SKKN Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi (GV: Khương Thị Lan - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo
- Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ ngày: 15/09/2024 Tại lớp 5 tuổi A1 trường MN Ba Trại A
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất)
Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau:
Giải pháp 1: Lập kế hoạch xây dựng môi trường lớp học
Giải pháp 2: Xây dựng môi trường tạo góc mở cho trẻ hoạt động
Giải pháp 3: Làm thêm đồ dùng, đồ chơi tự tạo
Giải pháp 4: Hướng dẫn trẻ hoạt động
Giải pháp 5: Tuyên truyền phối hợp với phụ huynh Giải pháp 6: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
- Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
* Đối với giáo viên
- Sau thời gian thực hiện sáng kiến bản thân tôi thực sự khéo léo, sáng tạo hơn trong việc làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.
- Giáo viên đã tự học hỏi, nghiên cứu và nâng cao trình độ chuyên môn.
- Biết cách xây dựng môi trường lớp học lấy trẻ làm trung tâm.
- Lớp học được trang trí bằng sản phẩm của trẻ, cô giáo không còn vất vả làm nhiều đồ dùng trang trí.
- Nắm chắc nội dung, phương pháp và thực hiện mọi giờ hoạt động cho trẻ.
- Tiết kiệm kinh phí chuẩn bị nguyên vật liệu, đồ dùng, phương tiện khi tổ chức hoạt động cho trẻ.
- Qua đợt kiểm tra chấm môi trường lớp học được nhà trường đánh giá tốt.
* Đối với phụ huynh
- Giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động học lấy trẻ làm trung tâm.
- Qua trao đổi với giáo viên phụ huynh nắm được tình hình học tập, có giải pháp phù hợp để giúp trẻ tiến bộ hơn.
- Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được và đã có sự quan tâm bằng việc ủng hộ giáo viên những nguyên vật liệu để giáo viên và trẻ làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ ở lớp.
* Đối với trẻ
- Trẻ đã hứng thú tham gia vào các hoạt động.
- Trẻ có kỹ năng hoạt động trong và ngoài lớp tốt.
- Trẻ có kỹ năng chơi, kỹ năng hoạt động nhóm.
- Trẻ có khả năng giao tiếp tự tin, mạnh dạn, có nề nếp hơn.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở)
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi (GV: Khương Thị Lan - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
UBND HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM CHO TRẺ 5-6 TUỔI Lĩnh vực : Giáo dục mẫu giáo Tên tác giả : Khương Thị Lan Chức vụ : Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Ba Trại A Năm học 2024-2025 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến huyện Ba Vì Trình độ Ngày tháng Nơi công Chức Họ và tên chuyên Tên sáng kiến năm sinh tác danh môn Giáo Một số giải pháp xây Trường viên- dựng môi trường giáo Khương Thị Lan 15/05/1991 MN Ba TTCM Đại học dục lấy trẻ làm trung Trại A khối 5 tâm cho trẻ 5-6 tuổi tuổi - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mẫu giáo - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ ngày: 15/09/2024 Tại lớp 5 tuổi A1 trường MN Ba Trại A - Mô tả bản chất của sáng kiến: Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất) Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau: Giải pháp 1: Lập kế hoạch xây dựng môi trường lớp học Giải pháp 2: Xây dựng môi trường tạo góc mở cho trẻ hoạt động Giải pháp 3: Làm thêm đồ dùng, đồ chơi tự tạo Giải pháp 4: Hướng dẫn trẻ hoạt động Giải pháp 5: Tuyên truyền phối hợp với phụ huynh Giải pháp 6: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Đối với giáo viên - Sau thời gian thực hiện sáng kiến bản thân tôi thực sự khéo léo, sáng tạo hơn trong việc làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. - Giáo viên đã tự học hỏi, nghiên cứu và nâng cao trình độ chuyên môn. - Biết cách xây dựng môi trường lớp học lấy trẻ làm trung tâm. - Lớp học được trang trí bằng sản phẩm của trẻ, cô giáo không còn vất vả làm nhiều đồ dùng trang trí. - Nắm chắc nội dung, phương pháp và thực hiện mọi giờ hoạt động cho trẻ. - Tiết kiệm kinh phí chuẩn bị nguyên vật liệu, đồ dùng, phương tiện khi tổ chức hoạt động cho trẻ. - Qua đợt kiểm tra chấm môi trường lớp học được nhà trường đánh giá tốt. * Đối với phụ huynh - Giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động học lấy trẻ làm trung tâm. - Qua trao đổi với giáo viên phụ huynh nắm được tình hình học tập, có giải pháp phù hợp để giúp trẻ tiến bộ hơn. - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được và đã có sự quan tâm bằng việc ủng hộ giáo viên những nguyên vật liệu để giáo viên và trẻ làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ ở lớp. * Đối với trẻ - Trẻ đã hứng thú tham gia vào các hoạt động. - Trẻ có kỹ năng hoạt động trong và ngoài lớp tốt. - Trẻ có kỹ năng chơi, kỹ năng hoạt động nhóm. - Trẻ có khả năng giao tiếp tự tin, mạnh dạn, có nề nếp hơn. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở) Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Trại, ngày 20 tháng 3 năm 2025 Người yêu cầu Khương Thị Lan TRƯỜNG MN BA TRẠI A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TRƯỜNG MN BA TRẠI A --------------- ---------------- Ba Vì, ngày 24 tháng 3 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi - Tác giả sáng kiến: KHƯƠNG THỊ LAN - Họ tên người đánh giá: LÊ THỊ THU THỦY - Cơ quan công tác: Trường MN Ba Trại A Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến có nhiều tính sáng tạo, mới mẻ phù hợp với trường, gần gũi với học sinh, dễ thực hiện. Điểm đánh giá: 18 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp): 5 điểm Sáng kiến đưa ra các giải pháp rõ ràng, dễ thực hiện, có đối chứng, so sánh khoa học, hợp lí... Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới): 20 điểm Trình bày sáng kiến khoa học, lôgic. Các biện pháp đưa ra có tính sáng tạo, mới mẻ, có hiệu quả khi áp dụng thực tế vào lớp, trường. địa phương, huyện... Điểm đánh giá: 17 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Số liệu so sánh đố chiếu trước, sau khi thực hiện đề tài chính xác, hợp lí không mang tính thành tích. Điểm đánh giá: 8 điểm 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Nội dung sáng kiến có khả năng áp dụng trong lớp, trường, nhiều đơn vị khác. Vì nội dung thực tế; không sáo rỗng; gần gũi với học sinh. Học sinh có thể tự thực hiện được hoặc thêm sự gợi mở; dẫn dắt của thầy, cô. Điểm đánh giá: 17 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Sáng kiến đã được công nhận rộng rãi và mang lại kết quả rõ rệt cho cơ quan. Nó không chỉ nâng cao hiệu quả công tác, cải thiện năng suất và chất lượng công việc, mà còn đem lại lợi ích kinh tế và xã hội, đồng thời cải tiến quy trình làm việc. Điểm đánh giá: 17 điểm 4. Nội dung 4: Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, đầy đủ và có bố cục hợp lý, với các nội dung rõ ràng và dễ hiểu, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nắm bắt các giải pháp đã được đề xuất. Điểm đánh giá: 4,5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 85,5 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt ☑ - Không đạt ☐ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Lê Thị Thu Thủy MỤC LỤC PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ ..................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. ......................................................... 1 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. .......................................................................... 2 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ....................................................... 2 PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN ........................................................ 3 I. Hiện trạng vấn đề (Nêu rõ cách làm cũ, phân tích nhược điểm). ...................... 3 1. Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài. ............................................................ 3 2. Phân tích nhược điểm của hiện trạng vấn đề. ................................................... 3 II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. ........................................ 4 1. Những giải pháp chính. ..................................................................................... 4 2. Các giải pháp thực hiện từng phần. ................................................................... 5 2.1 Giải pháp 1: Lập kế hoạch xây dựng môi trường lớp học .............................. 5 2.2. Giải pháp 2: Xây dựng môi trường tạo góc mở cho trẻ hoạt động ............... 7 2.3. Giải pháp 3: Làm thêm đồ dùng, đồ chơi tự tạo ............................................ 9 2.4. Giải pháp 4: Hướng dẫn trẻ hoạt động ......................................................... 9 2.5. Giải pháp 5: Tuyên truyền phối hợp với phụ huynh. ................................... 10 2.6. Giải pháp 6: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. ......................................... 10 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến. ................................................. 11 4. Hiệu quả của sáng kiến.................................................................................... 12 4.1. Hiệu quả về khoa học. .................................................................................. 12 4.2. Hiệu quả về kinh tế. ...................................................................................... 12 4.3. Hiệu quả về xã hội. ....................................................................................... 12 5. Tính khả thi. .................................................................................................... 12 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến. ............................................................. 12 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến. ............................................................... 12 PHẦN III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ................................................................ 12 CÁC MINH CHỨNG PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. Như chúng ta đã biết môi trường giáo dục là môi trường bao gồm tất cả các yếu tố về cơ sở vật chất, quan hệ xã hội và văn hóa của con người, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. Các nhà giáo dục học đều phải thừa nhận một điều rằng, cách tiếp cận tốt nhất để giáo dục cho trẻ mầm non đó là lấy trẻ làm trung tâm và ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực, tiên tiến. Giáo dục Mầm non là một khoa học và là một nghệ thuật, khoa học này dạy trẻ không ngừng phát triển. Do vậy đòi hỏi làm công tác chăm sóc giáo dục trẻ phải có năng lực toàn diện, có những phẩm chất cần thiết mới hoàn thành được nhiệm vụ giao phó. Chính vì vậy dạy cho trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng cần được tiếp cận với phương pháp dạy “lấy trẻ làm trung tâm”. Đó chính là phương pháp đòi hỏi giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động nhằm phát huy những năng lực chung cho trẻ, đáp ứng với việc bước đầu hình thành những con người mới cho xã hội hiện đại. a. Cơ sở lý luận: Môi trường vật chất bao gồm toàn bộ phương tiện vật chất kể cả trong lớp học và ngoài trời có liên quan đến diện tích, phòng học, nhiệt độ, ánh sáng, đồ dùng, đồ chơi.... Môi trường vật chất tạo cho trẻ những cơ hội để trẻ thỏa mãn nhu cầu hoạt động và phát triển toàn diện kể cả về vật chất và tinh thần. Môi trường xã hội là toàn bộ các mối quan hệ giúp trẻ hình thành phát triển nhân cách. Hay chính là môi trường giao tiếp trong trường mầm non, bao gồm sự giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ, giữa trẻ với những người xung quanh. Môi trường này vừa mang tính chất sư phạm vừa mang tính chất gia đình. Bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Là nền móng vững chắc trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người trong thời đại mới, thời đại xã hội chủ nghĩa. Việc giáo dục con người phát triển hoàn thiện nhân cách để sánh kịp thời đại luôn là vấn đề cấp thiết không chỉ riêng các nhà giáo dục mà là của toàn xã hội. Nhận thức tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của toàn ngành giáo dục hiện nay. Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp giảng dạy trong toàn ngành giáo dục nói chung và bậc học mầm non nói riêng. “Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” là một quan điểm giáo dục tiến bộ về vị trí của trẻ em và vai trò của giáo viên. Nó góp phần định hướng cho quá trình hoạt động và xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non. Chương trình “giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” được xây dựng dựa trên hứng thú, nhu cầu, kinh nghiệm và khả năng của trẻ. Chương trình này sẽ tạo cơ hội cho trẻ được phát triển toàn diện, không chỉ chú trọng tới sự phát triển trí tuệ mà còn nuôi 2 dưỡng tâm hồn, phát triển thể chất và khả năng giao tiếp xã hội của trẻ. Chương trình không chỉ quan tâm tới trẻ "học được cái gì" mà còn chú trọng "học như thế nào", tức là cho trẻ những trải nghiệm học tập tích cực để phát triển đam mê ham học hỏi của trẻ và khả năng tự học cho trẻ. b. Cơ sở thực tiễn: Chúng ta đã biết, “Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt” và “mỗi đứa trẻ đều có cơ hội được học bằng nhiều cách khác nhau”. Ở lứa tuổi mầm non, trẻ: “Học bằng chơi, chơi mà học”. Qua các trò chơi, trẻ tiếp nhận kiến thức một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả. Căn cứ vào nhu cầu và khả năng phát triển của trẻ tuổi 5 - 6, đây là lứa tuổi kỳ diệu, trẻ rất hiếu động, tò mò, muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới tự nhiên và xã hội. Khác với người lớn trẻ em thật sự học trong khi chơi, trẻ lĩnh hội các tri thức tiền khoa học trong trường mầm non theo phương châm “chơi mà học, học mà chơi”. Từ những suy nghĩ trên, bản thân tôi là một giáo viên tôi luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường lớp học, tạo nhiều góc mở để trẻ có nhiều cơ hội được trải nghiệm. Cộng thêm phần việc tổ chức các hoạt động giáo dục theo quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục mầm non trong những năm gần đây. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trẻ, đáp ứng với yêu cầu và xu thế hội nhập của toàn ngành giáo dục hiện nay. Chính vì vậy trong năm học 2024- 2025 tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi” làm sáng kiến kinh nghiệm cho năm học này, góp phần thực hiện tốt phương pháp đổi mới giáo dục mầm non của trường nói riêng và ngành học nói chung đạt kết quả tốt hơn. 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. Tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi” với mục đích nhằm tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động cá nhân một cách tích cực, để trẻ lĩnh hội các tri thức tiền khoa học trong trường mầm non theo phương châm “chơi mà học, học mà chơi” giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025 - Đối tượng nghiên cứu: “Một số giải pháp xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi” - Đối tượng khảo sát và thực nghiệm: Trẻ lớp 5 tuổi A1 tại Trường mầm non Ba Trại A. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu và thực hiện tại lớp 5 tuổi A1 trường Mầm non Ba Trại A. 3 PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN I. Hiện trạng vấn đề (Nêu rõ cách làm cũ, phân tích nhược điểm). 1. Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài. Ở trường mầm non môi trường học tập còn mang tính chất truyền thống. Lớp học sắp xếp theo kiểu cô định, ít thay đổi theo nhu cầu của trẻ. Giáo viên là trung tâm, trẻ thu động tiếp nhận kiến thức. Chương trình học tập cứng nhắc, chưa linh hoạt theo khả năng và sở thích của trẻ. Phương pháp giảng dạy: Giáo viên truyền đạt kiến thức theo khuôn mẫu, trẻ ít có cơ hội tham gia vào quá trình khám phá và học hỏi. Ít tổ chức các hoạt động thực hành, trải nghiệm. Môi trường vật chất: Đồ dùng đồ chơi chưa phong phú, đa dạng. Không gian lớp đơn điệu, ít kích thích sự tò mò, sáng tạo của trẻ. Sắp xếp không gian chưa tạo điều kiện cho trẻ tự do khám phá, trải nghiệm. Từ những hạn chế trên, việc xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm sẽ giúp tạo ra một môi trường học tập linh hoạt, kích thích tư duy sáng tạo, nâng cao sự chủ động và niềm hứng thú học tập của trẻ. 2. Phân tích nhược điểm của hiện trạng vấn đề. 2.1. Đặc điểm tình hình: * Đặc điểm tình hình lớp: Năm học 2024- 2025 tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5 tuổi A1. Lớp có 2 cô, với tổng số 35 trẻ: 15 nữ, 20 nam. Với đặc điểm tình hình như vậy khi thực hiện đề tài này tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn sau: * Thuận lợi: Ban giám hiệu luôn quan tâm đầu tư về chuyên môn, bồi dưỡng phương pháp, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo mọi điều kiện giúp chúng tôi thực hiện tốt chương trình giáo dục mầm non mới. Mỗi giáo viên đều có kế hoạch giảng dạy các môn học và các hoạt động rất cụ thể ngay từ đầu năm học. Bên cạnh đó, kèm theo là kế hoạch công tác cá nhân theo từng tháng. Giáo viên trong lớp biết cùng nhau tìm tòi đưa ra các biện pháp xây dựng môi trường giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” sao cho phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường của lớp và phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Đa số phụ huynh nhiệt tình chia sẻ với giáo viên ở lớp về tình hình của trẻ ở nhà và luôn quan tâm đến trẻ, thường xuyên dành thời gian trao đổi với cô giáo tạo được sự thống nhất để cùng áp dụng quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm”. * Khó khăn: Cơ sở vật chất, được nhà trường quan tâm đáp ứng nhu cầu đồ dùng đồ chơi tương đối đầy đủ. Tuy nhiên các phòng học còn trưa được trang bị máy tính, máy chiếu. 4 Các bậc cha mẹ thiếu kinh nghiệm trong việc dạy con khiến cho đứa trẻ học một cách dập khuôn, máy móc, học vẹt chưa khai thác được khả năng tiềm ẩn của trẻ. Các bậc phụ huynh đa số là nông dân mức thu nhập thấp, ít có gia đình khá giả, bên cạnh đó có một số gia đình bố mẹ đi làm ăn xa, các cháu ở nhà với ông bà vì thế mà phần nào ảnh hưởng đế tâm lý của trẻ. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” để trẻ được hoạt động 1 cách tích cực phát huy hết khả năng của mình nên thường khoán trắng cho giáo viên “chăm sự nhờ cô giáo” Về phía trẻ: Một số cháu chưa qua trường lớp mẫu giáo nên nề nếp chưa đồng đều, trẻ còn nhút nhát, chưa chủ động tham gia các hoạt động. Kết quả tham gia vào các hoạt động trong lớp một cách tích cực còn hạn chế chưa hứng thú vào môi trường trong lớp. 2.2. Khảo sát thực trạng. Từ những thuận lợi và khó khăn nêu trên, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát trên trẻ trước khi đưa ra những giải pháp mới. Với trẻ tôi khảo sát theo những nội dung sau: Bảng 1: Khảo sát thực trạng đầu năm (Tổng số trẻ: 35 trẻ). Đầu năm Tổng STT Tiêu chí đánh giá số Đạt Chưa đạt Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ trẻ lượng (%) lượng (%) Trẻ hoạt động tích cực vào môi 1 35 18 51% 17 49% trường trong lớp và ngoài lớp Trẻ mạnh dạn tự tin thể hiện mối 2 quan hệ giao tiếp với cô và bạn, thể 35 15 43% 20 57% hiện môi trường quan hệ xã hội Kỹ năng sử dụng môi trường trong 3 35 17 49% 18 51% lớp và ngoài lớp II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. 1. Những giải pháp chính. Giải pháp 1: Lập kế hoạch xây dựng môi trường lớp học Giải pháp 2: Xây dựng môi trường tạo góc mở cho trẻ hoạt động Giải pháp 3: Làm thêm đồ dùng, đồ chơi tự tạo Giải pháp 4: Hướng dẫn trẻ hoạt động Giải pháp 5: Tuyên truyền phối hợp với phụ huynh Giải pháp 6: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ 5 2. Các giải pháp thực hiện từng phần. 2.1 Giải pháp 1: Lập kế hoạch xây dựng môi trường lớp học Dựa trên quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” là giáo viên có khả năng tự thiết kế kế hoạch giảng dạy để trẻ đạt kết quả tốt nhất căn cứ vào khả năng, nhu cầu học tập, kinh nghiệm sống của trẻ. Nên ngay từ đầu năm học muốn thực hiện các hoạt động giáo dục một cách có khoa học và có hiệu quả bản thân tôi trước hết đã xây dựng mục tiêu giáo dục cả năm học cho mình dựa trên nhu cầu hứng thú và khả năng của từng trẻ để xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với trẻ lớp tôi. Và kế hoạch giáo dục của tôi lập ra cho năm học 2024- 2025 gồm có: Kế hoạch giáo dục năm học, kế hoạch giáo dục tháng (sự kiện, chủ đề được lồng trong kế hoạch tháng) và kế hoạch giáo dục ngày. Sau khi tôi đã hoàn thành kế hoạch giáo dục cho cả một năm học. Bước tiếp theo mà tôi phải làm đó là dựa trên bản “Dự kiến chủ đề sự kiện” của năm học để tôi tìm ra các biện pháp xây dựng kế hoạch trang trí “môi trường lớp học áp dụng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm” cho riêng mình. Dưới đây là bảng dự kiến chủ đề sự kiện cho năm học 2024-2025 để làm căn cứ cho cho xây dựng kế hoạch trang trí môi trường lớp học. BẢNG DỰ KIẾN CÁC CHỦ ĐỀ, SỰ KIỆN TRONG NĂM HỌC 2024-2025 LỚP 5 – 6 TUỔI A1 Tháng Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5 (Từ 23/09 đến (Từ 04/09 đến (Từ 9/09 đến (Từ 16/09 đến 27/09) 06/09) 13/09) 20/09) 9 Các cô các bác Ổn định tổ Trường Mầm Lớp học của trong trường chức non của bé bé mầm non (Từ 21/10 đến (Từ 07/10 đến (Từ 14/10 đến (Từ 28/10 (Từ 30/9 đến 25/10) 11/10) 18/10) đến 01/11) 10 04/10) Tôi cần gì để Sự kỳ diệu của Sự kiện: Mẹ Bạn Trai - Dự án rau cải lớn lên và cơ thể yêu Bạn Gái khỏe mạnh (Từ 11/11 đến (Từ 18/11 đến (Từ 25/11 đến (Từ 04/11 đến 15/11) 22/11) 29/11) 11 08/11) Khám phá Cô giáo của Các món ăn từ Dự án ngô Bắp ngô em ngô (Từ 02/12 đến (Từ 9/12 đến (Từ 16/12 đến (Từ 23/12 đến 06/12) 13/12) 12 20/12) 27/12) Dự án: Chú bộ Dự án: Chú bộ Gia đình bé Một số nghề đội đội 6 Tháng Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5 (Từ 30/12 đến 03/01) (Từ 06/01 đến (Từ 13/01 đến (Từ 20/01 đến Từ 27/1 đến Nét đẹp văn 10/01) 17/01) 24/01) 31/1/) 1 hóa Mường Một số loại Một số loại Tết nguyên Nghỉ tết - Tết dương hoa quả đán nguyên đán lịch (Từ 17/02 đến (Từ 24/02 đến (Từ 3/01 đến (Từ 10/02 đến 21/02) 28/02) 2 7/02) 14/02) Một số con vật Một số con vật Dự án: Bướm Dự án: Bướm nuôi trong gia sống dưới đình nước (Từ 10/03 đến (Từ 17/03 đến 14/03) 21/03) (Từ 24/03 đến (Từ 3/03 đến Một số Một số 28/03) 3 07/03) phương tiện phương tiện Một số biển Sự kiện 8/3 giao thông giao thông báo giao thông đường bộ đường thủy (Từ 14/04 đến (Từ 21/04 đến (Từ 31/03 đến (Từ 07/04 đến 18/04) 25/04) 4 04/04) 11/04) Nước và hiện Các mùa trong Dự án: Gạo Dự án: Gạo tượng tự nhiên năm (Từ 12/05 đến 16/05) (Từ 28/04 đến (Từ 05/05 đến Bác Hồ với 02/05) 9/05) 5 các cháu thiếu Trường Tiểu Đồ dùng khi nhi- tạm biệt học bé vào lớp 1 trương mẫu giáo. Dựa vào bảng chủ đề sự kiện của năm học trên tôi tìm ra các biện pháp để xây dựng kế hoạch trang trí môi trường lớp học theo kế hoạch của tháng bám vào chủ đề sự kiện như sau: Ví dụ: 7 KẾ HOẠCH XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG LỚP HỌC Tháng Nội dung xây dựng môi trường lớp học Kết quả Tuần - Trang trí môi trường lớp học tuần 2 với chủ đề “trường mầm non của bé” - Trang trí các mảng tường ở các góc chơi theo Tuần 2 chủ đề - Làm và chuẩn bị đồ chơi ở các góc theo chủ đề sự kiện - Vệ sinh lớp học - Trang trí môi trường lớp học tuần 3 theo chủ đề “Lớp học của bé” - Trang trí các mảng tường ở các góc chơi theo Tháng 9 Tuần 3 chủ đề - Làm và chuẩn bị đồ chơi ở các góc theo chủ đề sự kiện - Vệ sinh lớp học - Trang trí môi trường lớp học tuần 4 theo chủ đề “Các cô bác trong trường” - Trang trí các mảng tường ở các góc chơi theo Tuần 4 chủ đề - Làm và chuẩn bị đồ chơi ở các góc theo chủ đề - Vệ sinh lớp học Sau khi đã xây dựng xong kế hoạch “Xây dựng môi trường lớp học lấy trẻ làm trung tâm”. Hết tháng những công việc nào chưa thực hiện được hay đã thực hiện nhưng còn hạn chế thì bản thân tôi sẽ rút kinh nghiệm để tháng sau thực hiện tốt hơn. 2.2. Giải pháp 2: Xây dựng môi trường tạo góc mở cho trẻ hoạt động Môi trường giáo dục của nhà trường nói chung và môi trường hoạt động tại nhóm lớp của trẻ nói riêng, có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công trong học tập của trẻ. Môi trường học tập lấy trẻ làm trung tâm là môi trường hoạt động mà trẻ tham gia xây dựng cùng giáo viên và là môi trường giáo dục dựa vào nhu cầu, hứng thú và khả năng của trẻ như: Sắp xếp thuận tiện khi sử dụng; phong phú các góc hoạt động; học liệu đa dạng, hấp dẫn, khuyến khích trẻ có thể sử dụng theo nhiều cách sáng tạo khác nhau. Tận dụng nguyên vật liệu sẵn có, kích thích trẻ tư duy, chủ động, tích cực như: tìm tòi, khám phá, trải nghiệm, thực hành sáng tạo, hợp tác trò chuyện và chia sẻ ý tưởng. 8 Môi trường giáo dục trong trường mầm non gồm môi trường trong lớp, môi trường ngoài lớp và môi trường xã hội. Cả ba môi trường này đều rất quan trọng đến việc dạy và học của cô và trẻ. Trẻ em sẽ tham gia vào các hoạt động và các loại trò chơi khác nhau tùy thuộc vào môi trường mà trẻ đang ở đó. Vì vậy trẻ cần có cơ hội để chơi và học ở môi trường bên trong và môi trường bên ngoài lớp học. Trong lớp học không thể thiếu những góc chơi của trẻ, do đó để lớp học thêm lôi cuốn trẻ các cô giáo cần tạo nên một môi trường trong lớp học với những màu sắc sinh động và ngộ nghĩnh. Môi trường có không gian, cách sắp xếp phù hợp, gần gũi, quen thuộc với cuộc sống thực hàng ngày của trẻ, với nhiều ý tưởng và hình thức khác nhau theo chủ đề sự kiện của tuần trong tháng. Môi trường ngoài lớp học là yếu tố góp phần tích cực trong các hoạt động nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục toàn diện trẻ. Xây dựng môi trường ngoài lớp học phù hợp, an toàn, sạch đẹp, hấp dẫn sẽ tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, đáp ứng nhu cầu chơi của trẻ. Chính vì vậy mà trong năm học này cô và trò lớp tôi đã kết hợp cùng với nhà trường xây dựng môi trường bên ngoài lớp học với nhiều khu vui chơi kích thích trẻ hoạt động tích cực. Môi trường xã hội là môi trường trong nhà trường, gia đình và xã hội. Ở môi trường này cần quan tâm đến sự giao tiếp của cô với cô, cô với trẻ, trẻ với trẻ, cô với phụ huynh. Và cần xây dựng môi trường giao tiếp chân tình, cởi mở, giáo viên quan tâm đều đến các trẻ, yêu thương tôn trọng trẻ, đối xử công bằng với mọi trẻ, lắng nghe ý kiến của trẻ, tôn trọng trẻ. Giáo viên, người lớn cần là tấm gương cho trẻ học tập và làm theo. Một môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí khu vực chơi, học trong lớp và ngoài trời phù hợp, thuận tiện có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển thể chất của trẻ, mà còn thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ, kích thích trẻ hoạt động tích cực, sáng tạo. Môi trường giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa cô với trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với môi trường xung quanh sẽ tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ, giãi bày tâm sự, nguyện vọng, mong ước của trẻ với cô, với bạn bè, nhờ vậy mà cô hiểu trẻ hơn, trẻ hiểu nhau hơn, hoạt động phối hợp nhịp nhàng hơn nên hiệu quả hoạt động cũng cao hơn, trẻ yêu trường, yêu lớp, yêu cô giáo và bạn bè hơn. Xây dựng tốt môi trường giáo dục trong trường mầm non là phương tiện, điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, khả năng thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội, tạo tiền đề vững chắc cho trẻ mầm non vào học lớp 1 trường tiểu học; phù hợp với phương châm của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo: "Học bằng chơi, chơi mà học". 9 2.3. Giải pháp 3: Làm thêm đồ dùng, đồ chơi tự tạo Mỗi đồ dùng đồ chơi phải phù hợp với độ tuổi và mục đích giáo dục trẻ theo từng chủ đề - sự kiện, kích thích trẻ phát triển các lĩnh vực vận động, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và mối quan hệ xã hội. Đồ dùng, đồ chơi phong phú về thể loại: Tự làm, mua sẵn, lá cây, hột, hạt, len, vải vụn để khuyến khích trẻ trải nghiệm. Nên có đồ dùng đã hoàn thiện và chưa hoàn thiện để trẻ chơi. Đồ dùng, đồ chơi ở các góc phải được sắp xếp gọn gàng, khoa học, dễ lấy, tiện cho trẻ khi sử dụng. Đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động được bổ xung theo giai đoạn. Màu sắc, hình dáng đồ dùng đồ chơi đẹp, hấp dẫn trẻ, đảm bảo an toàn. Các loại đồ dùng của trẻ có nhãn hoặc ký hiệu bằng chữ cái, số nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ tự lấy đồ dùng mà không cần sự trợ giúp của cô, trẻ có thể tự bảo quản đồ dùng cá nhân của mình. Tôi luôn tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn, điều này không những khuyến khích trẻ hoạt động một cách tích cực, tiết kiệm được kinh phí mà còn là một hình thức liên kết giữa gia đình với cô giáo một cách tự nhiên. Mỗi chủ đề sự kiện mới tôi khuyến khích cha mẹ cho con em mình mang phế liệu không dùng đến nữa, từ những đồ dùng đó cô và trẻ cùng tạo ra những sản phẩm phục vụ cho quá trình học của trẻ. Làm đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên phù hợp với từng chủ đề sự kiện nhưng có thể sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau. Ví dụ: Tôi tự cho trẻ lớp tôi tự gấp những chiếc thuyền bằng giấy có thể cho trẻ học đếm trong toán, cũng có thể cho trẻ chơi xây dựng, cũng có thể cho trẻ chơi thả vật chìm, nổi. 2.4. Giải pháp 4: Hướng dẫn trẻ hoạt động Với quan điểm của tôi giáo viên mầm non là người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng cho sự phát triển nhân cách và nhận thức của trẻ. Để thực hiện mục tiêu này, bằng những kiến thức sư phạm cùng kinh nghiệm “đọc vị” tâm lý trẻ, tôi đã đúc kết nên những sáng kiến có giá trị trong đổi mới phương pháp giảng dạy. Theo tôi ở mỗi độ tuổi trẻ có một cá tính khác nhau. Vì vậy, giáo viên mầm non luôn phải khéo léo khai thác tính cách của trẻ. “Muốn tiết học hiệu quả thì người thầy luôn phải thấu hiểu trẻ. Đối với học sinh nghịch ngợm, tôi luôn khéo léo nhắc nhở các con như “Hôm nay cô thấy con chưa được ngoan. Nếu tập trung hơn chắc chắn con sẽ làm tốt”. Hay đối với những trẻ nhút nhát, tôi luôn tích cực để các con tham gia hoạt động góc và sẽ biểu dương khi con hoàn thành nhiệm vụ” Khi tổ chức các hoạt động luôn đặt trẻ vào trung tâm của quá trình giáo dục, có nghĩa là tạo mọi cơ hội cho trẻ được tham gia vào các hoạt động. Muốn trẻ được chơi tích cực, chơi sáng tạo, nghĩ ra nhiều cách chơi trong các góc hoạt động 10 ngay từ đầu tôi phải biết cách giới thiệu các góc chơi và quản lý tốt qúa trình trẻ chơi trong các góc. Biện pháp này giúp trẻ chủ động tìm kiếm đồ chơi khi cần, triển khai trò chơi, thu dọn và cất đồ chơi đúng quy định. Hoạt động góc là cách tổ chức lớp học không mới. Tuy nhiên, làm thế nào để trẻ được học thông qua hoạt động vui chơi mà không bị gò bó lại là một thách thức. Việc giới thiệu cho trẻ làm quen với các góc chơi tiến hành chủ yếu vào đầu năm học, khi trẻ còn bỡ ngỡ, chưa quen với đồ dùng đồ chơi quanh lớp, chưa biết tên đồ chơi, vị trí đồ chơi và các chỗ để chơi vì vậy tôi phải giúp trẻ biết nơi để các đồ chơi, các góc chơi bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đâu. Giới thiệu góc chơi nên tiến hành ngay đầu giờ chơi. Khi trẻ đã quen dần với các góc chơi và vị trí các đồ chơi thì cứ mỗi đầu chủ đề nên giới thiệu nội dung chơi của từng chủ đề sự kiện chính của từng tuần. 2.5. Giải pháp 5: Tuyên truyền phối hợp với phụ huynh. Để phụ huynh giúp đỡ, hỗ trợ, hợp tác một cách tự giác và có hiệu quả. Tôi đã thông qua chương trình giảng dạy đổi mới, chương trình ứng dụng công nghệ thông tin qua bảng tuyên truyền của lớp, của trường, qua các cuộc họp phụ huynh định kỳ, để phụ huynh hiểu được tác dụng của việc dạy đổi mới hình thức áp dụng quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” tổ chức giáo dục trẻ như thế nào. Gửi kế hoạch dự kiến hoạt động tháng đến phụ huynh, trong tháng cần đến những đồ dùng gì? Từ đó phối hợp với phụ huynh cùng làm đồ dùng học tập cho các con. Tôi thông báo với phụ huynh về thời gian biểu của lớp, tuyên truyền nội dung giảng dạy đến phụ huynh, mời phụ huynh tham quan lớp, dự giờ một số tiết dạy, để từ đó giúp phụ huynh biết và hiểu được quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” là như thế nào. Như vậy mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường nói chung với giáo viên nói riêng được gắn kết bền chặt hơn. 2.6. Giải pháp 6: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Ngay từ đầu năm học Ban Giám Hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Chú trọng phương pháp thực hành “lấy trẻ làm trung tâm”. Phải nói rằng việc tự học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân là điều đặt lên hàng đầu đối với mỗi giáo viên. Muốn thực hiện được điều đó mỗi giáo viên phải tự tìm tòi sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng để trau dồi bản thân. Luôn nắm vững tâm sinh lý của trẻ để có phương pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ, không để trẻ nhàm chán im lặng, phải giúp trẻ hoạt động tích cực vào các hoạt động, gây hứng thú và sự chú ý cho trẻ. 11 Thực hiện đầy đủ các đợt chuyên đề. Ngoài ra luôn có ý thức học hỏi những người đi trước, dự giờ, tham quan các lớp, trường bạn nhằm trau dồi kiến thức, học những điều hay, điều mới lạ để thực hiện trong việc xây dựng môi trường lớp học áp dụng quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” có hiệu quả nhất. 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến. 3.1. Về phía giáo viên. Sau khi tiến hành những biện pháp trên bản thân tôi được trau rồi thêm kiến thức và có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” phù hợp với độ tuổi. Khi thực hiện xong đề tài này tôi sẽ rút ra được bài học kinh nghiệm, khắc phục những gì còn hạn chế để những năm học sau sẽ thực hiện đề tài này đạt hiệu quả cao hơn. 3.2. Về phía phụ huynh. - Giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc dạy học láy trẻ làm trung tâm. - Qua trao đổi với giáo viên phụ huynh nắm được tình hình học tập, có giải pháp phù hợp để giúp trẻ tiến bộ hơn. - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được và đã có sự quan tâm bằng việc ủng hộ giáo viên những nguyên vật liệu để giáo viên và trẻ làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ ở lớp. 3.3. Về phiá trẻ. Nhờ áp dụng dần dần từng bước, từng ngày quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” sau một năm thực hiện các biện pháp “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi”. Trẻ lớp tôi hứng thú, tích cực vào hoạt động cô đã tạo ở trong lớp, có kỹ năng tham gia vào các hoạt động, bổ sung kiến thức khá phong phú, cũng có kiến thức vững vàng. Sau một năm thực hiện tôi đã thu được kết quả rõ rệt được thể hiện qua bảng sau: Bảng tổng hợp kết quả cuối năm về khả năng hoạt động của trẻ Cuối năm Tổng Stt Tiêu chí đánh giá Đạt Chưa đạt số trẻ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng (%) lượng (%) Trẻ hoạt động tích cực vào môi 1 35 32 91% 3 9% trường trong lớp và ngoài lớp Trẻ mạnh dạn tự tin thể hiện mối quan hệ giao tiếp với cô và bạn, 2 35 27 77% 8 23% thể hiện môi trường quan hệ xã hội Kỹ năng sử dụng môi trường 3 35 23 66% 12 34% trong lớp và ngoài lớp 12 4. Hiệu quả của sáng kiến. 4.1. Hiệu quả về khoa học. Sáng kiến đã đưa ra được nhiều giải pháp mới có tác dụng giúp trẻ hoạt động tích cực vào môi trường trong lớp và ngoài lớp. Trẻ mạnh dạn tự tin thể hiện mối quan hệ giao tiếp với cô và bạn, thể hiện môi trường quan hệ xã hội. 4.2. Hiệu quả về kinh tế. Đề tài tôi thực hiện chủ yếu sử dụng các nguyên vật liệu tự nhiên như: lá cây, hoa...và nguyên vật liệu tái chế như: lon bia, bìa cat tông, ...Chính vì vậy đã giảm thiểu được rất nhiều kinh phí trong việc mua đồ dùng, đồ chơi, 4.3. Hiệu quả về xã hội. Trẻ hào hứng khi được đến trường, lớp, hứng thú và chủ động hơn khi tham gia vào các hoạt động. Trẻ có những kiến thức cơ bản về các hiện tượng xung quanh. Phụ huynh hài lòng với việc chăm sóc, giáo dục của nhà trường. 5. Tính khả thi. Giải pháp được áp dụng cho trẻ lớp 5 tuổi A1 trường mầm non Ba Trại A năm học 2024-2025 và mang lại hiệu quả cao. Đặc biệt với môi trường lớp học được cô bố trí sắp xếp khoa học và có hướng mở đã tạo được hứng thú cho trẻ tham gia hoạt động. Đề tài này có thể được áp dụng ở các lớp trong độ tuổi mẫu giáo lớn và trẻ 5 tuổi đang theo học tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến. Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến. Để thực hiện đề tài này một phần tôi cũng nhờ đến sự giúp đỡ của phụ huynh ủng hộ, khuyên góp những nguyên vật liệu, đồ dùng cho trẻ hoạt động. Còn lại tôi tự tìm kiếm và sưu tầm. Do vậy mà kinh phí làm đề tài này của tôi không mất nhiều kinh phí mà lại đạt hiệu quả cao. PHẦN III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT - Đối với cấp trên và phòng giáo dục: Bộ giáo dục xuất bản các tư liệu, tài liệu tham khảo về áp dụng “lấy trẻ làm trung tâm”, bổ sung các tài liệu giáo trình giảng dạy áp dụng lấy trẻ làm trung tâm đến tay giáo viên mầm non. Phòng giáo dục tạo điều kiện tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên hướng dẫn giáo viên trong việc áp dụng lấy trẻ làm trung tâm thông qua hoạt động hàng ngày của trẻ. Hàng năm tổ chức hội thi thiết kế môi trường giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” cấp huyện và cấp thành phố. 13 - Đối với nhà trường: Tạo điều kiện cho giáo viên thăm quan học hỏi dự giờ những tiết dạy mẫu, dạy giỏi để nâng cao trình độ. Tổ chức các tiết kiến tập theo chuyên đề: “Lấy trẻ làm trung tâm”. Cần trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học cho cô và trẻ để trẻ được hoạt động một cách tích cực nhất. - Đối với giáo viên: Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức và kỹ năng hoạt động của trẻ để lựa chọn phương pháp thích hợp. Trong quá trình áp dụng các biện pháp, cần chú ý kết hợp nhiều biện pháp với nhau để đạt hiệu quả cao. Tích cực học hỏi và nghiên cứu tài liệu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Trên đây là một số kinh nghiệm “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 5-6 tuổi” mà tôi đã áp dụng để thực hiện. Do phạm vi nghiêm cứu chỉ tập trung ở một đối tượng học sinh và bó hẹp phạm vi trong một lớp học, thời gian áp dụng chưa được nhiều và đây mới là kinh nghiệm của riêng cá nhân tôi, vậy nên chắc chắn sẽ còn nhiều hạn chế cần bổ sung và điều chỉnh. Vì vậy kính mong được đón nhận những góp ý, bổ sung của Hội đồng khoa học giáo dục để sáng kiến kinh nghiệm này phong phú và đạt hiệu quả hơn, thực hiện tốt hơn trong những năm học tiếp theo. Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ba Trại, ngày 20 tháng 3 năm 2025 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Người viết sáng kiến (Ký tên, đóng dấu) (Ký tên) Khương Thị Lan 14 CÁC MINH CHỨNG Minh chứng cho giải pháp 2: Ảnh minh họa: Thiết kế môi trường hoạt động bên trong lớp với nhiều hình thức khác nhau
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_xay_dung_moi_truong_giao_duc_lay_tre_l.pdf

