giác suy nghĩ, tìm tòi, học tập, tiếp thu kiến thức các môn học, bài học trong nội dung, chương trình đào tạo. 6 Khái niệm trên cho thấy: Chủ thể chính phát triển năng lực tự học cho học sinh là giáo viên và người thân. Đối tượng hướng đến là các em học sinh. Căn cứ để phát triển năng lực tự học cho học sinh là nội dung, chương trình đào tạo; tâm lý, nhận thức, khả năng của học sinh. Mục đích của phát triển năng lực tự học cho học sinh là xây dựng, hình thành ở học sinh nhận thức, ý thức, thái độ, trách nhiệm đúng và các kỹ năng, phương pháp phù hợp để mỗi học sinh thật sự đam mê, hứng thú, tích cực, chủ động, tự giác suy nghĩ, tìm tòi, học tập, tiếp thu kiến thức các môn học, bài học trong nội dung, chương trình đào tạo. 1.2. Vai trò của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh Phát triển năng lực tự học cho học sinh có vai trò rất quan trọng, được thể hiện trên những vấn đề chủ yếu sau: Một là, đáp ứng yêu cầu trong thời đại kỷ nguyên số, bối cảnh của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), đặc biệt là trong điều kiện khối lượng nội dung, chương trình, kiến thức các môn học, bài học rất lớn đối với học sinh hiện nay. Nếu chỉ thuần túy ngồi nghe, ghi chép, tiếp thu nội dung học tập trên lớp (khi có giảng viên); nếu không có năng lực tự học,... học sinh không thể có kết quả học tập tốt, thậm chí có thể không theo kịp nội dung, chương trình học tập. Chỉ khi có năng lực tự học tốt và không ngừng tiến bộ, học sinh mới có thể hoàn thành các nội dung học tập đạt kết quả cao. Hai là, xây dựng tinh thần tự giác, tích cực, chủ động, siêng năng, khắc phục sự thụ động, chán nản, ỉ lại, lười biếng của học sinh; giúp các em độc lập, tự thân, có phương pháp phù hợp, hiệu quả trong học tập, tiếp thu kiến thức các môn học, bài học theo nội dung, chương trình giáo dục - đào tạo mà không cần nhiều sự giám sát trực tiếp của giáo viên, người thân. Tạo dựng tiền đề, nền tảng vững chắc, thói quen hữu ích, vô cùng cần thiết để các em tiếp tục học tập ở các bậc học cao hơn và trong suốt cuộc đời công tác, lao động sau này. Ba là, tạo sự đam mê, hứng thú, kích hoạt khám phá và sáng tạo, thi đua,... cho các em học sinh trong học tập, tiếp thu kiến thức các môn học, bài học theo nội dung, chương trình giáo dục - đào tạo; giúp các em hình thành thói quen tích cực, khả năng tiếp cận kiến thức đa dạng, toàn cầu, có chọn lọc (trên internet, sách, báo,...), thích ứng với cường độ học tập nặng nhọc. 1.3. Nội dung, yêu cầu phát triển năng lực tự học cho học sinh * Nội dung phát triển năng lực tự học cho học sinh Một là, xây dựng niềm đam mê, hứng thú học tập cho học sinh. Hai là, xây dựng tinh thần, thái độ, ý thức tích cực, chủ động, tự giác, trách nhiệm cao cho học sinh. Ba là, bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng tự học khoa học, hiệu quả, phù hợp với học sinh. 7 * Yêu cầu phát triển năng lực tự học cho học sinh Một là, nắm vững nội dung, chương trình, các môn học, bài học. Hai là, thành thạo và vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp các phương pháp dạy học. Ba là, tìm hiểu nắm vững về học sinh. Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình, giáo viên với người thân của học sinh. Năm là, tâm huyết, trách nhiệm, yêu nghề; gần gũi, thương yêu, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra học sinh. 2. Đặc điểm học sinh lớp 4 và thực trạng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 2.1. Đặc điểm học sinh lớp 4 - Về tâm lý lứa tuổi, nhận thức: Nghiên cứu, khảo sát thực tế cho thấy, học sinh lớp 4 nhìn chung bắt đầu khởi phát suy nghĩ (chưa đầy đủ, sâu sắc) về tương lai bản thân; bước đầu thấy được trách nhiệm cá nhân đối với gia đình, nhà trường, trong nếp sống, sinh hoạt, học tập; bước đầu biết tự trọng (rất vui khi được điểm cao, được giáo viên khen, rất buồn khi bị điểm thấp,...), có tính thi đua, biết lắng nghe, phản biện, muốn khám phá cái mới (hay hỏi người lớn), muốn khẳng định và thể hiện mình (“sĩ diện” hồn nhiên) trong học tập, cũng như các hoạt động khác (thể thao, múa hát, chạy, nhảy,...). Phần lớn các em ghi nhớ, tập trung chú ý tốt, bước đầu đã có năng lực tự học, tự suy nghĩ, tìm tòi những vấn đề bản thân quan tâm. Các em cũng đã có kỹ năng giao tiếp nhất định, biết sử dụng ngôn ngữ, biểu cảm, viết, vẽ,... để trình bày, diễn đạt một vấn đề nào đó mà mình biết. Đây chính là cơ sở quan trọng để phát triển năng lực tự học của các em học sinh lớp 4, đòi hỏi giáo viên, người thân (đặc biệt là giáo viên) phải nắm vững để có phương pháp tác động sư phạm phù hợp, hiệu quả. - Về thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình: Học sinh lớp 4 có thành phần xuất thân và hoàn cảnh gia đình khác nhau. Có em được sinh gia trong gia đình có bố, mẹ là cán bộ, công chức Nhà nước; có em được sinh gia trong gia đình có bố, mẹ làm nông nghiệp, nghề tự do. Bởi vậy, giữa các em có sự khác biệt nhất định về điều kiện sống, sinh hoạt, giáo dục của người thân, dẫn đến sự không đồng đều về mức độ phát triển (thể chất, tâm lý, tư duy, nhận thức, tính tự tin, tự chủ,...). Dó đó, đòi hỏi giáo viên, người thân (đặc biệt là giáo viên) đa dạng hóa các phương pháp sư phạm, bảo đảm vừa phù hợp chung cho tất cả các em trong lớp học, vừa phù hợp với tính đặc thù của từng nhóm học sinh, thậm chí cả cá nhân học sinh. - Về phụ huynh của học sinh: Qua khảo sát thực tế, hầu hết phụ huynh học sinh lớp 4 đều quan tâm, chăm lo, dạy bảo, mong muốn các con học giỏi, ngoan ngoãn. Tuy nhiên cũng có trường hợp, phụ huynh học sinh vì nhiều lý do khác nhau chưa dành nhiều thời gian dạy bảo, kèm cặp con trong học tập hoặc thiếu kỹ năng, phương pháp giáo dục phù hợp trong dạy con học, phát triển năng lực 8 tự học cho các con (nhất là đối với các phụ huynh làm nông nghiệp, lao động tự do, đi làm xa gia đình,...). Do đó, việc kết hợp giữa nhà trường và gia đình, giáo viên và người thân học sinh cần linh hoạt, đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện đặc thù của mỗi gia đình. 2.2. Thực trạng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 2.2.1. Ưu điểm * Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Đảng, Ban Giám hiệu các trường tiểu học Khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học Tây Đằng A cho thấy: - Cấp ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác giáo dục, rèn luyện học sinh, trong đó chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy của đội ngũ giáo viên theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, say mê của các em, phát triển năng lực tự học cho các em. - Đã quán triệt sâu sắc, đầy đủ các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội, Phòng Giáo dục huyện Ba Vì có liên quan đến công tác giảng dạy của Nhà trường. Trên cơ sở các văn bản ban lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của trên, Cấp ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường đã cụ thể hóa thành Nghị quyết, kế hoạch sát với thực tế và yêu cầu nhiệm vụ của Nhà trường. Đồng thời duy trì, điều hành thực hiện đạt được nhiều kết quả tích cực. - Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phòng học, phương tiện, thiết bị dạy học, sách giáo khoa, bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. - Thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động phụ trợ, cuộc thi để tạo sân chơi, bầu không khí vui tươi, lành mạnh, môi trường văn hóa học đường hấp dẫn. Qua đó kích thích niềm đam mê, tích cực cho các em trong quá trình học tập. - Duy trì tốt mối quan hệ, sự liên lạc với phụ huynh học sinh nhằm kết hợp hiệu quả giữa Nhà trường với gia đình trong quản lý, giáo dục, dạy bảo các em, phát triển năng lực tự học cho các em. * Kết quả chấp hành thực hiện của giáo viên và học sinh - Đối với giáo viên + Về xây dựng niềm đam mê, hứng thú học tập cho học sinh Qua trực tiếp dự giờ của 04 giáo viên cho thấy: Hầu hết giáo viên trong quá trình lên lớp đã biết khéo léo động viên, khích lệ học sinh bằng những lời khen khi các em tiến bộ, khi các em hăng hái phát biểu hoặc chuẩn bị tốt bài tập ở nhà. Qua đó, tạo được sự phấn khởi, đam mê, hứng thú cho các em; xây dựng được bầu không khí thi đua, tích cực trong học tập của các em. + Về xây dựng tinh thần, thái độ, ý thức tích cực, chủ động, tự giác, trách nhiệm cao cho học sinh 9 Nhiều giáo viên đã kết hợp tốt giữa dạy chữ và dạy người; chỉ cho các em thấy được ý nghĩa của việc học tập thông qua giáo dục nhân cách, lòng tự trọng, kể chuyện về những tấm gương tiêu biểu, tạo hình mẫu đẹp đẽ, lý tưởng để các em học tập, noi theo. Bên cạnh đó, việc giao bài tập, gần gũi, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình đã giúp nhiều em có động cơ, thái độ học tập đúng đắn. + Về bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng tự học khoa học, hiệu quả, phù hợp với học sinh Để nâng cao năng lực tự học cho học sinh, nhiều giáo viên đã quan tâm chỉ bảo, hướng dẫn cặn kẽ, chi tiết để các em biết cách đọc sách giáo khoa, biết sắp xếp, phân bổ thời gian tự học hợp lý, biết sử dụng phương tiện hiện đại (máy tính, điện thoại thông minh) để tra cứu thông tin liên quan đến bài học, biết trao đổi với bạn bè trong quá trình học tập nhóm. - Đối với học sinh Qua trò chuyện trực tiếp và phát phiếu khảo sát với 40 em học sinh lớp 4. Kết quả như sau: Câu hỏi Câu trả lời của học sinh - 57% trả lời rất cần thiết và quan trọng. 1. Theo em, việc tự học có cần thiết - 23% trả lời cần thiết và quan trọng. và quan trọng không? - 20% không trả lời. 2. Ở nhà em có tự chuẩn bị bài trước - 85% trả lời em có chuẩn bị. khi đến lớp không? - 15% trả lời em không chuẩn bị. 3. Em tự học hay người thân nhắc - 45% trả lời người thân nhắc nhở. nhở em mới học? - 55% trả lời em tự học. 4. Mỗi ngày em dành bao nhiêu thời - 61% trả lời 03 giờ. gian để tự học ở nhà? - 39% trả lời 1,5 giờ. - 48% trả lời em học cùng cha hoặc mẹ. 5. Em học cùng với ai? - 52% trả lời em tự học. - 60% trả lời Toán, Tiếng Việt. 6. Em thích học những môn nào? - 40 % trả lời Tiếng Anh. - 47% trả lời trong sách giáo khoa, mạng Internet. 7. Em tìm kiếm thông tin liên quan - 24% trả lời trong sách giáo khoa, hỏi đến bài học ở đâu? anh, chị, cha, mẹ. - 29% không có câu trả lời. - 56% trả lời mất nhiều thời gian. 8. Khi tự học em gặp khó khăn gì? - 44% trả lời không khó khăn gì. - 78% trả lời mong thầy cô hướng dẫn 9. Để tự học đạt kết quả tốt, thầy cô cụ thể hơn. nên làm gì để giúp em? - 22% trả lời em không biết. Qua bảng thống kê trên cho thấy: Phần lớn học sinh bước đầu đã có hiểu biết cơ bản về ý nghĩa, tầm quan trọng của học tập nói chung, tự học nói riêng. Các em cũng mong muốn thầy cô gần gũi, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ việc tự 10 học; biết cách tra cứu, tìm kiếm thông tin trong sách giáo khoa và mạng Internet trong quá trình tự học; đã biết dành thời gian để tự học,. Điều đó phản ánh rằng: Cơ bản, các em đã có suy nghĩ đúng, đã thấy được trách nhiệm và hình thành một số kỹ năng trong tự học. Đây là yếu tố rất quan trọng và cần thiết để các nhà trường và đội ngũ giáo viên tiếp tục phát triển, nâng cao năng lực tự học cho các em học sinh trong thời gian tới. 2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân * Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm, việc phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 còn bộc lộ một số hạn chế, đó là: Thứ nhất, nhận thức của các em về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tự học chưa đồng đều, thậm chí có 23% số em được hỏi và phát phiếu trưng cầu không có câu trả lời về sự cần thiết và quan trọng của việc tự học. Thứ hai, tinh thần tích cực, tự giác trong tự học của một số em chưa cao, vẫn còn để người thân nhắc nhở (45%). Thứ ba, việc dành thời gian cho tự học của một bộ phận học sinh chưa nhiều, chưa đáp ứng yêu cầu và sự mong đợi của giáo viên (61% có 03 giờ tự học, 39% có 1,5 giờ tự học). Thứ tư, kỹ năng tự học của một số em chưa tốt, chưa biết nguồn tra cứu, tìm kiếm thông tin liên quan đến nội dung học tập (còn 29% không có câu trả lời về tìm kiếm thông tin liên quan đến bài học). * Nguyên nhân: Một là, do đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học nhất là các lớp đầu bậc tiểu học các em chưa có nhiều thói quen tự học và đọc sách. Hai là, trách nhiệm quan tâm sâu sát của một số gia đình, người thân đối với việc tự học của các em chưa cao; sự phối hợp giữa giáo viên và người thân của học sinh, nhất là về trao đổi tình hình, chia sẻ kinh nghiệm giúp các em tự học có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa thường xuyên, thực chất, hiệu quả. Ba là, học sinh có thành phần xuất thân và hoàn cảnh gia đình khác nhau. Có em được sinh gia trong gia đình có bố, mẹ là cán bộ, công chức Nhà nước; có em được sinh gia trong gia đình có bố, mẹ làm nông nghiệp, nghề tự do. Bởi vậy, giữa các em có sự khác biệt nhất định về điều kiện sống, sinh hoạt, giáo dục của người thân, dẫn đến sự không đồng đều về mức độ phát triển (thể chất, tâm lý, tư duy, nhận thức, tính tự tin, tự chủ,...). Bốn là, một số gia đình các em do điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên chưa có phương tiện hiện đại, mua sách, để các em có thể tra cứu, tìm kiếm thông tin phục vụ tự học. 3. Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 11 Trên cơ sở phân tích, làm rõ cơ sở khoa học về phát triển năng lực tự học cho học sinh; khảo sát đánh giá đặc điểm học sinh lớp 4 và thực trạng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4, sáng kiến đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 4 như sau: 3.1. Biện pháp 1: Chia sẻ đến phụ huynh một số kinh nghiệm giúp con tự học Phụ huynh có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện thói quen tự học cho các em ở nhà. Chất lượng, hiệu quả phát triển năng lực tự học cho các em phụ thuộc rất lớn vào vai trò của phụ huynh. Phụ huynh càng có nhiều kinh nghiệm, càng giúp các con phát triển năng lực tự học hiệu quả. Do đó, giáo viên cần thường xuyên và chủ động chia sẻ với phụ huynh về kinh nghiệp giúp con tự học, cụ thể là: - Trao đổi để phụ huynh hiểu tự học là một kĩ năng cần thiết bắt buộc phải có ở các con, là tiền đề để các con có thể học tốt các môn học, bài học; là điều kiện để phụ huynh yên tâm, tin tưởng ở con mình. Nếu trẻ có kỹ năng tự học tốt còn giảm áp lực về thời gian, công sức cho phụ huynh. - Hướng dẫn phụ huynh bố trí cho con một góc tập học phù hợp, đảm bảo điều kiện ngồi học, như: Ánh sáng, yên tĩnh, không bị làm phiền bởi những yếu tố khách quan, có đủ tư liệu cần thiết phục vụ các con tự học. - Trao đổi, phổ biến cho phụ huynh về cách giáo dục, động viên để các con hiểu và ý thức được việc học là vô cùng cần thiết. Mỗi ngày hãy dành khoảng 15- 20 phút ngồi học cùng con, kiểm tra, hướng dẫn con tự học. - Trao đổi để phụ huynh không gây áp lực cho con mình, không nên so sánh hơn, kém giữa con mình với con người dễ tạo cho con tính mặc cảm, thiếu tự tin. Trái lại, cần căn cứ vào khả năng thực tế của con để có phương pháp hỗ trợ, giúp đỡ con hợp lý nhất. Phải tạo cho con động lực, niềm tin, sự tự tin và thoải mái trong học tập; xây dựng và định hình tính tích cực, tự giác, say mê, hứng thú trong học tập cho con phù hợp với khả năng thực tế của các con; tránh áp đặt, quát mắng làm các con sợ hãi, chán nản, khủng hoảng,... - Trao đổi để phụ huynh có kỹ năng động viên, khen thưởng, khích lệ con kể cả khi các con không đạt thành tích, kết quả học tập như mong muốn, kỳ vọng. Điều đó sẽ tạo cho các con có một điểm tựa vững chắc, yên tâm về tinh thần, các con dần dần coi việc học tập nói chung, tự học nói riêng thành nhu cầu tất yếu, là sở thích, niềm vui và đam mê của chính bản thân mình. - Chia sẻ với phụ huynh phương pháp tra cứu, sử dụng công nghệ, những trang thông tin cần thiết giúp hướng dẫn con tự học tại nhà. 3.2. Biện pháp 2: Tạo động cơ học tập hứng thú, say mê cho học sinh Dạy học không phải là một công việc dễ dàng và việc tạo cảm hứng động cơ học tập đúng đắn cho học sinh ngày càng khó hơn. Trong nhiều năm giảng dạy bản thân tôi đã tích lũy một số kinh nghiêm nhằm tạo động cơ học tập, hứng thú say mê đi học của học sinh như sau: 12 Một là, giáo viên là người truyền cảm hứng cho học sinh bằng những việc làm cụ thể Chúng ta ai cũng yêu quý cái đẹp, luôn hướng tới cái đẹp. Nhất là học sinh tiểu học các em rất thích học với những thầy cô đẹp. Bản thân phải tạo ấn tượng tốt cho học sinh bằng cách luôn chăm chút ngoại hình khi bước vào lớp. Chú trọng ngoại hình sao cho phù hợp với môi trường sư phạm và luôn làm mới mình bằng những thay đổi nhỏ. Là giáo viên tràn đầy nhiệt huyết và năng lượng tích cực. Mỗi ngày đến lớp tràn đầy năng lượng cùng khởi động ngày mới với học sinh bằng các điệu nhảy dân vũ, các trò chơi vui nhộn, người giáo viên sẽ tạo hứng thú và truyền sự nhiệt huyết của mình cho học sinh ngay từ đầu giờ học. Như vậy bản thân Giáo viên sẽ trở nên hấp dẫn trong mắt học sinh. Tập trung chuyên môn nghiên cứu kĩ nội dung bài giảng, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Khi thiết kế bài giảng ở các slide không quá nhiều chữ màu sắc hài hoà tập trung sự chú ý của học sinh và tiện việc ghi chép những nội dung. Khai thác hiệu quả công nghệ thông tin trong bài giảng làm nổi bật thông điệp người dạy muốn truyền tải. Say mê giảng dạy lời giảng rõ ràng truyền cảm, ánh mắt say mê trìu mến kết hợp cùng với ngôn ngữ hình thể trong dạy học. Chính sự nhiệt tình chân thành của giáo viên chắc chắn sẽ tạo nên hiệu quả rất lớn đối với học sinh. Ngay cả khi các em không hứng thú với môn học thì cách cư xử của giáo viên cũng có thể làm các em thích thú yêu thích đến lớp. Hai là, xây dựng động cơ học tập bên trong cho học sinh Ở bậc tiểu học, động cơ học tập ban đầu là những động cơ bên ngoài. Các em học tốt vì thích được thầy cô khen, bố mẹ thưởng, bạn bè yêu mến, Nếu học không tốt sẽ bị chê trách và cảm thấy xấu hổ. Bởi vậy, giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành động cơ học tập cho học sinh, cần giúp các em biến động cơ bên ngoài thành động cơ bên trong: “Em đến trường để học được những điều thú vị”; “Em đến trường để học tập và trải nghiệm”; “Em đến trường học để lớn lên trở thành phi công, cô giáo, bác sĩ, bộ đội, công an,”. Giáo viên là người truyền cảm hứng cho các em, lôi cuốn các em đến trường. Thông qua các môn học, bài học, giáo viên phải hình thành động cơ học tập bên trong mỗi học sinh, làm cho học sinh hiểu: Vì sao em phải đi học? Em học để làm gì? Học như thế nào? Từ đó, thôi thúc các em phấn khởi, thi đua, nỗ lực học tập vì chính bản thân mình. 3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn thói quen đọc sách và tìm kiếm tư liệu phù hợp Sách chứa đựng nguồn tri thức vô hạn. Đọc sách giúp các em học sinh rèn luyện trí nhớ, chắp cánh ước mơ, phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn từ. Những điều tưởng chừng nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống như cách nói lời cảm ơn, xin lỗi cũng được truyền tải nhẹ nhàng và tinh tế qua những trang sách. Sách bổ trợ cho việc giáo dục về nhận thức và ý thức cho học sinh. 13 Hiện nay có rất nhiều sách tham khảo cho các môn học. Nhiều vị phụ huynh thường mua cho con nhiều loại sách, nhưng lại không biết loại sách nào phù hợp với lứa tuổi học sinh. Đầu năm học tôi giới thiệu đến các em một số sách tham khảo các em nên đọc chẳng hạn: - Giúp em học giỏi Từ và câu 4 (Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội) - Giúp em học tốt Tiếng Việt 4 (Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội) - Tập làm văn lớp 4 (Nhà xuất bản Đà Nẵng) - 10 vạn câu hỏi vì sao ? (Nhà xuất bản Lao Động) - Danh nhân thế giới (Nhà xuất bản Kim Đồng) - Bộ sách: Nhật Ký Trưởng Thành Của Đứa Trẻ Ngoan (Nhà xuất bản Dân Trí) - Các áp hướng dẫn: https://loigiaihay.com https://vietjack.com/index.jsp 3.4. Biện pháp 4: Hướng dẫn tự học ở nhà thông qua các mẫu phiếu Dạy học lấy người học là trung tâm trong một giờ học dù giáo viên có chuẩn bị tốt đến đâu, giảng hay bao nhiêu nữa nhưng học sinh không có sự chuẩn bị trước thì tiết dạy không thể thành công được. Thông thường thì cuối mỗi tiết dạy giáo viên sẽ dặn các em về nhà xem lại bài và chuẩn bị bài mới. Với những học sinh học tốt thì dễ dàng nhưng với các em chậm sẽ không biết chuẩn bị gì, tìm thông tin như thế nào và có nhiều môn học làm sao để các em nhớ hết. Vậy nên giao nhiệm vụ cho các em chuẩn bị bài là vô cùng quan trọng cho quá trình tự học của các em và quyết định sự thành công của tiết dạy. Khi công nghệ thông tin phát triển việc sử dụng các nhóm zalo vô cùng thuận lợi cho việc hướng dẫn các em tự học. Qua nhóm zalo phụ huynh cũng theo sát được việc học của con em mình cùng giúp đỡ các em trong quá trình tự học. Giúp học sinh chuẩn bị tốt tư liệu để tham gia hoạt động học tập, giáo viên chủ động về thời gian hoàn thành tốt tiết dạy trên lớp. Kích thích học sinh chuẩn bị bài mới ở nhà một cách hiệu quả bằng những định hướng cụ thể. Hỗ trợ học sinh tìm kiếm và khai thác thông tin tiết kiệm thời gian ở lớp. Rèn năng lực tự học tự nghiên cứu cho học sinh hay nhóm học sinh. Thông qua phiếu hướng dẫn tự học, các em sẽ biết mình phải chuẩn bị bài gì, cụ thể như thế nào để đầy đủ tư liệu cho các môn học. Học sinh chuẩn bị tốt 14 bài sẽ có tư liệu phong phú khi thảo luận trao đổi trên lớp. Phụ huynh biết bài học của con em mình có thể giúp đỡ những em còn chậm chưa theo kịp bạn. Sau khi soạn Kế hoạch bài dạy xong tuần nào tôi làm phiếu hướng dẫn tự học tuần đó và gửi lên Zalo nhóm lớp vào chiều chủ nhật của tuần trước cho học sinh và phụ huynh biết bài học của tuần sau các em chuẩn bị theo từng ngày cụ thể. Đây là phiếu tự học đối với những bài học đơn giản học sinh tự làm ở nhà trên phiếu hướng dẫn. Phân môn Tập làm văn giáo viên đặc biệt chú ý thiết kế chi tiết phiếu hướng dẫn quan sát nhằm định hướng chi tiết cụ thể cho học sinh trong các bài văn miêu tả. Riêng môn Toán cuối mỗi tuần, mỗi chương giáo viên cho các em làm Phiếu bài tập để hệ thống lại kiến thức của tuần đó, chương đó. 3.5. Biện pháp 5: Hướng dẫn tự học ở nhà qua Padlet Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, việc sử dụng padlet cho học sinh trình bày thông tin dạng hình ảnh, clip. Ở nhà, các em tìm kiếm và chia sẻ lên padlet. Giờ học trên lớp, các em chia sẻ, nhận xét, kết luận. Nguồn thông tin vô cùng phong phú, tiết kiệm thời gian và tiền bạc (trước kia các em phải tìm hình ảnh cắt, rồi trình bày theo từng nhóm). Vì vậy, tôi đã tạo các padlet về nội dung cần tìm hiểu, rồi gửi link cho các em tìm hiểu và chia sẻ. Padlet phù hợp với môn Khoa học - Lịch sử - Địa lí lớp 4. Nó giúp các em chia sẻ thông tin hình ảnh clip sưu tầm, clip các em tự thực hiện các thí nghiệm đơn giản, 15 3.6 . Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh tự luyện qua phần mềm Azota Giúp học sinh tự đánh giá kết quả của mình cuối mỗi chương, mỗi chủ đề giáo viên thiết kế các bài tập nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức cũng như phát triển tư duy cho học sinh hoàn thành tốt. Bài kiểm tra được các em làm trực tuyến trên phần mềm Azota. Ưu điểm là không tạo áp lực làm bài cho học sinh việc học rất nhẹ nhàng. Tăng cường kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin cho cả giáo viên và học sinh. Số lượng câu hỏi phong phú các em xem ngay bài làm của mình có thể làm đi làm lại nhiều lần giúp các em khắc sâu kiến thức. Giáo viên xây dựng cho mình một ngân hàng đề kiểm tra phong phú về nội dung và hình thức. Không chỉ áp dụng trước các kì kiểm tra định kì mà còn sử dụng cho các bài ôn cuối tuần mà không cần dùng đến phiếu bài tập trên giấy. Một số link tự luyện: https://azota.vn/de-thi/vzvlwt https://azota.vn/de- thi/9oyr3c https://azota.vn/de-thi/9xwwtp 16 3.7. Biện pháp 7: Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà thông qua các clip Có những bài tập thực hành mất nhiều thời gian ở lớp đôi khi các em không hoàn thành kịp, về nhà các em tiếp tục hoàn thành. Chính các clip giúp các em hoàn thành tốt nội dung bài học và phụ huynh cũng dựa vào đó để hướng dẫn các em.Trường hợp các em nghỉ học chính các clip đã giúp các em xem được bài giảng ở lớp và hoàn thành bài học của mình không bị bỏ lỡ bài học. Cuộc thi Thiết kế bài giảng điện tử đã giúp chúng giáo viên xây dựng nguồn tư liệu phong phú sát với nội dung bài học phù hợp với địa phương. 17 Song song với đó giáo viên còn tiến hành quay các clip hướng dẫn học sinh trải nghiệm, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh,.. Nguồn tư liệu phong phú giúp các em thực hành các hoạt động trải nghiệm, khéo tay hay làm, sản phẩm tái chế. Đây là đường link hướng dẫn làm Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên (áp dụng cho môn Khoa học bài Vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên: https://youtu.be/_f4R6ngjQrM Sản phẩm của học sinh 18 Các sản phẩm trải nghiệm tái chế của học sinh 3.8. Biện pháp 8. Hướng dẫn học sinh tự học ở trên lớp Trong dạy học, giáo viên đóng vai trò là người tổ chức hướng dẫn học sinh tìm tòi và chiếm lĩnh tri thức. Học sinh tự mình tham gia các hoạt động học tập để nắm kiến thức và phát triển các kĩ năng. Tự học trên lớp cần tiến hành theo các bước sau: Bước chuẩn bị:Giáo viên giao việc cụ thể cho từng học sinh thông qua phiếu giao việc, các đường link, cho học sinh chuẩn bị ở nhà Tiến trình dạy học trên lớp: Bước 1: Kiểm tra nội dung chuẩn bị ở nhà của học sinh Bước 2: Chia nhóm, mỗi nhóm và hướng dẫn học sinh thảo luận các nội dung trong bài học Bước 3: Từng nhóm lần lượt cử đại diện trình bày vấn đề trong nội dung thảo luận. Các nhóm khác đặt câu hỏi, vấn đề thắc mắc yêu cầu nhóm phát biểu hay nhóm khác trả lời, tranh luận. Bước 4:. Trong quá trình thảo luận, giáo viên dẫn dắt, định hướng để học sinh lĩnh hội kiến thức. Cuối cùng, giáo viên tổng kết, bổ sung, chính xác hoá những kết luận, hoàn chỉnh kiến thức bài học cho học sinh, rút kinh nghiệm về cách học và hướng dẫn học sinh tự kiểm tra. Trong quá trình thảo luận nhóm, giáo viên quan sát giúp đỡ khi học sinh gặp khó khăn. Giúp các em chưa mạnh dạn nêu được ý kiến của mình và đưa ra lập luận để bảo vệ, tránh trường hợp chỉ những em học tốt nêu ý kiến trong nhóm. 19 Động viên khuyến khích những ý tưởng mới, những nhóm thể hiện tốt và định hướng giúp đỡ những nhóm còn gặp khó khăn. Ví dụ minh họa 20 3.9. Biện pháp 9: Hướng dẫn học sinh ghi chép vở tự học Trong quá trình tự học, học sinh cần phải ghi chép những kiến thực đã tìm hiểu và những điều thắc mắc cần sự giải đáp của giáo viên. Thông thường các em chưa chú trọng việc ghi chép đa số các em ghi vào nháp xong một thời gian có thể sẽ không còn tư liệu cho môn học. Vì vậy ngay từ đầu năm học giáo viên đã yêu cầu các em chuẩn bị cho mình một quyển vở tự học và hướng dẫn các em cách ghi vở tự học. Vở tự học là một quyển vở ghi chung cho tất cả các môn học được sử dụng cả ở nhà và giờ tự học ở lớp. Bởi vì học sinh tiểu học còn nhỏ không thể ghi mỗi môn một quyển được. Ghi chép tự học ngắn gọn, những ý trả lời chính hoặc những vần đề chưa hiểu cần sự giúp đỡ của giáo viên. 3.10. Biện pháp 10: Động viên, khen ngợi, nêu gương học sinh điển hình Chúng ta ai cũng thích khen và nhất là đối với học sinh tiểu học khen ngợi là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với học sinh Tiểu học. Lời khen giúp các em tạo động lực và cải thiện kết quả học tập. Hiện nay, cả giáo viên và phụ huynh đều đánh giá cao sự khích lệ, động viên học sinh theo Thông tư số 27/2020/TT- BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc động viên, khích lệ học sinh kịp thời sẽ giúp học sinh tự tin, nhân cách của học sinh ngày càng được kiện toàn, hành vi tích cực sẽ được phát huy. Ngược lại, phê bình, trách mắng, chỉ trích làm cho lòng tự trọng của trẻ bị tổn thương. Đối với những em chậm tiến bộ, thường rụt rè, tự ti, thì giáo viên cần chú ý nhắc nhở, gọi các em trả lời, lên bảng làm bài hoặc gợi ý để các em tìm ra lỗi sai trong bài làm và sửa lại. Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là giáo viên nên tuyên dương ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn. Đối với những em học tốt phải có những biểu hiện vượt bậc, có sự tiến bộ
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_phat_trien_nang_luc_tu_hoc_cho_hoc_sin.pdf

