SKKN Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5-6 tuổi sẵn sàng bước vào lớp 1 (GV: Nguyễn Thị Thu Phương - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo

- Ngày áp dụng sáng kiến: bắt đầu từ Tháng 9/2022.

- Mô tả bản chất của sáng kiến:

+ Một số biện pháp để khảo sát năng lực và phân nhóm trẻ cho giáo giáo viên trong việc hướng dẫn phụ huynh chuẩn bị hành trang cho trẻ sẵn sàng bước vào lớp 1.

+ Nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên qua các buổi bồi dưỡng sinh hoạt chuyên môn của tổ, của trường để có được những phương pháp hướng dẫn trẻ, chăm sóc giáo dục trẻ sáng tạo hơn, cuốn hút trẻ hơn.

+ Đưa ra những biện pháp, hình thức, phương pháp chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng đi học lớp 1.Giúp trẻ tin tưởng rằng “mình có thể học được”,hỗ trợ, hướng dẫn cha mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, và dạy con học tại nhà hiệu quả .

+ Phối hợp, tăng cường sự trao đổi, liên hệ với phụ huynh trong công tác chăm sóc,giáo dục trẻ,giúp trẻ chuẩn bị đầy đủ kiến thức, hành trang sẵn sàng bước vào lớp 1.

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

docx 33 trang Bình An 31/03/2026 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5-6 tuổi sẵn sàng bước vào lớp 1 (GV: Nguyễn Thị Thu Phương - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5-6 tuổi sẵn sàng bước vào lớp 1 (GV: Nguyễn Thị Thu Phương - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)

SKKN Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5-6 tuổi sẵn sàng bước vào lớp 1 (GV: Nguyễn Thị Thu Phương - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2022-2023)
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ
 TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A
 MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHUẨN BỊ TÂM THẾ 
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI SẴN SÀNG BƯỚC VÀO LỚP 1
 Lĩnh vực/Môn: Giáo dục mẫu giáo
 Cấp học: Mầm non
 Tên tác giả : Nguyễn Thị Thu Phương
 Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại A
 Chức vụ : Giáo viên
 Năm học: 2022 – 2023 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi:
 - Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN trường MN Ba Trại A
 - Hội đồng xét đánh giá công nhận SKKN ngành GD&ĐT huyện Ba Vì. 
 Trình độ 
 Ngày tháng Chức 
 Họ, tên Nơi công tác chuyên Tên sáng kiến
 năm sinh danh
 môn
 Một số biện pháp 
 Nguyễn 
 MN Ba Trại Giáo ĐH chuẩn bị tâm thế cho 
 Thị Thu 25/05/1989
 A viên sư phạm trẻ 5- 6 tuổi sẵn sàng 
 Phương 
 bước vào lớp 1
 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo 
 - Ngày áp dụng sáng kiến: bắt đầu từ Tháng 9/2022.
 - Mô tả bản chất của sáng kiến:
 + Một số biện pháp để khảo sát năng lực và phân nhóm trẻ cho giáo giáo 
viên trong việc hướng dẫn phụ huynh chuẩn bị hành trang cho trẻ sẵn sàng bước 
vào lớp 1.
 + Nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên qua các buổi bồi dưỡng sinh 
hoạt chuyên môn của tổ, của trường để có được những phương pháp hướng dẫn 
trẻ, chăm sóc giáo dục trẻ sáng tạo hơn, cuốn hút trẻ hơn.
 + Đưa ra những biện pháp, hình thức, phương pháp chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng 
đi học lớp 1.Giúp trẻ tin tưởng rằng “mình có thể học được”,hỗ trợ, hướng dẫn cha 
mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, và dạy con học tại nhà hiệu quả .
 + Phối hợp, tăng cường sự trao đổi, liên hệ với phụ huynh trong công tác 
chăm sóc,giáo dục trẻ,giúp trẻ chuẩn bị đầy đủ kiến thức, hành trang sẵn sàng 
bước vào lớp 1.
 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật 
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
 Ba Trại, ngày 14 tháng 04 năm 2023
 Người nộp đơn
 (Ký và ghi rõ họ tên)
 Nguyễn Thị Thu Phương UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 TRƯỜNG MN BA TRẠI A Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ
 - Họ tên tác giả: Nguyễn Thị Thu Phương
 - Tên đề tài: Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5- 6 tuổi sẵn 
 sàng bước vào lớp 1 
 - Lĩnh vực: Giáo dục mẫu giáo.
 Điểm 
 Điểm 
STT Tiêu chuẩn tối 
 đạt
 đa
 1 Sáng kiến có tính mới
 1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 30
 1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 20
 1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 10
 1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây 0
Nhận xét:
 2 Sáng kiến có tính áp dụng
 2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 30
 2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị 20
 có cùng điều kiện
 2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 10
 2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị 0
Nhận xét:
 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 30
 3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 20
 3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị 10
 3.4 Không có hiệu quả cụ thể 0
Nhận xét:
 4 Điểm trình bày
 4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 10
 4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý 5
Nhận xét:
 Tổng cộng: Đánh giá: □ Đạt (>70 điểm) □ Không đạt
 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ
 Hoàng Thị Nhân MỤC LỤC
A. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
1.1. Cơ sở lý luận: .................................................................................................1
1.2. Cơ sở thực tiễn: ..............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................2
4. Đối tượng khảo sát và thực nghiệm...................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................2
6. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu......................................................................2
B. PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT 
VẤN ĐỀ................................................................................................................2
1. Cơ sở lý luận. ....................................................................................................2
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. ...................................................................3
2.1. Đặc điểm tình hình:........................................................................................3
2.2. Khảo sát thực trạng........................................................................................4
3. Các biện pháp thực hiện. ...................................................................................4
4. Mô tả, phân tích các biện pháp..........................................................................5
4.1. Biện pháp 1: Chuẩn bị về thể lực. ..................................................................5
4.2. Biện pháp 2: Chuẩn bị về mặt phát triển trí tuệ..............................................6
4.3. Biện pháp 3: Chuẩn bị về ngôn ngữ..................................................................8
4.4. Biện pháp 4: Chuẩn bị về tình cảm xã hội. ....................................................9
4.5. Biện pháp 5: Chuẩn bị một số kỹ năng cần thiết của hoạt động học tập và tinh 
thần. .....................................................................................................................11
4.6. Biện pháp 6: Thực hiện tốt các mục tiêu trong bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 
tuổi.......................................................................................................................12
4.7. Biện pháp 7: Làm công tác tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh học 
sinh trong việc chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào lớp 1........................................13
5. Kết quả đạt được. ............................................................................................14
C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. ..............................14
1. Kết luận. ..........................................................................................................14
2. Kiến nghị. ........................................................................................................15
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO. ..........................................................................17
E. CÁC MINH CHỨNG. 1
 A. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
 Tên đề tài: “Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5- 6 tuổi sẵn sàng 
bước vào lớp 1”
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Cơ sở lý luận:
 Bác Hồ của chúng ta đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành
 Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”
 Quả đúng vậy trẻ em trông như một búp non nếu được chăm sóc chu đáo 
thì chắc chắn chồi non sẽ phát triển tốt. Cũng như con người nếu được chăm sóc 
có sự đầu tư ngay từ nhỏ thì trẻ sẽ dần dần lớn lên và phát triển toàn diện cả về 
“đức, trí, lao, thể, mỹ”.
 Với lứa tuổi mầm non, đối với trẻ mẫu giáo lớn sắp bước vào lớp 1, chuẩn 
bị bước sang một bước ngoặt vô cùng quan trọng đối với trẻ, vì trẻ đang 
sống trong một môi trường được sự chăm lo chu đáo của các cô giáo mầm non 
giống như người mẹ thứ hai. Chuyển sang giai đoạn hoàn toàn mới một cách đột 
ngột trẻ sẽ khó thích nghi. Chế độ học tập đã có sắp xếp, có hoạch định, tất cả 
mọi hoạt động đều dưới sự chỉ đạo của thầy cô. Thích nghi hay không? Thất bại 
hay thành công là từ bước đầu ở lớp 1, lớp nền tảng của bậc tiểu học, lần đầu tiên 
trẻ đến trường tiểu học có nhiều ảnh hưởng rất lớn về tâm lý của trẻ, làm thế nào 
để vượt qua giai đoạn này? Và giúp trẻ có thể hoà nhập với một môi trường mới 
của bậc tiểu học. Vì thế cô giáo Mầm non phải tạo cho trẻ một tâm thế vững vàng 
để trẻ sẵn sàng bước vào lớp 1 một cách thoải mái và tự tin, nhằm giúp trẻ tiếp 
thu kiến thức tốt ở bậc tiểu học.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
 Háo hức, hồi hộp, lo lắng cho bước khởi đầu không chỉ là tâm trạng của 
trẻ nhỏ mà còn là mối quan tâm chung của cha mẹ có con chuẩn bị vào" Đại học 
chữ to". Tuy nhiên, "hành trang" cho trẻ vào lớp 1 nên "nhỏ gọn", để phù hợp với 
sức vóc của trẻ mới qua lớp mầm non. Những bài học đầu tiên của trẻ ở trường 
mầm non là qua các bài đồng dao, bài thơ, bài hát có tiết tấu vui tươi, ngộ nghĩnh, 
tình cảm, bé thích và nhớ nhanh. Trường mầm non là nơi trẻ làm quen với ngôn 
ngữ, văn học,nghệ thuật.Ở trường mầm non, trẻ được học cách hoà đồng với các 
bạn, biết giữ yên lặng trong giờ ngủ trưa, biết cảm ơn, xin lỗi... Những bài học về 
nề nếp sinh hoạt, sự tự lập và mối quan hệ trong môi trường tập thể sẽ góp phần 
hình thành nhân cách của trẻ.
 Năm học 2022 - 2023 tôi được phân công dạy lớp 5 tuổi. Thông qua sự 
tương tác giữa phụ huynh và giáo viên trên lớp, tôi nhận thấy đa số phụ huynh 2
mới đầu năm lớp mẫu giáo lớn đã nôn nóng cho con học chữ mà bất chấp nguyên 
tắc đòi hỏi sự phù hợp giữa nội dung, phương pháp dạy học với sự phát triển tâm 
sinh lý ở lứa tuổi này, ép trẻ học quá sớm vô tình chúng ta làm mất đi sự tập trung 
chú ý và hứng thú học tập của trẻ sau này, đồng thời làm giảm đi sự phát triển của 
bộ chuẩn trẻ 5 tuổi mà ở lớp mẫu giáo lớn trẻ phải hoàn thiện mới vững vàng bước 
lên lớp 1. Mặc khác không ít những phụ huynh bận công việc lại phó mặc con mình 
cho cô dẫn đến việc không tạo ra được sự thống nhất trong công tác chăm sóc giáo 
dục trẻ, dẫn đến hiệu quả chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 không cao và khi vào lớp 1 trẻ 
rất bỡ ngỡ. Chính vì lý do ấy năm học 2022 - 2023 tôi đã chọn đề tài: “Một số biện 
pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5 - 6 tuổi sẵn sàng bước vào lớp 1”.
2. Mục đích nghiên cứu.
 Tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5- 6 tuổi 
sẵn sàng bước vào lớp 1” với mục đích nhằm giúp trẻ có một tâm thế vững 
vàng bước vào lớp 1. Trẻ cần được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học hay còn gọi là 
“độ chín mùi” một cách hoàn thiện nhất.
3. Đối tượng nghiên cứu.
 Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5 - 6 tuổi sẵn sàng bước vào lớp 1.
4. Đối tượng khảo sát và thực nghiệm.
 Trẻ lớp 5 tuổi A2 tại Trường mầm non Ba Trại A.
5. Phương pháp nghiên cứu.
 - Phương pháp điều tra.
 - Phương pháp phân tích.
 - Phương pháp tổng hợp tài liệu và khảo sát thực tiễn
 - Phương pháp thu thập thông tin, so sánh và phân tích đánh giá.
6. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 5 năm 2023
 B. PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT 
 VẤN ĐỀ.
1. Cơ sở lý luận.
 Trong mỗi giai đoạn phát triển trẻ đều mang những đặc điểm đặc trưng. 
Việc chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là một sự chuyển biến mang 
tính nhảy vọt có sự biến đổi cả về chất và lượng. Sự phát triển ở một giai đoạn 
nhất định vừa là kết quả của giai đoạn trước đó vừa là tiền đề cho bước phát triển 
của giai đoạn tiếp theo. Nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn này cũng chính là 
sự chuẩn bị tốt cho giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên không phải trẻ em nào cũng 
dễ dàng thích nghi được vào bước ngoặc này là một sự kiện quan trọng khiến 3
các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục cần phải quan tâm. Một mặc là để giúp trẻ 
hoàn thiện những thành tựu trong suốt thời kỳ mẫu giáo, mặc khác tích cực 
chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để thích nghi với cuộc sống ở trường phổ thông 
với hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
 2.1. Đặc điểm tình hình:
 * Đặc điểm tình hình lớp:
 Thực trạng điều tra ban đầu 
 - Trong thực tế ở trường Mầm Non để thực hiện chương trình giáo dục mầm 
non mới thì hầu như các giáo viên đang còn bị vướng mắc giữa cái mới và cái cũ, 
chưa thiết kế cho mình được tiết dạy thực sự đổi mới và khoa học mà họ đang còn 
bắt chước nhau. Do đó họ đang còn lúng túng trong cách lựa chọn các hình thức 
cho tiết học, vì vậy mà tiết học còn nhiều hạn chế, có thể nói nội dung của tiết học 
còn nghèo nàn, đồ dùng học tập chưa sinh động, giờ học trở nên khô khan, cứng 
nhắc, do đó kiến thức, kỹ năng mà trẻ thu được trên tiết học còn chưa đáp ứng 
được với yêu cầu kiến thức cô đặt ra cho trẻ.
 - Trong năm học 2022 - 2023 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 
mẫu giáo 5 tuổi A2, Tổng số trẻ lớp tôi là 30 cháu trong đó có 14 cháu nam, 16 
cháu nữ, cháu là con em dân tộc thiểu số.
 - Hoàn cảnh gia đình các cháu đa số là làm nông nghiệp, trình độ còn hạn 
chế, công việc bận rộn, ít có điều kiện quan tâm đến các cháu. do vậy khả năng 
nhận thức của trẻ không đồng đều, nhiều trẻ trong lớp còn rụt rè, nhút nhát, 
chưa mạnh dạn trong giao tiếp. Với đặc điểm tình hình như vậy khi thực hiện đề 
tài này tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn sau:
 * Thuận lợi: 
 - Ban giám hiệu luôn sát sao chỉ đạo giáo viên về chuyên môn. bồi dưỡng 
phương pháp, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo mọi 
điều kiện giúp tôi thực hiện tốt chương trình giáo dục mầm non mới.
 - Bản thân được tham dự những buổi chuyên đề do trường, huyện tổ chức.
 - Giáo viên dự giờ, trao đổi, rút kinh nghiệm, để có tiết dạy tốt hơn
 - Đa số phụ huynh luôn quan tâm tới việc học tập của trẻ nên tích cực phối 
hợp với giáo viên rèn trẻ cũng như đóng góp cho lớp nhiều nguyên vật liệu làm 
đồ dùng đồ chơi, phục vụ cho các hoạt động học.
 - Trẻ đều đã qua mẫu giáo nhỡ nên việc rèn nề nếp học tập gặp thuận lợi, có 
khả năng tiếp thu kiến thức do cô truyền đạt. 4
 - Mặt khác bản thân tôi rất yêu nghề mến trẻ, không ngại khó, tìm tòi học 
hỏi những gì tốt đẹp nhất để truyền thụ cho các cháu, với mong muốn rằng các 
cháu sẽ có một hành trang tốt bước vào trường tiểu học
 * Khó khăn:
 - Một số phụ huynh còn chưa quan tâm tới con em mình, chưa tích cực phối 
hợp với giáo viên rèn trẻ ở nhà.
 - Trẻ nhận thức không đồng đều, nhiều cháu nhận thức còn chậm.
 - Một số trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, tự tin khi tham gia vào trò chuyện, 
một số trẻ lại quá hiếu động nên chưa chú ý vào sự hướng dẫn của cô. Khiến cho 
việc tiếp thu kiến thức chưa đạt kết quả cao.
 - Phụ huynh đa số mong trẻ viết được, đọc được để phụ huynh an tâm vì 
luôn nghĩ đọc được, viết tốt thì mới vào lớp 1 học tốt được.
 2.2. Khảo sát thực trạng.
 Từ những thuận lợi và khó khăn nêu trên, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 
trên trẻ trước khi đưa ra những biện pháp mới.
 Với mong muốn: chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5- 6 tuổi sẵn sàng bước vào lớp 1, 
tôi đã dành nhiều thời gian khảo sát thực tế trên trẻ và nhận thấy ở trẻ: chất lượng 
trẻ không đồng đều. Với trẻ tôi khảo sát theo những nội dung sau:
 Bảng 1: Khảo sát thực trạng đầu năm (Tổng số trẻ: 30 trẻ).
 Đạt Chưa đạt
 Nội dung khảo Tổng số 
 STT Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ 
 sát trẻ
 trẻ (%) trẻ (%)
 1 Thể chất 30 12 40% 18 60%
 2 Nhận thức 30 10 33% 20 67%
 3 Tâm lý 30 13 43% 17 57%
 4 Kỹ năng giao tiếp 30 14 47% 16 53%
3. Các biện pháp thực hiện.
 Dựa vào số liệu điều tra trên tôi đưa ra một số biện pháp sau:
 - Biện pháp 1: Chuẩn bị về thể lực.
 - Biện pháp 2: Chuẩn bị về mặt phát triển trí tuệ.
 - Biện pháp 3: Chuẩn bị về ngôn ngữ.
 - Biện pháp 4: Chuẩn bị về tình cảm xã hội
 - Biện pháp 5: Chuẩn bị một số kỹ năng cần thiết của hoạt động học tập và 
tinh thần.
 - Biện pháp 6: Thực hiện tốt các mục tiêu trong bộ chuẩn phát triển trẻ em 
5 tuổi.
 - Biện pháp 7: Phối hợp với phụ huynh để chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1. 5
4. Mô tả, phân tích các biện pháp.
 Như chúng ta cũng biết, tuổi mầm non là bậc thang đầu tiên, làm nền móng 
cho những bậc thang tiếp theo. Vì vậy trẻ cần được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi 
học nhằm giúp trẻ tự tin bước vào lớp một. Chính vì lẽ đó để chuẩn bị cho trẻ vào 
lớp Một cần quan tâm phát triển toàn diện: thể chất, trí tuệ, tình cảm – xã hội, 
ngôn ngữ và một số kỹ năng cần thiết cho hoạt động học. Việc chuẩn bị tâm thế 
tốt cho trẻ mẫu giáo lớn vào lớp Một là hết sức cần thiết vì đó là một trong những 
mục tiêu của ngành học mầm non. Tại ngôi trường mầm non Ba Trại A, đặc biệt 
là độ tuổi mẫu giáo lớn các con đã được chuẩn bị rất tốt tâm thế để có thế tự tin 
vững bước vào lớp Một.
 4.1. Biện pháp 1: Chuẩn bị về thể lực. 
 Thể lực phát triển tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những tư chất, những yếu 
tố sinh học với tư cách là tiền đề vật chất của sự phát triển nhân cách có cơ hội 
phát huy tác dụng. Trẻ có thể lực tốt, khỏe mạnh, tăng cân đều, da dẻ hồng hào 
tất cả các yếu tố này giúp trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động học tập và vui 
chơi đạt kết quả tốt nhất. 
 Chuẩn bị về mặt thể lực cho trẻ không đơn thuần là sự chuẩn bị về lượng 
phát triển chiều cao và trọng lượng cơ thể mà còn là sự chuẩn bị về chất cụ thể là 
năng lực làm việc bền bỉ, dẻo dai, có khả năng chống lại sự mệt mỏi của thần kinh, 
cơ bắp, độ khéo léo của bàn tay, tinh nhạy của các giác quanĐể có được các 
phẩm chất đó, cô giáo kết hợp với phụ huynh cần tạo một chế độ sinh hoạt, ăn 
uống, nghỉ ngơi, luyện tậpcho trẻ một cách khoa học và hợp lý cả về thời gian 
cũng như phù hợp với đặc điểm phát triển riêng của từng trẻ.
 Giáo viên thực hiện đúng chế độ sinh hoạt trong một ngày từ đón trẻ đến trả 
trẻ: Thường xuyên tổ chức cho trẻ tập thể dục buổi sáng, tập đúng, đủ các động tác.
 Cho trẻ hoạt động ngoài trời: giáo viên cần tổ chức một cách khoa học nội 
dung bám sát theo từng chủ đề, cho trẻ chơi các trò chơi vận động thay đổi phù 
hợp độ tuổi, phù hợp chủ đề đang thực hiện. Tổ chức tốt các hoạt động chơi và 
hoạt động học, cho trẻ ngủ đúng giờ, ngủ sâu và đủ giấc. Quan tâm đến những trẻ 
khó ngủ, hay nói chuyện trong giờ ngủ
 Ví dụ: Lớp tôi có cháu Gia Hưng, cháu Hằng rất khó ngủ, ở nhà phụ huynh 
bảo 2
 Cháu không bao giờ ngủ trưa đã là thói quen của cháu rồi. Đến lớp giờ 
ngủ cháu hay trằn trọc, lăn qua lăn lại không ngủ, tôi luôn quan tâm, đến gần nằm 
cạnh trẻ vỗ về xoa mông cháu như vậy cháu sẽ ngủ ngay, làm vài ngày như vậy 
trẻ sẽ có thói quen ngủ trưa rất tốt, phụ huynh rất hài lòng.Khuyến khích, động 
viên trẻ tự xúc ăn, ăn hết xuất, ăn không quá lâu. Những trẻ ăn quá chậm tôi có 6
biện pháp động viên trẻ như: tuyên dương vào cuối ngày nếu ngày đó trẻ ăn có 
nhanh hơn một chút, hoặc con ăn nhanh chiều cô cho cắm cờ, hoa bé ngoan. Mọi 
lúc mọi nơi tôi đều khuyến khích trẻ: con ăn nhiều sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, 
thông minh học giỏi. Đặc biệt chú ý tư thế ngồi học của trẻ. Cần chú ý quan tâm 
đến những cháu ít vận động, chưa tham gia tích cực vào hoạt động. 
 Các con có một chế độ sinh hoạt, ăn uống, nghỉ ngơi, luyện tập một cách 
khoa học và trẻ có thể tiếp nhận nguồn dinh dưỡng tối đa một cách hứng thú nhất. 
Những trẻ ăn chậm cô quan tâm, động viên, khuyến khích trẻ ăn hết suất.
 - Tổ Chức bữa Bữa ănbufee tại trường khiến trẻ rất hứng thú và nhanh chóng 
ăn hết xuất ăn.
 - Giờ ngủ của trẻ được đảm bảo yên tĩnh, trẻ ngủ ngon giấc.
 - Trẻ được tăng cường tính tự lập trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân.
 - Luyện tập thường xuyên khả năng vận động thô: chạy sức bền, trèo lên 
xuống thang, ném bóng, đá bóng
 - Trong hoạt động học thể chất cô đưa bộ môn yoga vào hoạt động giúp trẻ 
có tính dẻo dai, bền bỉ và kiên trì hơn. 
 - Khi tham gia hoạt động ngoài trời cô cho trẻ giao lưu với các lớp, giúp trẻ 
biết đoàn kết, kiên trì, giúp đỡ, trẻ mạnh dạn, tự tin hơn 
 - Phát triển vận động tinh, sự khéo léo của đôi bàn tay, các giác quan, tự xỏ 
quai giày, tự cài nút áo, tự xếp quần áo sau khi thay đồ. Các thói quen này rất có 
ích cho trẻ hình thành tính độc lập, không phụ thuộc, ỷ lại vào người khác.
 -Trẻ được phân công làm công việc trực nhật: Sắp xếp bàn ghế, chia thìa vào 
khay trong giờ ăn, phơi khăn, lau bàn . Thông qua hành động trẻ còn học được 
một số quy luật trong phép đếm 1:1. Ví dụ: có 6 bạn thì sếp 6 cái thìa.
 - Áp dụng Phương pháp STEAM vào các hoạt động, giúp trẻ có sự khoé 
léo, sáng tạo hơn trong giờ vui chơi ngoài trời hay giờ tạo hình.
 Tôi thấy rằng: Làm được tất cả các điều trên là ta đã chuẩn bị cho trẻ tốt 
về mặt thể lực. Trẻ được vận động hợp lý, ăn ngủ tốt sẽ có một thể lực tốt, trẻ 
khỏe mạnh, tăng cân đều, vận động tốt, ít ốm đau sẽ hạn chế được các bệnh 
truyền nhiễm và đặc biệt quan trọng là trẻ sẽ có một tinh thần tốt, rất tích cực 
tham gia vào các hoạt động mà cô giáo tổ chức. Có như vậy thì mới trang bị 
cho các cháu có một thể lực tốt để bước vào lớp 1.
 4.2. Biện pháp 2: Chuẩn bị về mặt phát triển trí tuệ.
 Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của trẻ ở trường phổ thông và nó 
đòi hỏi người học một sự lao động trí tuệ thực sự, một khả năng hoạt động nhận 
thức và năng lực trí tuệ nhất định. Chính vì vậy, mà việc chuẩn bị cho trẻ sẵn 
sàng về mặt trí tuệ cho hoạt động học có ý nghĩa cực kì to lớn. 7
 - Dạy trẻ biết tập trung chú ý trong giờ học:
 + Để giúp trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập tốt, tôi luôn chú ý rèn luyện cho 
trẻ biết tập trung chú ý vào những vấn đề cần nhận thức. Trong các hoạt động 
hàng ngày, tôi luôn tạo điều kiện giúp trẻ chú ý từ không chủ định sang chú ý có 
chủ định.
 Ví dụ : giờ kể chuyện, sau khi nghe cô kể, tôi giao nhiệm vụ cho các cháu 
phải nhớ tên câu chuyện, tên nhân vật, nội dung câu chuyện và phải kể lại được 
câu chuyện cho các bạn nghe.
 + Hơn nữa, như chúng ta đã biết hoạt động học tập ở trường Tiểu học diễn 
ra trong thời gian khá dài. Vì vậy tôi luôn cho trẻ biết duy trì sự tập trung chú ý 
của mình trong một thời gian cần thiết trong các hoạt động. Bên cạnh đó tôi cũng 
tập cho trẻ hoàn thành dứt điểm công việc trong một thời gian nhất định: chơi 
trong bao lâu, thực hiện công việc đó trong bao lâu thì kết thúc,điều này rất 
cần thiết cho trẻ khi lên lớp một, nó giúp cho trẻ hoàn thành công việc của người 
học sinh khi lên lớp một.
 - Phát triển hoạt động nhận cảm: Để giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, 
tạo tiền đề cần thiết cho việc học tập của trẻ sau này, tôi rèn cho trẻ biết quan sát 
thế giới xung quanh . Qua đó giúp trẻ nhận biết những thuộc tính cơ bản, đặc 
trưng của đối tượng, phân biệt sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác.
 Ví dụ : Chú Thỏ thì tai dài, mắt hồng; chú Hươu cao cổ thì có cái cổ cao 
thật là cao và da thật đặc biệt....
 - Phát triển khả năng tư duy cho trẻ: Ở mẫu giáo bé thì tư duy trực quan 
hành động chiếm ưu thế nhưng ở mẫu giáo lớn thì tư duy trực quan hình tượng 
chiếm ưu thế. Vì vậy để phát triển tư duy hình tượng cho trẻ tôi luôn chú ý cung 
cấp cho trẻ các biểu tượng đa dạng, dồi dào về thế giới xung quanh giúp trẻ hệ 
thống hóa, chính xác hóa những biểu tượng đó.
 Ví dụ: ở mẫu giáo bé trẻ nhận biết xe ô tô qua hình dạng nhưng ở lớp 5 tuổi 
khi nói ô tô thì trẻ sẽ hình dung trong đầu rằng đó là cái gì? Dùng để làm gì?....
 - Phát triển kỹ năng hoạt động trí óc đơn giản cho trẻ như so sánh sự giống 
nhau hay khác nhau của hai hay nhiều sự vật, hiện tượng; đối chiếu về kích thước; 
hỏi và thử trả lời; đếm số lượng, phân chia, tạo nhóm,.....
 - Định hướng vào môi trường xung quanh
 Khả năng định hướng về không gian và thời gian là một biểu hiện của sự 
phát triển trí tuệ. Nó không chỉ giúp trẻ thích ứng với môi trường sống mà còn là 
điều kiện giúp trẻ tiếp thu, lĩnh hội kiến thức ở phổ thông.
 + Định hướng trong không gian:
 Cuối tuổi mẫu giáo phần lớn trẻ đã định hướng được trên - dưới, trước - sau, 8
trái - phải nhưng lớp tôi vẫn còn nhiều trẻ nhầm lẫn, chưa phân biệt bên trái, phải. 
Vì vậy trong quá trình tổ chức cho trẻ chơi, học tập tôi thường xuyên rèn luyện 
cho trẻ tập sử dụng tay trái, tay phải để giải quyết nhiệm vụ chơi, học tập. Vì nếu 
trẻ không phân biệt được vị trí trong không gian thì sẽ khó khăn hơn trong việc 
tiếp thu kiến thức ở các môn học.
 Ví dụ: những chữ cái p, q, d, b chỉ khác nhau về vị trí các nét, các chữ cái 
trong không gian. Nếu trẻ nào xác định vị trí trong không gian tốt sẽ đọc, viết dễ 
dàng mà không bị nhầm lẫn.
 Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, tổ chức trò chơi, tiết học tôi luôn đặt 
ra nhiệm vụ mà trẻ phải dựa vào một vật chuẩn nào đó để giải quyết nhiệm vụ, 
đồng thời tăng dần độ khó, phức tạp để phát triển khả năng định hướng trong 
không gian của trẻ.
 Ví dụ: phía trên bên phải cái tủ có gì? Phía dưới bên trái cái bảng có gì,
 *Định hướng về thời gian:
 + Dạy trẻ biết các thời điểm trong ngày: sáng - chiều- tối -đêm. Ví dụ : buổi 
sáng mặt trời mọc, mọi người chuẩn bị đi làm.
 + Dạy trẻ biết các ngày trong tuần: trẻ biết được một tuần có 7 ngày, bắt đầu 
là thứ 2 và cuối cùng là chủ nhật. Cuối tuần mọi người được nghỉ ngơi, giải trí.
 + Dạy trẻ biết đặc điểm nổi bật của các màu trong năm dựa vào đặc điểm 
thời tiết. Ở miền Bắc có 4 mùa : xuân, hạ, thu, đông. Ở miền Nam có mùa khô và 
mùa mưa.
 + Cung cấp cho trẻ một số ngày đặc biệt trong năm: Tết nguyên đán, Tết 
trung thu, ngày Quốc tế Thiếu nhi, ngày khai giảng, ngày sinh nhật Bác,
 + Dạy trẻ một số hiểu biết về môi trường gần gũi xung quanh như nắng, mưa, 
nóng, lạnh, thứ bậc trong gia đình,....
 4.3. Biện pháp 3: Chuẩn bị về ngôn ngữ.
 Trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một , việc phát triển ngôn ngữ tiếng 
mẹ đẻ cho trẻ là việc làm cần thiết. Vì vậy trong các hoạt động hàng ngày tôi luôn 
chú ý cung cấp cho trẻ vốn từ, giúp trẻ hiểu ý nghĩa của từ, khuyến khích trẻ hoạt 
động lời nói một cách tích cực.
 Trong các hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, giao tiếp với bạn bè, tôi 
luôn khuyến khích trẻ phát biểu ý kiến, bày tỏ suy nghĩ của bản thân, trao đổi, 
thảo luận với các bạn để giúp trẻ mạnh dạn, tự tin.
 Thông qua hoạt động LQCC, tôi rèn cho trẻ cách phát âm chuẩn xác 29 chữ 
cái. Hoạt động này tương đối khô khan so với các hoạt động khác, để giúp trẻ 
hứng thú, khắc sâu những kiến thức vừa học tôi lồng ghép phương pháp “ học 
bằng chơi, chơi mà học” giúp trẻ học một cách nhẹ nhàng mà say mê. 9
 VD: Ở chủ đề Những con vật bé yêu, tiết làm quen với chữ: i,t,c thay vì chỉ 
đơn giản gắn tranh có chứa từ: con khỉ, con tôm, cá chép  thì tôi tìm những hình 
ảnh động trong máy vi tính như: khỉ con đang trèo cây hái quả; đàn tôm bơi lội, 
đàn cá chép bơi trong ao  Sau đó cho trẻ gọi tên các con vật và trẻ trả lời chúng 
đang làm gì? Rồi mới cho các con chữ chạy lên, trẻ được quan sát trên máy sẽ làm 
trẻ thích thú và dẫn đến việc trẻ tập trung cao hơn, tiếp theo cô khéo léo đặt những 
câu hỏi và dẫn đưa trẻ vào bài cách say mê, nhẹ nhàng.
 Cho trẻ làm quen chữ cái thông qua một số trò chơi:
 + Tìm từ phụ hợp với hình.
 + Thổi màu tìm chữ.
 + Tìm con chữ đã học thông qua bài thơ:
 Vd: tìm con chữ ” u- ư” trong bài thơ: bé làm bao nhiêu nghề.
 + Luyện phát âm thông qua thơ, đồng dao.
 VD: Bài ” Đi cầu đi quán”
 + Trò chơi sao chép con chữ:
 – Cho trẻ làm quen nhiều kiểu chữ: chữ in thường, chữ viết thường, chữ in 
hoa, chữ viết hoa.
 Thông qua hoạt động LQVH tôi chú trọng cung cấp từ mới, từ khó ở các bài 
thơ, câu chuyện để giúp trẻ hiểu sâu nội dung. Tôi chú trọng việc cho trẻ kể lại 
chuyện, đọc thơ cá nhân, kể chuyện sáng tạo theo chủ đề, đóng kịch. Qua đó giúp 
trẻ thể hiện lời nói, cử chỉ của nhân vật, nhớ lại câu chuyện, bài thơ từ đó giúp mở 
rộng vốn từ cho trẻ, cách sử dụng câu, trình bày ý kiến của mình bằng ngôn ngữ, 
học cách thể hiện văn hóa khi nói, giúp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
 Ví dụ: Trẻ đóng vai ông già, bà già cùng nhau nhổ củ cải, qua đó giúp 
 trẻ thể hiện lời nói, cử chỉ của từng nhân vật, giúp trẻ nhớ lại chuyện.
 Ngoài ra lớp tôi cũng còn một số trẻ hay nói đớt, nói ngọng. Vì vậy tôi 
luôn chú ý nghe trẻ nói để phát hiện và sửa sai kịp thời, uốn nắn cho những trẻ 
nói ngọng, nói đớt, nói tiếng địa phương. Ví dụ : Cháu- chéo, âm l-n, ch- tr,
 Cách làm như vậy, tôi thấy trẻ lớp tôi phát âm chuẩn, tốt hơn, vốn từ tăng 
lên, cơ cấu ngữ pháp và ngôn ngữ mạch lạc tăng lên rõ rệt. Trẻ mạnh dạn, tự tin 
hơn trong giao tiếp..
 4.4. Biện pháp 4: Chuẩn bị về tình cảm xã hội.
 Dạy trẻ biết quan tâm chia sẻ, ứng xử với mọi người xung quanh, lễ phép, 
 kính trọng người lớn, đoàn kết thân ái với bạn bè, thông cảm thương xót những 
 người bất hạnh. Biết được vị trí của mình trong gia đình và trong xã hội (là con 
 ai, cháu ai, em hay anh chị của ai, là học sinh lớp nào) và cách ứng xử phù 
 hợp với vai trò của mình. Giáo dục hành vi và qui tắc ứng xử xã hội trong sinh 10
 hoạt ở gia đình, trường lớp, cộng đồng gần gũigiáo dục trẻ biết quan 
 tâm bảo vệ môi trường. Nhận biết và thể hiện cảm xúc, tình cảm với con 
 người, sự vật và hiện tượng xung quanh. Là sự chuẩn bị rất cần thiết để giúp 
 trẻ thích nghi tốt với môi trường học tập mới. Thông qua các hoạt động mang 
 tính tập thể, trẻ làm quen dần với sinh hoạt trong nhóm bạn bè, qua đó làm nảy 
 nở trẻ những động cơ xã hội tốt đẹp, hào hứng được đi học, được trở thành một 
 người học sinh. Thông qua các bài dạy trẻ được trải nghiệm những câu chuyện 
 kể, các trò chơi, sử dụng những đồ dùng học tập của lớp một, tham quan trường 
 tiểu học..(chủ điểm trường tiểu học) giúp trẻ có những biểu tượng chính xác 
 về trường tiểu học về các mối quan hệ giữa bạn bè, thầy cô giáoTừ đó kích 
 thích được sự háo hức đến trường học tập của trẻ, hình thành những thói quen 
 vệ sinh cá nhân, tính tự lập và khả năng tự phục vụ trong các công việc sinh 
 hoạt hàng ngày vừa sức cũng là một khía cạnh quan trọng cho trẻ trước khi 
 bước vào trường tiểu học.
 Ví dụ: Tập trẻ có thói quen lao động tự phục vụ như: Tự rửa mặt, chải răng 
hàng ngày, tự xếp bàn ghế giờ ăn, giờ học, quét sân, Khuyến khích trẻ làm 
những việc nhỏ giúp đỡ bố mẹ như: phơi quần áo, quét nhà
 Sự phát triển về mặt tình cảm- xã hội là tiền đề quan trọng cho việc học và 
phát triển toàn diện nhân cách của trẻ sau này. Vì vậy tôi luôn chú ý hình thành 
cho trẻ một số chuẩn mực về hành vi đạo đức, xã hội phù hợp với yêu cầu xã hội 
như những hành vi đúng mực trong lớp, ở trường Mầm non, gia đình, nơi công 
cộng như đi ra vào lớp phải xin phép cô, tự nhặt rác trong sân trường, bỏ rác 
đúng nơi quy định,.
 Đồng thời tôi thiết lập cho trẻ hàng loạt các mối quan hệ mới như : quan hệ 
giữa trẻ với người lớn, quan hệ giữa trẻ với nhau,Cho trẻ làm quen một số 
hành vi đạo đức và ứng xử về những mối quan hệ ở trường Tiểu học ở Mầm non 
sẽ giúp trẻ thích ứng nhanh chóng khi lên lớp một.
 Giáo dục trẻ có những tình cảm đạo đức như lòng nhân ái, sự cảm thông, 
chia sẻ và yêu thương mọi người.
 Ví dụ: Ở chủ đề “Gia đình” thông qua hoạt động “Hãy nói lời yêu thương”, 
tôi đã cho trẻ thực hiện làm hoa tặng bà tặng mẹ nhân ngày 20/10 theo ý tưởng 
của trẻ, tôi là người gợi ý để trẻ sáng tạo khi thực hiện, sau đó cô trò cùng nhận 
xét: Hôm qua cô muốn các con chuẩn bị quà để tặng bà, tặng mẹ, vậy các con 
sẽ tặng mẹ,tặng bà những gì? (Con tặng bó hoa). Sau khi tổ chức thành công 
hoạt động “Hãy nói lời yêu thương”, cô và trò cùng hát bài “ mẹ ơi có biết”. 
Thông qua hoạt động này, tôi đã gợi được ở trẻ biết quan tâm, yêu thương, giúp 
đỡ ông bà,bố mẹ.. 11
 Ví dụ: Tập trẻ có thói quen lao động tự phục vụ như:Tự rửa mặt, chải răng 
hàng ngày, tự xếp bàn ghế giờ ăn, giờ học, nhặt rác trên sân trường, từ bê 
giườngngủKhuyến khích trẻ làm những việc nhỏ giúp đỡ cô giáo như: Sắp 
xếp kệ đồ chơi, quét lớpỞ lớp tôi có trang trí góc lễ giáo, ở đó có những hình 
ảnh đẹp mang tínhgiáo dục cao như: Bé mời nước cho ông, bà, bé giúp đỡ ba mẹ, 
cụ già, biết vòng tay chàokhách đến nhà, biết nhận quà bằng hai taythông qua 
góc đó giáo dục trẻ biết kính trọng,lễ phép với người lớn, giúp đỡ cụ già, em nhỏ, 
mọi người xung quanh
 Thông qua hình thức tham quan, dã ngoại trẻ hiểu được và chấp hành những 
nội quy, quy định chung của nơi trẻ đến.
 - Giáo dục trẻ tạo dựng mối quan hệ tốt với bạn bè và người lớn xung quanh: 
cô giáo, người thân( ông, bà, cha, mẹ, cô ,dì, chú bác). Thông qua các ngày lễ 
hội Tôi cho trẻ làm các tấm thiệp và ghi lời chúc mừng.
 - Thông qua hoạt động âm nhạc giúp trẻ biết đoàn kết, yêu thương, chia sẻ. 
 - Thông qua tranh ảnh, thơ truyện: đặt câu hỏi kích thích trẻ biểu lộ cảm 
xúc, suy nghĩ của mình thông qua trò chơi phân vai. VD: trò chơi gia đình
 - Tổ chức trò chơi vận động, trò dân gian giúp trẻ tự tin và sáng tạo
 4.5. Biện pháp 5: Chuẩn bị một số kỹ năng cần thiết của hoạt động học tập và 
tinh thần.
 Rèn luyện một số kỹ năng cơ bản của hoạt động học tập cần thiết như giúp 
cho trẻ biết cách cầm bút, cách đặt vở trong giờ học vẽ, mở sách, vở trong các lần 
học tập tô, làm quen với toán, tạo hình, , tư thế ngồi đúng trong khi ngồi học, 
chơi. Giúp trẻ thích nghi với hoạt động học tập mới, tránh được những bỡ ngỡ ban 
đầu dễ gây cho trẻ những cảm giác sợ sệt, thiếu tự tin. Để đạt được những hiệu 
quả cần tạo điều kiện cho trẻ làm quen dần với môi trường học tập như: bố trí bàn 
ghế cho trẻ ngồi học cung cấp và cho trẻ tiếp xúc thường xuyên với sách, truyện, 
bút, thước,, hướng dẫn trẻ cách sử dụng các dụng cụ học tập đó như thế nào 
cho đúng thông qua việc làm mẫu, quan sát và uốn nắn trực tiếp cho trẻ.
 Ví dụ: Ví dụ: Trong giờ học vẽ một số cháu hay nhìn gần, ngồi sai tư thế. 
Tôi luôn chú ý và nhắc nhở thường xuyên, sửa ngay tư thế cho trẻ, khuyến khích 
động viên trẻ bằng cách: con ngồi đúng lớn lên sẽ có một thân hình đẹp, vẽ cũng 
sẽ rất đẹp, ngồi sai tư thế sẽ bị gù lưng, cong vẹo cột sống, sẽ thành người xấu 
lắm. 
 Được chuẩn bị tốt về mặt tinh thần đối với trẻ cũng rất quan trọng. Trẻ có 
một tinh thần tốt, luôn luôn vui vẻ, thích thú trong mọi công việc, và đặc biệt là 
luôn vươn tới, luôn mong mỏi mình sẽ được đi học lớp 1 đó là một điều rất tốt. 12
Vì vậy, tôi luôn động viên, khích lệ trẻ ngoan, biết vâng lời người lớn, hoàn thành 
các nhiệm vụ được người lớn giao cho.
 Chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo trước khi vào lớp 1 được tiến hành thường xuyên, 
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp thông qua các trò chơi hay các hoạt 
động hấp dẫn mà trẻ yêu thích. Cần tránh nôn nóng, áp đặt ép buộc trẻ học trước 
những gì trẻ em được tiếp thu một cách bài bản ở trường tiểu học sau này. Bởi dễ 
gây ra cho trẻ những chán nản, chủ quan, chểnh mảng dần đến tiêu diệt hứng thú 
học tập ngay từ những buổi học ban đầu và gây ra không ít những khó khăn cho 
giáo viên tiểu học trong việc khắc phục, uốn nắn những hậu quả sai lầm mà trẻ đã 
mắc phải.
 Trong giờ ăn, giờ chơi tôi kết hợp với phụ huynh tập cho trẻ biết sử dụng 
những đồ dùng một cách gọn gàng, khéo léo. Các nhà khoa học đã từng khẳng 
định: “Những vận động bằng tay của trẻ càng khéo léo, càng phong phú bao nhiêu 
càng dễ hình thành các thao tác trí tuệ bấy nhiêu”.
 4.6. Biện pháp 6: Thực hiện tốt các mục tiêu trong bộ chuẩn phát triển trẻ 
em 5 tuổi.
 Như chúng ta đã biết: Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi nhằm hỗ trợ thực 
hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo 
dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em 5 tuổi vào lớp 1.
 Vào đầu năm học tôi căn cứ 107 mục tiêu giáo dục năm học. Từ mục tiêu 
năm, tôi phân bổ vào mục tiêu chủ đề, tuần cho phù hợp. Có những mục tiêu tôi 
lấy làm đề tài của bài dạy, có những mục tiêu nhắc nhở, hướng dẫn trẻ ở mọi lúc, 
mọi nơi để giáo dục trẻ. Các mục tiêu được nhắc đến trong 10 chủ đề và thực hiện 
có hiệu quả từng mục tiêu, nếu mục tiêu nào trẻ thực hiện còn thấp so với yêu cầu 
tôi đưa vào chủ đề tiếp theo để giúp trẻ thực hiện tốt. Tôi quyết tâm tổ chức thực 
hiện hết 107 mục tiêu và có sự nhắc nhở thường xuyên, động viên khuyến khích 
kịp thời của đồng nghiệp.
 Vào đầu năm họp phụ huynh tôi đã thông qua cho phụ huynh rõ mục đích 
của bộ chuẩn đối với trẻ 5 tuổi và photo bộ chuẩn gồm 5 lĩnh vực và mục tiêu 
cho mỗi phụ huynh nghiên cứu để cùng với giáo viên thực hiện bộ chuẩn 
đạt hiệu quả hơn.
 Tôi nghĩ nếu chúng ta thực hiện đầy đủ các mục tiêu trong bộ chuẩn và thực 
hiện có hiệu quả thì ta đã chuẩn bị đầy đủ cho trẻ cả 5 lĩnh vực: thể chất, nhận 
thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm xã hội đó là một tâm thế rất vững chắc cho trẻ 
bước vào lớp một cách vững vàng và đầy tự tin. 13
 4.7. Biện pháp 7: Làm công tác tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh 
học sinh trong việc chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào lớp 1.
 Gia đình là một trong các yếu tố có tác động mạnh mẽ đến trẻ, bởi trẻ sống 
giao tiếp với các thành viên trong gia đình nhiều hơn cô giáo và bạn bè ở trường 
mầm non.
 Nhiều gia đình cho rằng để chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo vào lớp 1 cần phải dạy 
trước cho chúng chương trình lớp 1 mà cụ thể là học đọc, viết và làm toán vì vậy 
họ đã nôn nóng đến trao đổi với tôi cho con học chữ hoặc học đọc, học viết mà 
bất chấp nguyên tắc đòi hỏi sự phù hợp giữa nội dung, phương pháp dạy học với 
sự phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi này. Ép trẻ học quá sớm vô tình chúng ta làm 
mất đi sự tập trung chú ý và hứng thú học tập của trẻ sau này, mặt khác không ít 
những phụ huynh học sinh lại phó mặc con mình cho giáo viên trường mầm non, 
dẫn đến việc phối hợp giữa phụ huynh và giáo viên không tạo ra được sự thống 
nhất trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 hiệu quả 
chưa cao. Chính vì vậy việc tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh học sinh 
trong việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 là rất quan trọng. Để làm tốt điều đó 
trong các giờ đón trả trẻ tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình học 
tập của trẻ trên lớp nhất là hai hoạt động làm quen với toán và chữ cái. Ngoài ra 
tôi còn tuyên truyền và tư vấn cho phụ huynh của lớp mình cần chuẩn bị thể lực 
cho trẻ bởi đây là một việc làm quan trọng đòi hỏi chúng ta phải có sự quan tâm 
sâu sắc. Một cơ thể khoẻ mạnh là tiền đề vật chất giúp cho trẻ phát triển năng lực 
hoạt động trí tuệ và hoạt động ngoại khóa ở trường phổ thông. Mỗi phụ huynh cần 
phải hiểu điều đó để phối hợp với nhà trường cho trẻ ăn uống đảm bảo dủ về số 
lượng và chất lượng, đồng thời cân đối giữa các chất dinh dưỡng thì trẻ mới khỏe 
mạnh thông minh đảm bảo về thể lực để bước vào tiểu học được tốt. Phụ huynh 
học sinh cần kết hợp với giáo viên để biết cách dạy trẻ phát âm 29 chữ cái trong 
chương trình mẫu giáo, cách làm quen với các mẫu chữ in thường, viết thường, in 
hoaPhụ huynh cần xây dựng cho trẻ một góc học tập gọn gàng, đẹp mắt, phù 
hợp với điều kiện sẵn có của mình nhằm giúp trẻ thích thú đối với việc ngồi vào 
bàn học. Đồng thời giúp trẻ chọn lựa sách, đọc sách cho trẻ nghe và trẻ có thể 
“đọc vẹt” sách, việc đọc như thế có một ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết cho 
việc học đọc sau này. Ngoài ra cần chọn đồ chơi phù hợp với lứa tuổi trẻ đặc biệt 
là đồ chơi chữ cái, số.
 Phụ huynh cần tạo cho trẻ thói quen tự lập bằng cách khuyến khích trẻ thực 
hiện một vài công việc nhà đơn giản, tự lập một thời gian biểu học tập- vui chơi 
và nghiêm túc thực hiện thời gian biểu ấy. Có thể dẫn trẻ đến thăm trường Tiểu 
học và chỉ cho trẻ biết các phòng, lớp học, sân chơi cặp sách 14
 Thông qua việc tuyên truyền trao đổi cùng phụ huynh tôi đã nắm bắt được 
nhu cầu, nguyện vọng của phụ huynh trong công tác chuẩn bị tâm thế cho con em 
mình vào lớp 1. Từ đó tôi tư vấn giúp phụ huynh học sinh trong việc lựa chon 
trường, lớp, thời điểm chuẩn bị cho trẻ vào trường tiểu học.
 5. Kết quả đạt được.
 Từ những nổ lực cố gắng của bản thân tôi đã nghiên cứu và áp dụng vào 
lớp mình. Tôi thấy các cháu lớp tôi thực tế có nhiều chuyển biến theo chiều 
hướng tốt. Kết quả thể hiện như sau:
 Bảng 2: Kết quả đạt được cuối năm (Tổng số trẻ: 30 trẻ).
 Đạt Chưa đạt
 Nội dung khảo Tổng số 
 STT Tỉ lệ Tỉ lệ 
 sát trẻ Số trẻ Số trẻ
 (%) (%)
 1 Thể chất 30 29 97 1 3
 2 Nhận thức 30 28 93 2 7
 3 Tâm lý 30 30 100 0 0
 4 Kỹ năng giao tiếp 30 28 93 2 7
 C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
1. Kết luận.
 a. Về phía giáo viên.
 Luôn nhiệt tình, chịu khó học hỏi kinh nghiệm để không ngừng nâng cao 
trình độ chuyên môn. Giáo viên có thao tác sử dụng đồ dùng giảng dạy, sử dụng 
công nghệ thông tin linh hoạt, trình độ tin học nâng lên, thiết kế tốt các bài giảng 
điện tử, sáng tạo lồng ghép các nội dung giáo dục cho trẻ phù hợp hấp dẫn.
 Hướng dẫn phụ huynh tổ chức các hoạt động cho trẻ tại nhà ở mọi lúc mọi 
nơi đạt hiệu quả cao.
 Sưu tầm được tranh ảnh, video hấp dẫn có nội dung giáo dục, sưu tầm các 
nguyên phế liệu để làm đồ dùng đồ chơi hỗ trợ trong bài dạy nhằm thu hút trẻ 
được tốt hơn.
 Có nhiều bài giảng giáo dục đạo đức cho trẻ bằng những bài học lễ giáo gần 
gũi.
 Giáo viên hạn chế tối đa việc đòi hỏi trẻ phải biết đọc, biết viết trước, hoặc 
đặt ra quá nhiều quy định buộc trẻ phải làm. Mà đã tạo cho trẻ niềm tin yêu nơi 
thầy cô “Cô giáo như mẹ hiền”.
 b. Về phía trẻ.
 100% trẻ tăng cân qua các thời kỳ. Không có trẻ suy dinh dưỡng thấp còi. 
Trẻ mạnh khỏe, nhanh nhẹn. Trẻ có nề nếp ăn, ngủ, vệ sinh tốt. Có ý thức tự phục 15
vụ bản thân. Trẻ có những kỹ năng sống cần thiết.
 Trẻ có vốn từ phong phú, diễn đạt mạnh lạc, năm chắc các chữ cái đã học, 
phát âm chuẩn.
 Có kỹ năng cho hoạt động học và viết: Ngồi đúng tư thế, đọc sách, giở sách 
vở đúng hướng, cầm bút đúng cách.
 Trẻ có hiểu biết về trường tiểu học: Thích thú xem video tìm hiểu về trường 
tiểu học.
 c. Về phía phụ huynh.
 Sau khi tôi thực hiện đề tài, tôi thấy phụ huynh đã quan tâm và phối hợp 
với giáo viên, nhà trường để chăm sóc, dạy cho con em mình. 
 Qua zalo nhóm lớp phụ huynh và giáo viên trao đổi trên tinh thần xây 
dựng, thái độ đúng mực, tạo sự tin tưởng.
 Phụ huynh đã nắm bắt những kỹ năng cho trẻ biết tự phục vụ, tự học, luôn 
tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để trẻ yên tâm khi đến trường tạo cho trẻ cái nhìn 
“thân thiện về trường về lớp về các thầy cô” .
2. Kiến nghị.
 2.1. Đối với cấp trên và phòng giáo dục.
 Tôi kính mong phòng giáo dục sẽ tổ chức cho chúng tôi nhiều những buổi 
chuyên đề, dự giờ, kiến tập của các trường trong huyện để chúng tôi được học 
hỏi những cái mới cái hay của các trường. Từ đó kiến thức chuyên môn nghiệp 
vụ của chúng tôi được nâng cao, đảm bảo chất lượng giáo dục tốt nhất. Bên cạnh 
đó, tôi cũng xin kính mong phòng giáo dục sẽ tham mưu và quan tâm hơn nữa tới 
việc đầu tư các trang thiết bị dạy học cho trường chúng tôi.
 2.2. Đối với ban giám hiệu nhà trường.
 - Tôi kính mong ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn tổ chức nhiều 
hơn nữa các tiết học mẫu, để chị em giáo viên trong trường được giao lưu học 
hỏi, trau dồi kinh nghiệm lẫn nhau.
 2.3. Đối với giáo viên.
 - Giáo viên cần nắm chắc đặc điểm tâm lý lứa tuổi. 
 - Giáo viên phải có kiến thức về lớp 1 để giới thiệu trước cho trẻ, biện pháp 
hình thức đúng đắn trong quá trình giáo dục trẻ và đảm bảo cho giáo viên không 
chỉ là cô giáo mà còn là người bạn gần gũi thân thiết với trẻ.
 - Giáo viên phải bám sát kế hoạch của lớp từ đầu năm và thực hiện đúng vào 
các chỉ số của bộ chuẩn trẻ 5 tuổi.
 - Cần có ý kiến báo cáo, đề xuất kịp thời cho ban giám hiệu trong quá trình 
chăm sóc giáo dục trẻ để đảm bảo cho trẻ được chăm sóc tốt về thể chất và tinh 
thần.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_chuan_bi_tam_the_cho_tre_5_6_tuoi_san.docx