SKKN Một số biện pháp làm đồ dùng , đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo 3- 4 tuổi
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và đồ chơi là phương tiện giúp trẻ thực hiện hoạt động đó, đồng thời cũng chính là cách giúp trẻ tiếp thu bài học một cách sinh động, nhiệt tình hơn.
Đối với trẻ nhỏ, đồ chơi là một nhu cầu thiết yếu, không thể thiếu được trong cuộc sống. Nó cần thiết với trẻ như thức ăn, nước uống hàng ngày, nếu như trẻ thỏa mãn với nhu cầu tìm hiểu và khám phá ra những đồ dùng, đồ chơi thì trẻ sẽ được phát triển một cách toàn diện.
Hiện nay đồ dùng, đồ chơi cho trẻ em rất phổ biến trên thị trường, tuy nhiên xét về phương diện giáo dục thì chúng chưa đủ để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và mục đích của chương trình dạy học ở trường Mầm non. Hơn nữa việc mua quá nhiều đồ dùng, đồ chơi cho trẻ làm ảnh hưởng đến kinh tế của nhà trường và các bậc phụ huynh, trong khi các đồ phế phẩm từ gia đình, các nguyên vật liệu đã qua sử dụng đang sẵn có và có rất nhiều thứ có thể tái sử dụng để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. Khi có những đồ chơi làm từ phế phẩm do cô làm hoặc trẻ tự tay làm ra, trẻ sẽ cảm thấy có giá trị và biết ý thức giữ gìn đồ dùng, đồ chơi.
Đồ dùng đồ chơi còn giúp trẻ chơi hoạt động góc, giúp trẻ hiểu được nội dung của công việc thật mà trẻ chưa được trải nghiệm, giúp trẻ từ chỗ không biết, chưa hiểu rõ, thông qua chơi hoạt động góc trẻ được tái tạo lại những sự vật, hiện tượng bên ngoài, hoạt động bắt chước người lớn vào hoạt động của trẻ một cách tự nhiên, giúp trẻ tổng hợp lại kiến thức đã học trong mỗi chủ đề. Hơn nữa việc tổ chức ra những trò chơi và tận hưởng cảm giác thú vị khi hoàn thành sản phẩm từ những trò chơi ấy luôn là một trò vui hấp dẫn, kích thích trẻ say mê tính sáng tạo.
Là một giáo viên mầm non, tôi cũng thấu hiểu được tầm quan trọng trong việc làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ hoạt động góc đối với sự phát triển của trẻ là rất lớn. Chính những lý do trên đã thúc đẩy tôi tìm tòi nghiên cứu đề tài “Một số biệt pháp làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi ” nhằm góp phần giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất.
2. Mục đích nghiên cứu.
Tôi nghiên cứu đề tài “Một số biệt pháp làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi ” nhằm tìm ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động góc cho trẻ 3- 4 tuổi.
3. Đối tượng nghiên cứu:
“Một số biệt pháp làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi ” tại Trường mầm non.
4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm:
- Trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi.
- Số trẻ nghiên cứu là 25 trẻ.
5. Phương pháp nghiên cứu:
a.Nhóm thu thập xử lý thông tin lý thuyết
- Tìm tài liệu
- Phân tích tổng quát hoá cơ sở lý luận
- Phương pháp thực nghiệm ( khảo sát)
b. Nhóm thu thập xử lý thông tin thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp động viên, khuyến khích
- Phương pháp tuyên truyền.
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Đề tài thực hiện và áp dụng tại trường Mầm non nơi tôi công tác.
- Thời gian từ tháng 9/2020 đến tháng 5 năm 2021.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp làm đồ dùng , đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo 3- 4 tuổi
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm Huyện Ba Vì Ngày Trình độ Chức Họ và tên tháng Nơi công tác chuyên Tên sáng kiến danh năm sinh môn Một số biện pháp làm đồ Phương Thị Trường MN Giáo dùng , đồ chơi cho trẻ trong 15/12/1989 Cử nhân Dung Chu Minh viên hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Giáo dục mẫu giáo - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: ngày 1/12/2020 - Mô tả bản chất của sáng kiến “ Một số biện pháp làm đồ dùng , đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo 3- 4 tuổi” ” Sáng kiến trình bày theo đúng thể thức văn bản khoa học. Kết cấu sáng kiến gồm 3 phần( Đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận và khuyến nghị) sáng kiến đã đưa ra các giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng hoạt động âm nhạc cho trẻ đặc biệt là hoạt động cho trẻ làm quen với làn điệu dân ca Việt Nam. Sáng kiến gồm 5 giải pháp chính đó là: * Biện pháp1: Lập kế hoạch tổ chức, tạo môi trường lớp học * Biện pháp 2: Tuyên truyền , phối hợp với phụ huynh * Biện pháp 3: Làm đồ dùng , đồ chơi theo từng tháng. * Biện pháp 4: Tổ chức cho trẻ lầm đồ dùng, đồ chơi cùng cô * Biện pháp 5: Xây dựng các góc ở.. - Những thông tin cần bảo mật: Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: thời gian - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả * Đối với trẻ: + Thỏa mã nhu cầu vui chơi của trẻ. + Trẻ hứng thú, phấn khởi, tự tin tham gia vào hoạt động, mạnh dạn trong giao tiếp với bạn bè , với cô giáo. +Trẻ biết sử dụng đồ dùng khéo léo hơn , biết tạo ra nhiều sản phẩm đẹp hơn và có nhiều sáng tạo khi tạo ra sản phẩm mới. + Biết thể hiện tình cảm giao lưu giữa bạn bè, giữa trẻ và cô, thích chơi cùng bạn và biết được nhiệm vụ của mình và bạn trong khi chơi, có thái độ tự giác cùng bạn đến góc chơi, hứng thú trong khi chơi. + Trẻ có môi trường hoạt động phát huy được khả năng hoạt động tích cực cho trẻ. * Đối với cô: Nắm chắc nội dung, phương pháp tổ chức một giờ hoạt động góc cho trẻ. Có nhiều kinh nghiệm tạo môi trường lớp học và biết tạo nhiều góc mở cho trẻ hoạt động và làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo rất phong phú. Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Nơi công Ngày Trình độ Số Họ và tác (hoặc Chức Nội dung công tháng năm chuyên TT tên nơi thường danh việc hỗ trợ sinh môn trú) 1 Nguyễn 04/07/1991 Trường Giáo Cử nhân Tham gia hỗ trợ Thị MN Chu viên thực hiện các giải Thúy Minh pháp của SKKN Anh Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chu Minh, ngày 8 tháng.5 năm 2021 (Ký và ghi rõ họ tên) Người nộp đơn Phương Thị Dung Phương Thị Dung 1/21 MỤC LỤC I Đặt vấn đề Trang 1 1. Lý do chọn đề tài Trang 1 2. Mục đích nghiên cứu Trang 2 3. Đối tượng nghiên cứu Trang 2 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 2 5. Phương pháp nghiên cứu Trang 2 II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Trang 3 1. Cơ sở lý luận Trang 3 2. Thực trạng Trang 3 3. Các biện pháp thực hiện Trang 5 a. Các biện pháp chính Trang 5 b. Quá trình thực hiện đề tài Trang 5 5. Kết quả sau khi thực hiện đề tài Trang 18 a. Kết quả đạt được Trang 18 b. Kết quả số liệu cụ thể Trang 19 c. Rút bài học kinh nghiệm Trang 19 III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. Trang 20 2/21 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và đồ chơi là phương tiện giúp trẻ thực hiện hoạt động đó, đồng thời cũng chính là cách giúp trẻ tiếp thu bài học một cách sinh động, nhiệt tình hơn. Đối với trẻ nhỏ, đồ chơi là một nhu cầu thiết yếu, không thể thiếu được trong cuộc sống. Nó cần thiết với trẻ như thức ăn, nước uống hàng ngày, nếu như trẻ thỏa mãn với nhu cầu tìm hiểu và khám phá ra những đồ dùng, đồ chơi thì trẻ sẽ được phát triển một cách toàn diện. Hiện nay đồ dùng, đồ chơi cho trẻ em rất phổ biến trên thị trường, tuy nhiên xét về phương diện giáo dục thì chúng chưa đủ để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và mục đích của chương trình dạy học ở trường Mầm non. Hơn nữa việc mua quá nhiều đồ dùng, đồ chơi cho trẻ làm ảnh hưởng đến kinh tế của nhà trường và các bậc phụ huynh, trong khi các đồ phế phẩm từ gia đình, các nguyên vật liệu đã qua sử dụng đang sẵn có và có rất nhiều thứ có thể tái sử dụng để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. Khi có những đồ chơi làm từ phế phẩm do cô làm hoặc trẻ tự tay làm ra, trẻ sẽ cảm thấy có giá trị và biết ý thức giữ gìn đồ dùng, đồ chơi. Đồ dùng đồ chơi còn giúp trẻ chơi hoạt động góc, giúp trẻ hiểu được nội dung của công việc thật mà trẻ chưa được trải nghiệm, giúp trẻ từ chỗ không biết, chưa hiểu rõ, thông qua chơi hoạt động góc trẻ được tái tạo lại những sự vật, hiện tượng bên ngoài, hoạt động bắt chước người lớn vào hoạt động của trẻ một cách tự nhiên, giúp trẻ tổng hợp lại kiến thức đã học trong mỗi chủ đề. Hơn nữa việc tổ chức ra những trò chơi và tận hưởng cảm giác thú vị khi hoàn thành sản phẩm từ những trò chơi ấy luôn là một trò vui hấp dẫn, kích thích trẻ say mê tính sáng tạo. Là một giáo viên mầm non, tôi cũng thấu hiểu được tầm quan trọng trong việc làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ hoạt động góc đối với sự phát triển của trẻ là 3/21 rất lớn. Chính những lý do trên đã thúc đẩy tôi tìm tòi nghiên cứu đề tài “Một số biệt pháp làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi ” nhằm góp phần giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. 2. Mục đích nghiên cứu. Tôi nghiên cứu đề tài “Một số biệt pháp làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi ” nhằm tìm ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động góc cho trẻ 3- 4 tuổi. 3. Đối tượng nghiên cứu: “Một số biệt pháp làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi ” tại Trường mầm non. 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm: - Trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi. - Số trẻ nghiên cứu là 25 trẻ. 5. Phương pháp nghiên cứu: a.Nhóm thu thập xử lý thông tin lý thuyết - Tìm tài liệu - Phân tích tổng quát hoá cơ sở lý luận - Phương pháp thực nghiệm ( khảo sát) b. Nhóm thu thập xử lý thông tin thực tiễn - Phương pháp quan sát - Phương pháp đàm thoại - Phương pháp thực hành - Phương pháp động viên, khuyến khích - Phương pháp tuyên truyền. - Phương pháp kiểm tra, đánh giá. 6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: - Đề tài thực hiện và áp dụng tại trường Mầm non nơi tôi công tác. - Thời gian từ tháng 9/2020 đến tháng 5 năm 2021. 4/21 PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận. Theo điều 23 luật giáo dục mầm non 2005 ban hành số 38/2005 QH11 ngày 14/6 /2005 yêu cầu về nội dung và phương pháp Giáo dục mầm non đã ghi: Phương pháp giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện. Theo chương trình Giáo dục mầm non ( Ban hành kèm theo thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) cũng đã nêu rõ: Mục tiêu chung của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành cho trẻ cơ sở ban đầu về nhân cách con người, làm tiền đề cho sự phát triển tốt hơn trong những giai đoạn tiếp theo, hình thành và phát triển những chức năng tâm lý, năng lực phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi. vì thế giáo dục mầm non hiện nay đã và đang tiếp tục tìm ra những phương pháp mới để giảng dạy trong đó: Đồ chơi là người bạn không thể thiếu trong các trò chơi của trẻ và là nguồn vui của trẻ thơ, là những phương tiện trẻ dùng để vui chơi, là những đồ vật cụ thể giúp trẻ cầm, nắm dễ dànggiúp trẻ tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh, làm quen với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật khác nhau , biết được công dụng của chúng trong sinh hoạt và trong lao động của con người, còn là phương tiện giúp trẻ phát hiện ra những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội và dần dần biết gia nhập vào những mối quan hệ đó. Đồ chơi còn có tác dụng thúc đẩy, hình thành và phát triển các chức năng tâm lý, góp phần hình thành nhân cách ở trẻ trong đó việc phát triển tình cảm thẩm mỹ rất quan trọng. Vai trò và ý nghĩa của đồ chơi thật to lớn và sâu sắc, là nhu cầu tự nhiên không thể thiếu đối với cuộc sống tinh thần đối với mỗi đứa trẻ. Đồ chơi được lựa chọn đúng đắn sẽ thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ em. Có những đồ chơi giúp phát triển các cơ quan thụ cảm, những đồ chơi mô phỏng các đồ vật giúp trẻ nắm được hình dáng, cấu tạo, công dụng và phương thức sử dụng. Có những 5/21 đồ chơi thôi thúc trẻ tập nói, phát triển ngôn ngữ và làm phong phú thêm vốn từ. Những đồ chơi lắp ráp hay phương tiện giao thông giúp trẻ rèn luyện các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại,...làm phát triển tư duy ở trẻ thơ một cách hoàn thiện. Căn cứ Hướng dẫn số 3065/SGD&ĐT – GDMN ngày 21/9/2020 của sở giáo dục và đào tạo Hà Nội về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2020 – 2021. Thực hiện kế hoạch số 631/KH- GD&ĐT – MN ngày 25/ 9/ 2020 của phòng giáo dục và đào tạo Ba vì về kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học 2020 – 2021 cấp học mầm non huyện Ba Vì. Căn cứ vào điều kiện thực tế của trường mầm non Chu Minh. 2.Thực trạng. * Khảo sát thực tế . - Trong thực tế, qua nhiều năm làm công tác giảng dạy được tiếp xúc với trẻ, được xem trẻ chơi, tôi nhận thấy được rằng trẻ nhỏ rất thích được chơi với những đồ chơi mới lạ đặc biệt là những đồ chơi mà do tự tay trẻ làm ra. Trong khi đó, những đồ chơi hiện có trong lớp lại mang tính phổ biến, hạn chế về số lượng và ít được thay đổi. Vì vậy trẻ sẽ không phát huy được tính tích cực sáng tạo trong các hoạt động. - Tôi khảo sát 25 cháu lớp 3-4 tuổi. Trường mầm non nơi tôi công tác. a. Tình trạng thực tế khi chưa thực hiện: Đầu năm học 2020 - 2021, tôi được nhà trường phân công làm giáo viên , dạy lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi trường mầm non nơi tôi công tác, tôi đã nhận thấy những điều kiện thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi: - Có đủ 2 cô trên một lớp và trình độ đều đạt trên chuẩn. - Được nhà trường hỗ trợ mua sắm trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho hoạt động, có đủ các giá đựng đồ dùng, đồ chơi. Phòng học có diện tích rộng rãi, thoải mái phục vụ cho giờ chơi, đặc biệt thoáng mát, có đủ ánh sáng. - Có ý thức học hỏi, tìm tòi sáng tạo trong giảng dạy cùng với đồng nghiệp. 6/21 - Trẻ đến lớp 100% ngay từ đầu tháng 9 đã tạo điều kiện cho giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. - Đa số phụ huynh nhiệt tình có nhận thức về việc học tập của con mình, sẵn sàng hỗ trợ và tìm kiếm nguyên vật liệu cho việc làm đồ dùng, đồ chơi càng thêm phong phú và đa dạng. * Khó khăn: - Thời gian dành cho việc làm đồ dùng ở các góc còn ít hơn nữa đồ dùng hoạt động góc phải luôn thay đổi theo từng chủ đề. Đồ dùng, đồ chơi không đủ số lượng phục vụ cho hoạt động vui chơi của trẻ. - Đầu năm học trẻ đến lớp với thói quen tự do, chưa biết chơi với bạn, từ đó ảnh hưởng tới việc đưa trẻ vào nề nếp, dẫn đến trẻ chưa chủ động tham gia các hoạt động. Bên cạnh đó khả năng tiếp thu, khả năng tập trung của trẻ còn rất hạn chế, nhận thức chưa được đồng đều, đồng thời tính chuyên cần chưa cao. Tôi tiến hành khảo sát thực tế học sinh lớp 3- 4 tuổi như sau: + Trẻ có thói quen chơi với đồ chơi có sẵn nên ít có tư duy khi tham gia chơi. + Trẻ chưa mạnh dạn tự tin tham gia hoạt động. + Một số trẻ năng lực quan sát chưa tốt. Khả năng tưởng tượng kém. + Trẻ thiếu vốn kinh nghiệm sống nên thường gặp trở ngại khi cô gợi ý làm được đồ chơi. + Đồ dùng, đồ chơi và trang thiết bị phục vụ hoạt động vui chơi cho trẻ còn thiếu thốn nhiều, chưa kích thích được hứng thú chơi của trẻ + Một số trẻ trong lớp còn có tính thụ động ít giao lưu trong giờ chơi, chưa hứng thú vào môi trường trong lớp. * Giáo viên đã tạo được các góc mở, có biện pháp sáng tạo làm đồ dùng xây dựng môi trường lớp học. Nhưng chưa mạnh dạn, tự tin để độc lập xây dựng kế hoạch, nên chưa thể hiện nét đặc trưng riêng của mỗi cá nhân, chưa tạo được hứng thú và chưa phát huy được tính tích cực của trẻ 7/21 b. Số liệu điều tra. Tôi điều tra và đánh giá 25 trẻ lớp tôi theo các tiêu chí và kết quả như sau: Tiêu chí khảo sát Tổng Đầu năm ( Tháng 9) số Số trẻ % Số trẻ % trẻ đạt chưa đạt Trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia hoạt động 10/25 40% 15/25 60% Trẻ có kỹ năng giao tiếp, trao đổi 8/25 32% 17/25 68% Trẻ hứng thú làm đồ chơi 25 9/25 36% 16/25 64% Trẻ biết tạo ra sản phẩm. 12/25 48% 13/25 52% Từ những thuận lợi khó khăn trên cơ sở thực tế của lớp, của trường. Tôi đã đưa ra một số biện pháp sau. 3. Các biện pháp thực hiện 3.1. Lập kế hoạch tổ chức, tạo môi trường lớp học 3.2. Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh. 3.3. Làm đồ dùng đồ chơi theo từng tháng. 3.4.Tổ chức cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi cùng với cô. 3 .5. Xây dựng các góc mở 4. Biện pháp thực hiện ( Biện pháp từng phần) 4.1. Lập kế hoạch tổ chức, tạo môi trường lớp học: *Lập kế hoạch tổ chức: Muốn tổ chức bất cứ hoạt động nào cũng cần có kế hoạch tổ chức cụ thể. Vì vậy mà tôi cần lập kế hoạch thực hiện để xác định các nội dung phù hợp nhất với trẻ trong nhóm lớp mình. Qua đó, tôi có điều kiện quan tâm trẻ hơn, biết những mặt mạnh của trẻ để có những tác động phù hợp. Thời gian đầu khi tổ chức một số giờ hoạt động góc của lớp mình và các lớp trong khối, tôi thấy giáo viên còn lúng túng trong việc phân bố góc chơi, đồ dùng, đồ chơi ở các góc chưa tách bạch rõ ràng, chưa trang trí làm bắt mắt trẻ, nội dung chơi còn chung chung nên dẫn đến vai chơi không thể hiện mối quan hệ với nhau, hay nói một cách khác các góc chơi không hỗ trợ cho nhau. Muốn thực hiện các hoạt động một cách khoa học và có hiệu quả trước hết phải lập ra kế hoạch cho mình. Đầu năm học, căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của 8/21 ban giám hiệu tôi đã xây dựng kế hoạch theo năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần, kế hoạch ngày, xây dựng mục tiêu, nội dung. Khi xây dựng kế hoạch tôi nghiên cứu các mục tiêu áp dụng cho lứa tuổi này, tôi nhận thấy việc đánh giá sự phát triển của trẻ có nhiều mục tiêu phù hợp khi đưa vào hoạt động góc: Ví dụ: MT71: Có một số phẩm chất cá nhân: Mạnh dạn, tự tin, trung trực....Nên ngay từ đầu năm học tôi đã lựa chọn mục tiêu cho từng hoạt động, từng tháng cụ thể, nhất là các mục tiêu cần trẻ đạt qua hoạt động góc. Tôi áp dụng kế hoạch phù hợp nội dung trọng tâm, có thời gian biểu, kế hoạch hoạt động hàng tuần, tháng, năm. Khi thực hiện bài nào có đánh giá mục tiêu, tôi sử dụng bảng đánh giá trực tiếp, cháu nào làm được tự lấy lô gô tên trẻ cài vào mặt cười, cháu nào không thực hiện được thì lấy lô gô cài vào mặt mếu, điều này giúp trẻ tự biết kết quả của mình và ngày càng cố gắng hơn, trẻ hoạt động sau ở mỗi góc chơi đều có bảng đánh giá trực tiếp. Với những hôm không đánh giá mục tiêu tôi cũng sử dụng lô gô mặt cười và mặt mếu để đánh giá trẻ quá trình chơi và hoàn thành chơi. Kết quả trẻ thói quen, nề nếp tốt, chất lượng các giờ hoạt động góc được cải thiện rõ rệt từ chính ý thức và sự cố gắng của trẻ. Kế hoạch tôi cũng đề xuất nhà trường đầu tư một số nguyên vật liệu để phục vụ làm đồ dùng, đồ chơi cho các góc như: Keo nến, giấy bóng kính, giấy đề can, xốp màu... Tôi xây dựng kế hoạch chi tiết cụ thể phù hợp với từng tháng sau đó trình với ban giám hiệu và đã được ban giám hiệu nhất trí. * Tạo môi trường lớp học: Việc bố trí góc chơi phù hợp cũng là một trong những nội dung quan trọng góp phần làm nên sự thành công của giờ hoạt động góc. Góc hoạt động được thiết kế phù hợp với chiều cao của trẻ, với số lượng trẻ chơi mỗi góc phải được bố trí phù hợp, số lượng góc chơi đảm bảo với diện tích phòng nhóm. Các góc chơi khác nhau trong lớp nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ được nhiều hơn, hình thức phong phú, đa dạng có nhiều sáng tạo. Giúp trẻ tìm hiểu, khám phá cái mới và rèn luyện được các kỹ năng. Trong lớp tôi bố trí các góc như sau: Phân chia các góc chơi phù hợp: Các góc tĩnh sắp xếp liền với nhau, các góc động sắp xếp liền với nhau, không xen sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của trẻ. Các góc có khoảng rộng, cách nhau hợp lý để trẻ có thể đi lại dễ dàng, giao lưu giữa các góc thuận tiện, đảm bảo an toàn và vận động của trẻ. 9/21 Tạo ranh giới giữa các góc hoạt động: Tôi tận dụng giá dựng đồ chơi quay lại tạo thành ranh giới cho các góc, sao cho không che tầm nhìn của trẻ và đảm bảo việc quan sát của giáo viên. Ví dụ: Tôi bố trí góc xây dựng gần với góc bán hàng và không tạo vách ngăn để dễ dàng trao đổi mua bán các mặt hàng khi trẻ hoạt động, xa góc thư viện và góc học tập. Góc tạo hình gần nguồn nước, góc thiên nhiên và khám phá khoa học ở ngoài hiên. Khi cho trẻ chơi góc tôi tận dụng giá đồ chơi làm vách ngăn để tạo không gian riêng giữa các góc và làm giá treo sản phẩm cho trẻ. Để tạo ấn tượng các góc chơi cho trẻ tôi thường xuyên thay đổi cách bố trí, sưu tầm và thiết kế các hình ảnh ngộ nghĩnh, đáng yêu, màu sắc đẹp bắt mắt trẻ. Tên của góc chơi ngắn gọn, gần gũi trẻ và phù hợp với nội dung từng sự kiện - chủ đề trong tháng thực hiện như: khi thực hiện kế hoạch tháng 12 với chủ đề “ Nghề nghiệp” góc nấu ăn tôi đặt tên là “Đầu bếp tài ba”, góc xây dựng tên “Kỹ sư xây dựng:, hay góc sách lấy luôn tên là “Góc sách truyện”..... Từ đó sẽ giúp trẻ thích tham gia vào các góc một cách dễ dàng hơn và có hiệu quả cao. Như vậy, việc tạo môi trường lớp học đa dạng, phong phú và phù hợp với từng sự kiện - chủ đề tháng, sẽ kích thích sự tích cực, hứng thú của trẻ khi tham gia các hoạt động ở lớp, đồng thời trẻ biết thêm về thế giới xung quanh mình. 4.2. Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh Hàng năm nhà trường luôn tổ chức hội thi đồ dùng, đồ chơi tự tạo và tôi tuyên truyền đến phụ huynh nắm bắt được việc làm đồ dùng, đồ chơi cho con mình như thế nào, có khó khăn gì không, nên tôi đã đưa ra biện pháp vận động phụ huynh tham gia làm đồ dùng, đồ chơi. Tôi muốn phụ huynh giúp đỡ, hỗ trợ, hợp tác một cách tự giác có hiệu quả, tôi thông báo với phụ huynh về thời gian biểu của lớp, tuyên truyền nội dung giảng dạy đến phụ huynh, mời phụ huynh tham quan lớp, dự giờ một số tiết dạy, và tham quan triển làm đồ dùng, đồ chơi để phụ huynh hiểu ra những khó khăn hạn chế về cơ sở vật chất trang thiết bị để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu dạy và học hiện nay. Qua đó vận động phụ huynh tham gia đóng góp ủng hộ thêm để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ, vận động phụ huynh tạo điều kiện giúp đỡ, các phụ huynh hoàn toàn nhất trí, đồng thời rất quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ tôi, mọi người ủng hộ bằng những đồ dùng, những vật liệu, phế thải có thể sử dụng làm đồ dùng cho trẻ chơi, họ thu nhặt, cất giữ và gửi cho cô giáo (VD như: Vỏ sữa, Bìa cattong, cốc đựng thạch, vỏ can 10/21 nước rửa chén/bát, vỏ hến, vỏ trai, ống nước, dầu gội, vỏ lon bia, vỏ nhựa, vỏ hộp bánh ...) từ những phế liệu đó tôi và trẻ đã làm ra những đồ dùng, đồ chơi để trang trí cho môi trường lớp học của mình ngày càng phong phú. Thay cho lời tuyên truyền các bậc phụ huynh cho con đến lớp và nhờ có môi trường giáo dục đó, mà nó đã cuốn hút được trẻ đến lớp, thích tham ra các hoạt động của lớp của trường, góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động nói chung của lớp. Đặc biệt là hoạt động góc, trẻ rất hưng phấn, thể hiện hết mình. Để làm tốt công tác tuyên truyền các bậc phụ huynh, tôi coi trọng “Góc những điều phụ huynh cần biết”. Ở góc này tôi muốn gửi tới phụ huynh, những thông tin về trẻ, những điều cần phụ huynh giúp đỡ và đặc biệt là lời cảm ơn của tôi, đến phụ huynh đã có lòng giúp đỡ, vừa tỏ lòng biết ơn và cũng là một hình thức kích cầu với phụ huynh. 4.3. Làm đồ dùng đồ chơi Theo từng tháng. Để đáp ứng với nhu cầu chơi và sự phát triển của trẻ trong lớp, đồ dùng, đồ chơi phải phong phú đa dạng. Bằng những đôi bàn tay khéo léo và nhiều ý tưởng sáng tạo đồ dùng, đồ chơi đã được giáo viên sử dụng đưa vào giảng dạy tạo môi trường giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi và trong các hoạt động góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ. Chính vì vậy tôi đã áp dụng làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động góc để thu hút trẻ chơi theo từng tháng, từ nguyên phế liệu không còn công dụng tôi tận dụng, sáng tạo ra những sản phẩm hữu ích thiết thực phục vụ cho hoạt động góc. Tôi đã tận dụng: Thùng cattong, xốp, đĩa video cũ, giấy báo có trang bìa quảng cáo, chai nhựa, vỏ hộp sữa chua, sữa hút, hộp đựng cơm, vải vụn, chuỗi hạt, vỏ ốc, vỏ ngao, ống chỉ, tăm tre, khối gỗ, vv tất cả những nguyên vật liệu cần đảm bảo an toàn về tính mạng, không gây độc hại, không sắc nhọn, không nặng nề đối với trẻ. Từ những nguyên vật liệu trên tôi làm ra rất nhiều đồ chơi ở các góc cho trẻ hoạt động theo từng tháng với các nội dung cụ thể : *Về Trường mầm non: 11/21 - Đồ chơi đu quay + Nguyên liệu: Vỏ sữa chua, váng sữa, vỏ sữa hút, sữa su su, nắp chai, xốp, giấy đề can, keo nến, chai C2 ,xốp màu, đũa ăn một lần. + Cách làm: Lấy 1 vỏ hộp sữa chua úp xuống, cắt chai nước C2 làm 6 thanh rồi lấy 4 thanh cắt bỏ bớt 3 phân, dùng keo nến dán 4 thanh vào đáy hộp sữa chua, cắt ngang vỏ sữa su su lấy một phần dưới cắt đôi và dán vào các đầu thanh để tạo thành 4 chiếc ghế đu và lấy xốp các màu cắt dán vòng tròn, dùng keo nến gắn đũa để tạo thành mái che đu quay. + Mục đích sử dụng: Giúp trẻ nhận biết những đặc điểm của đu quay như: hình dáng, cấu tạo, màu sắc. + Mục đích khác: Giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của sản phẩm mà cô giáo đã tạo ra, bày đặt và trang trí các góc hoạt động trong lớp. - Ví dụ: Tôi đã chuẩn bị vỏ sữa chua, vỏ sữa hút , nắp chai, xốp, giấy đề can, keo nến, chai C2 cắt ra để tạo thành những chiếc đu quay, cầu bập bênh và từ ống xà phòng ô mô, bìa cứng, giây thép nhỏ, lõi ống chỉ, vỏ ống sữa bột, vỏ hộp kẹo, xốp chải nhà hỏng, đĩa cidi hỏng tạo thành bộ đồ dùng âm nhạc rất phong phú. *Về Bản thân: Tôi dùng vỏ phích nhựa, lõi ống chỉ, vỏ sữa fristi, bìa cứng, vỏ nước khoáng lavi, vải vụn, giây len, quả bóng hỏng, giấy decan, giấy nhăn làm thành bé trai, bé gái, búp bê mặc váy. Vỏ váng sữa cùng với xốp màu tạo ra những chiếc mũ và quần áo của bé rất xinh xắn. *Về Gia đình: Với vỏ bìa cacton của tủ lạnh cắt tạo thành cửa hàng, từ vỏ hộp Chocopie, vỏ hộp bánh trung thu kết hợp với giấy màu, giấy đề can, keo nến tạo ra những ngôi nhà rất đẹp hoặc dùng vỏ can dầu rửa bát, đĩa cidi cũ, vỏ sữa hút, hộp rượu tây, vỏ hộp mỳ tôm, hộp kẹo và một số nguyên liệu khác đã làm ra một số đồ dùng trong gia đình như: Xoong nồi, bếp ga, quạt điện, máy xay sinh tố, đèn ngủ, bàn là, tủ lạnh, giường, ti vi, bàn ghế, ấm chén 12/21 hoặc Dùng xốp, màu nước làm ra món nem, món trứng, món chả, món giò, bổng ngô . *Về Nghề nghiệp: Từ hộp thuốc, vỏ hộp bánh kẹo, vỏ chai dầu dán, quả bóng hỏng, bìa cứng tôi đã làm ra một số dụng cụ của nghề. * Về Thực vật: Ở chủ đề này tôi sử dụng cành cây khô, bìa lịch cùng với những sợi len, vỏ hộp sữa, xốp màu sẽ tạo ra sản phẩm là những cây rau, quả hoa, , rực rỡ. *Về Động vật: Vỏ ống sữa Milo, vỏ trai, vỏ hến, ống bia, quả bóng bàn, vỏ chai nước C2 kết hợp cùng giấy màu, xốp màu sẽ tạo ra sản phẩm là những con vật ngộ nghĩnh. Bìa cacton, giấy màu, xốp màu, tờ lịch, vỏ bánh kẹo, vỏ hộp mứt lấy keo nến, băng dính 2 mặt gắn làm ra những sản phẩm như: ngôi nhà, ô tô, dép, mũ Hoặc giấy bìa báo vò thành từng nắm nhỏ đắp núi, làm cây, làm lá; Từ những vải vụn làm thành những con rối để cho trẻ chơi đóng kịch, may quần áo,... Dùng giấy nhăn, giấy gói quà, tạo thành bông hoa, lãng hoa, cây và một số loại quả; quả nho, quả đu đủ,quả táo, quả xoài, quả dứa Cũng từ những nguyên vật liệu đó, trẻ sử dụng trong giờ hoạt động góc và trẻ làm ra nhiều sản phẩm như: Trẻ dùng vỏ chai nước trà xanh để xây hàng rào, thùng giấy làm xe kéo hàng, dùng hộp giấy làm ra một số biển báo phương tiện giao thông; dùng tăm tre gấp lại thành hình vuông, hình chữ nhật Thùng mỳ tôm, vỏ hộp kẹo, vỏ sữa hút fristi kết hợp cùng hồ dán, keo nến giấy xốp màu, giây len tạo ra sản phẩm là những chiếc đàn ghi ta, mũ âm nhạc, trống,mic... Và còn rất nhiều sản phẩm phục vụ cho từng góc chơi, phù hợp cho từng tháng tạo nên giờ hoạt động góc rất phong phú. Như vậy bằng nguyên vật liệu gần gũi với trẻ, tôi đã tạo ra những sản phẩm rất thân thiện hữu ích đối với trẻ. Từ đó sẽ kích thích được tính tò mò thu hút trẻ tham gia vào các góc chơi . 13/21 4.4. Tổ chức cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi cùng với cô. Khi trẻ làm đồ chơi dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ được tác đến các vật liệu và nhận thức được tính chất của chúng thay đối, đối dạng vật chất và biến nó thành đồ chơi. Đây là những điều kiện thuận lợi đế phát triển cơ quan cảm giác, đánh thức tư duy và góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nó kích thích lòng ham hiếu biết, hứng thú và niềm say mê nhận thức ở trẻ – một yếu tố cần thiết để giúp trẻ chuẩn bị bước vào lớp 1 ( phổ thông) Tự làm đồ chơi bằng vật liệu phế thải, từ thiên nhiên giúp trẻ phát triển óc sáng tạo, khả năng quan quan sát, làm việc kiên nhẫn , có chủ định và đôi tay trẻ ngày càng trở nên khéo léo. Khi nâng niu đồ chơi tự tay mình làm ra , trẻ sẽ biết trân trọng, giữ gìn sản phẩm lao động của mình và của mọi người, của bạn bè. 4.5. Xây dựng các góc mở cho trẻ hoạt động. Việc xây dựng góc mở để cho trẻ khám phá và trải nghiệm. Làm đồ dùng của góc chơi và làm cho góc hoạt động không bao giờ cũ đối với trẻ. Những sản phẩm luôn được thay đổi để phù hợp với các chủ đề trong năm học. Các góc hoạt động liên kết mật thiết với nhau. Qua mỗi buổi chơi được chia thành các nhóm chơi khác nhau, trẻ có thể tạo ra nhiều sản phẩm để trưng bày, cũng như sử dụng sản phẩm của các bạn khác trong lớp để chơi. Điều này làm cho mỗi buổi chơi trở nên phong phú hơn, hấp dẫn hơn và mang lại hiệu quả hơn. Không những vậy, việc tạo ra nhiều sản phẩm còn giúp cho trẻ những đức tính tốt như kiên trì, biết trân trọng và giữ gìn sản phẩm do chính mình hay người khác tạo ra. Để giúp trẻ có nhiều sáng tạo, tôi sử dụng những mảng tường và các giá đồ chơi để thiết kế thành những góc mở cho trẻ hoạt động. dùng những chiếc kẹp sắt , giấy bóng kính ở góc mở, tiện cho việc thay đổi các chủ đề không phải bóc dán nhiều chỉ cần thay đổi tranh ảnh và chủ yếu tạo nhiều góc mở để trẻ được làm ra nhiều sản phẩm của mình. Góc mở cần được thiết kế phù hợp với chiều cao của trẻ để trẻ có thể dễ dàng lấy, cất đồ chơi và tự ý trưng bày sản phẩm theo ý thích của mình. Sử dụng những sản phẩm do trẻ tạo ra để trang trí, 14/21 Ví dụ : Góc phân vai: bé chơi gia đình Đầu bếp tài ba: Trẻ biết chuẩn bị bữa ăn có các món ăn như: Đậu, trả, giò, cá, gà, rauvà đặc biệt món nem trẻ đã cắt từ những mảnh xốp màu vụn, lấy băng dính trắng cuốn thành từng miếng nem rất đa dạng. Ví dụ: Góc nghệ thuật: Tôi chuẩn bị như: ống hút, giấy màu, vỏ kẹo, cốc thạch, xốp màu, ống sữa hút, băng dính 2 mặt. Trẻ đã tạo ra những sản phẩm đơn giản như những lọ hoa làm từ vỏ kẹo, xốp màu... Ví dụ : Góc học tập: - Làm quen với toán: Cô đã đính sẵn trên góc phần mở là trẻ sẽ gắn hình ảnh theo số lượng cô đã đính. Trẻ được tạo nhóm, gắn số tương ứng, in đồ hình học. Ở góc này ngoài phần cô trang trí cho góc, có một phần mở trống để trẻ tham gia hoạt động. Khi trẻ tham gia hoạt động ở góc này trẻ sẽ tạo ra sản phẩm của trẻ. Ví dụ: Góc khám phá khoa học: * Tôi Chuẩn bị: - Các mẫu vật thí nghiệm như xốp bitis, sỏi, miếng nhựa hình con vịt, miếng sắt, miếng gỗ,bông hóa học , bông ytế , lá cây khô.. Khi trẻ chơi góc này, trẻ cho lần lượt từng đồ vật vào chậu nước và quan sát xem vật nào nổi, vật nào chìm sau đó ghi lại kết quả bằng ký hiệu. Và tôi chuẩn bị: Muối, cát, cốc, thìa, chai đựng nước. Trẻ được khám phá xem muối và cát chất nào tan, chất nào không tan. Tôi hướng dẫn trẻ lấy một lượng muối để vào cốc và lấy nước đổ vào sau đó lấy thìa khuấy đều, trẻ sẽ phát hiện muối là chất tan. Tương tự tôi cho trẻ lấy cát cũng làm như vậy và đã khám phá được cát là chất không tan. Từ đó trẻ tự tìm ra kết quả nhanh nhất để hoàn thành công việc của mình. Mỗi khi trẻ khám phá ra điều gì, tôi cho trẻ ghi kết quả bằng kí hiệu mà cô và cháu đã thỏa thuận để dễ kiểm tra. Khi thí nghiệm thành công, tôi thấy trên khuôn mặt các cháu lộ rõ vẻ thích thú, phấn khởi vô cùng và thực sự chủ động khi làm công việc thí nghiệm. 15/21 Góc mở sẽ gồm có sản phẩm của cô và sản phẩm của trẻ, chủ yếu sẽ là sản phẩm của trẻ. Các vật liệu dùng để hoạt động góc đều là sản phẩm thân thiện với trẻ. Từ đó trên sự hướng dẫn của cô trẻ sẽ tạo ra sản phẩm. Như vậy việc xây dựng góc mở sẽ giúp trẻ tích cực tham gia hoạt động, kích thích tư duy, sáng tạo từ đó sẽ phát triển trí tuệ cho trẻ. 5. Kết quả thực hiện: a. Kết quả đạt được: Trẻ thích tham gia vào các hoạt động của lớp, của trường, mạnh dạn trong giao tiếp với bạn với cô và hoạt động của trẻ có tính tập thể cao. Sử dụng đồ dùng khéo léo hơn, biết tạo ra nhiều sản phẩm đẹp hơn và có nhều sáng tạo khi tạo ra một số sản phẩm mới. Biết thể hiện tình cảm giao lưu giữa bạn bè, giữa trẻ và cô, thích chơi cùng bạn và biết được nhiệm vụ của mình và bạn trong khi chơi, có thái độ tự giác cùng bạn đến góc chơi, hứng thú trong khi chơi. Các nhóm lớp đều có môi trường lớp học thật phong phú và đa dạng. Đối với giáo viên: Nắm chắc nội dung, phương pháp tổ chức một giờ hoạt động góc cho trẻ. Có nhiều kinh nghiệm tạo môi trường lớp học và biết tạo nhiều góc mở cho trẻ hoạt động và làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo rất phong phú. b. Kết quả số liệu cụ thể * Số liệu điều tra và đánh giá 25 trẻ trước khi thực hiện đề tài: Tiêu chí khảo sát Tổ Đầu năm ( Tháng 9) ng Số trẻ % Số trẻ % số đạt chưa trẻ đạt Trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia hoạt động 10/25 40% 15/25 60% Trẻ có kỹ năng giao tiếp, trao đổi 25 8/25 32% 17/25 68% Trẻ hứng thú làm đồ chơi 9/25 36% 16/25 64% Trẻ biết tạo ra sản phẩm. 12/25 48% 13/25 52% 16/21 * Số liệu điều tra sau khi thực hiện đề tài: Tiêu chí Số trẻ đạt được Đạt tỷ lệ % Trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia hoạt động 25/25 100 % Trẻ có kỹ năng giao tiếp, trao đổi 25/25 100 % Trẻ hứng thú làm đồ chơi 25/25 100 % Trẻ biết tạo ra sản phẩm. 25/25 100 % So sánh số liệu theo từng tiêu chí, tôi thấy kết quả thật đáng mừng, số trẻ đạt trong các tiêu chí tăng lên rõ rệt. - Trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia hoạt động: Tăng 40 % - Trẻ biết tạo ra sản phẩm trong giờ chơi: Tăng 32 % - Trẻ có kỹ năng giao tiếp: Tăng 36% - Trẻ chơi hứng thú: Tăng 48 % PHẦN THÚ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 1. Kết luận: Qua một thời gian tự nghiên cứu và áp dụng các phương pháp nêu trên, tôi cũng đã gặt hái được những thành công bước đầu, bản thân tôi đã hiểu sâu sắc về bản chất hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non. Đó là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt: Đức, trí, thể, mỹ và giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn trong cuộc sống. Chính vì vậy, tôi nhận thấy là một giáo viên mầm non đòi hỏi phải có phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực đề cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái tận tụy thương yêu trẻ thể hiện ở tinh thần tự học hỏi, tự bồi dưỡng chuyên môn để tìm ra những biện pháp chăm sóc giáo dục giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất. Tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: - Có kế hoạch cụ thể, học hỏi, nghiên cứu kỹ từng hoạt động, từng nội dung để áp dụng thực hiện hoạt động góc phù hợp với từng độ tuổi của trẻ, phù hợp theo chủ đề. - Áp dụng tốt phương pháp dạy học tích cực vào lớp học. - Xây dựng nhiều góc mở để trẻ phát huy được tính sáng tạo. - Tận dụng những nguyên vật liệu sẵn có để làm đồ dùng, đồ chơi đẹp, hấp dẫn tạo sự thu hút đối với trẻ. - Nội dung hoạt động ở các góc phù hợp với chủ đề, cụ thể, rõ ràng. 17/21 - Biết kích thích động cơ bên trong của trẻ, gây hứng thú cho trẻ; Khen chê đúng mức, động viên khích lệ kịp thời. - Cần phối hợp thường xuyên và liên tục giữa gia đình và nhà trường trong việc quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ và hỗ trợ đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. 2. Các đề xuất và khuyến nghị: Qua một năm thực hiện đề tài, ngoài những thuận lợi, tôi gặp phải một số khó khăn nhất định, tôi có một vài kiến nghị. - Nhà trường cần quan tâm tạo điều kiện hơn nữa đầu tư cơ sở vật chất cho các lớp, nhất là đồ dùng, đồ chơi, để trẻ được tham gia vào các hoạt động tìm tòi, khám phá nhiều hơn. - Kiến nghị với nhà trường và các cấp lãnh đạo tạo điều kiện cho giáo viên trong trường được học hỏi trường bạn, huyện bạn nâng cao thêm kinh nghiệm giảng dạy phục vụ cho trẻ. Trên đây là một số biện pháp của tôi khi thực hiện đề tài: “ Một số biện pháp làm đồ dùng , đồ chơi cho trẻ trong hoạt động góc ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3- 4 tuổi”, áp dụng trên trẻ lớp C3, Trường Mầm non nơi tôi công tác. Kết quả tuy chưa như mong muốn nhưng cũng đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc chung của ngành giáo dục trong việc tìm ra những giải pháp tối ưu nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động nói chung và hoạt động góc nói riêng cho trẻ, theo chương trình mầm non mới, đặt nền móng cho sự hình thành phát triển trẻ sau này. Rất mong được sự đóng góp, giúp đỡ của hội đồng khoa học các cấp để tôi hoàn thiện đề tài của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Chu Minh, ngày 25 tháng 4 năm 2021 Tác giả Phương Thị Dung 18/21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Tên sách :Chương trình giáo dục mầm non – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam 2. Tên sách : Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non 3 - 4 tuổi Tác giả: TS. Trần Thị Ngọc Trâm. 3. Tên sách : Hướng dẫn làm đồ chơi bằng vật liệu dễ tìm Tác giả: Phạm Thị Việt Hà Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. 19/21
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_lam_do_dung_do_choi_cho_tre_trong_hoat.doc

