SKKN Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non (GV: Phùng Thị Phượng - Trường MN Cẩm Lĩnh A - Năm học 2023-2024)
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tên đề tài “Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non”.
1. Tính cấp thiết cần phải tiến hành sáng kiến.
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, khi công nghệ thông tin phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ nói chung của ngành tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt, sự tiện dụng và ứng dụng rộng rãi, tin học ngày nay là một phần không thể thiếu được của nhiều ngành trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội. Hơn thế nữa nó còn đi sâu vào đời sống của con người. Tin học đã thâm nhập khá mạnh mẽ vào Việt Nam, nhiều lĩnh vực hoạt động từ lĩnh vực quản lý hành chính, quản lý kinh tế, tự động hóa công nghiệp… đến các lĩnh vực giáo dục và đào tạo đều có thay đổi đáng kể nhờ ứng dụng tin học.
Qua những vấn đề vừa nêu trên, tôi nhận thấy rằng để phục vụ tốt cho công tác dạy học, nâng cao nghiệp vụ sư phạm của bản thân và truyền đạt kiến thức cho người học một cách có hiệu quả nhất thì việc tạo các bài giảng video thật sự là cần thiết trong giai đoạn nghỉ dịch. Vì vậy, là một hiệu trưởng có đam mê sử dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy và mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho giáo viên trường mầm non Cẩm Lĩnh A nói riêng và giáo viên mầm non nói chung, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non”.
* Cơ sở lý luận:
Trên thực tế, vấn đề áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình đổi mới dạy học không còn mới mẻ, trong đó có việc xây dựng bài giảng điện tử sử dụng MS PowerPoint luôn là công cụ thông dụng và được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, việc ứng dụng hình thức này dần sẽ được thay thế bằng hình thức mà trong đó kiến thức được truyền tải đến người học với nhiều ưu điểm vượt trội. Đó là bài giảng E-Learning và video. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông, đào tạo trực tuyến ra đời như một cuộc cách mạng về dạy và học, tạo ra cơ hội cho người học có thể tự học, nghiên cứu và trau dồi kiến thức. Trong cuốn The Road Ahead, Bill Gates đã từng nói: “Công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta. Những người công nhân sẽ có khả năng cập nhật các kỹ thuật trong lĩnh vực của mình. Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất, được dạy bởi các giáo viên giỏi nhất. Ngày càng có nhiều người nhận thức được tính ưu việt của loại hình đào tạo trực tuyến qua mạng internet. Tuy nhiên, do tâm lý người dân đã quen thuộc với loại hình đào tạo theo phương thức truyền thống, lại thêm hình thức đào tạo trực tuyến vẫn còn nhiều thiếu kỹ năng tự học của người học còn hạn chế. Do vậy nhiều người vẫn chưa thực sự tin tưởng vào chất lượng đào tạo và các bài giảng trược tuyến và vi deo.
Đặc biệt, đối với trẻ mầm non, việc học trực tuyến rất khó khăn chỉ có thể quay video gửi bài tương tác với phụ huynh để phụ huynh cho con xem nên để có một vi deo tốt là điều rất khó khăn cho giáo viên mầm non nhà trường.
* Cơ sở thực tiễn:
Trường mầm non Cẩm Lĩnh A thuộc huyện Ba Vì nằm ở ngoại thành Hà Nội. Nằm trên khu đất canh tác của dân, được triển khai xây dựng thành trường học, nên xung quanh còn nhiều bãi đất trống, đồng ruộng. Trường có hai khu riêng biệt, riêng khu Trung tâm được xây hai tầng khang trang, lớp học rộng rãi, sân chơi thoáng mát. Tổng số học sinh toàn trường là 490 trẻ, có 59 đồng chí – giáo viên - nhân viên và 3 cán bộ quản lý.
Đội ngũ giáo viên trẻ đầy nhiệt huyết và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
Tôi nhận thấy việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã tạo sự lôi cuốn mạnh mẽ khả năng tập trung của trẻ vào bài học. Chỉ bằng một click chuột, cả thế giới như mở ra với những điều mới lạ trước mắt trẻ, đó là những hình ảnh ngộ nghĩnh, âm thanh vui nhộn, các bé thoả thích ngắm nhìn và say mê khám phá. Từ đó, trẻ có khả năng phát triển ngôn ngữ, nhận biết đúng sai về các hình ảnh, đồ vật. Với phương pháp ứng dụng CNTT vào giảng dạy, hình ảnh động và thật sẽ giúp trẻ hứng thú và nhận thức một cách hoàn toàn chính xác các sự vật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên.
Thực hiện nhiệm vụ giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tính tích cực sáng tạo thời đại công nghệ 4.0 và năm đầu tiên huyện Ba vì triển khai thi kho học liệu số. Nên tôi quyết định lựa chọn đề tài này.
2. Mục tiêu của đề tài.
- Hiện nay khái niệm về bài giảng điện tử, video không còn mới mẻ với một số giáo viên trường Mầm non Cẩm Lĩnh A nói riêng và toàn bộ giáo viên mầm non nói chung, nhưng để thiết kế được bài giảng hay chất lượng đòi hỏi người giáo viên không chỉ cần có một vốn kiến thức cơ bản về tin học mà cả những kỹ năng, thao tác xây dựng bài giảng.
- Làm rõ một số khái niệm nhận biết giáo án điện tử, bài giảng điện tử, các video, cắt ghép trong ứng dụng CNTT.
- Khẳng định sự cần thiết của Ứng dụng CNTT dạy học hiện đại. - Giúp giáo viên có thể tự học ở mọi nơi, mọi lúc. - Ngoài ra, trẻ có thể xem hình vẽ, đoạn phim mô tả hiện tượng, hay có thể xem các hình ảnh, video clip nói về chủ đề đang học... kèm theo là một hệ thống câu hỏi được thu trực tiếp từ giáo viên, trẻ suy nghĩ và trả lời theo ý trẻ, sau đó nghe cô chốt lại những nhận xét đúng, ý chính ngay trong bài giảng (điều này một giáo án thông thường muốn có được phải rất khó khăn và vất vả hơn nhiều.) - Qua đó ta thấy được sự cần thiết của việc cho trẻ tiếp cận với công nghệ và xây dựng bài giảng trong giảng dạy, lựa chọn hình thức tiếp cận CNTT là yếu tố tạo tiền đề cho sự thành công sau này.
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
* Thời gian: Tháng 9 năm học 2023 đến tháng 4 năm 2024
* Đối tượng nghiên cứu đề tài.
“Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non”.
* Đối tượng khảo sát thực nghiệm đề tài.
Tổng số 39 cán bộ giáo viên nhân viên nhà trường.
* Phạm vi thực hiện
Tại trường mầm non Cẩm Lĩnh A, với 100% giáo viên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non (GV: Phùng Thị Phượng - Trường MN Cẩm Lĩnh A - Năm học 2023-2024)
UBND HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON CẨM LĨNH A SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP GIÁO VIÊN NÂNG CAO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ TRƯỜNG MẦM NON” Tên tác giả: Phùng Thị Phượng Đơn vị công tác: Trường mầm non Cẩm Lĩnh A Chức vụ: Hiệu trưởng Năm học 2023 - 2024 MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết cần phải tiến hành sáng kiến. 2 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến 3 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 4 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề 4 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 8 3. Kết quả khi áp dụng sáng kiến tại đơn vị 13 4. Hiệu quả của sáng kiến 16 5. Tính khả thi 17 6.Thời gian thực hiện sáng kiến 17 7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến 17 PHẦN III: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 1. Kết luận 18 2. Đề xuất 19 PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 PHẦN V: PHỤ LỤC 3 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ Tên đề tài “Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non”. 1. Tính cấp thiết cần phải tiến hành sáng kiến. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, khi công nghệ thông tin phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ nói chung của ngành tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt, sự tiện dụng và ứng dụng rộng rãi, tin học ngày nay là một phần không thể thiếu được của nhiều ngành trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội. Hơn thế nữa nó còn đi sâu vào đời sống của con người. Tin học đã thâm nhập khá mạnh mẽ vào Việt Nam, nhiều lĩnh vực hoạt động từ lĩnh vực quản lý hành chính, quản lý kinh tế, tự động hóa công nghiệp đến các lĩnh vực giáo dục và đào tạo đều có thay đổi đáng kể nhờ ứng dụng tin học. Qua những vấn đề vừa nêu trên, tôi nhận thấy rằng để phục vụ tốt cho công tác dạy học, nâng cao nghiệp vụ sư phạm của bản thân và truyền đạt kiến thức cho người học một cách có hiệu quả nhất thì việc tạo các bài giảng video thật sự là cần thiết trong giai đoạn nghỉ dịch. Vì vậy, là một hiệu trưởng có đam mê sử dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy và mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho giáo viên trường mầm non Cẩm Lĩnh A nói riêng và giáo viên mầm non nói chung, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non”. * Cơ sở lý luận: Trên thực tế, vấn đề áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình đổi mới dạy học không còn mới mẻ, trong đó có việc xây dựng bài giảng điện tử sử dụng MS PowerPoint luôn là công cụ thông dụng và được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, việc ứng dụng hình thức này dần sẽ được thay thế bằng hình thức mà trong đó kiến thức được truyền tải đến người học với nhiều ưu điểm vượt trội. Đó là bài giảng E-Learning và video. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông, đào tạo trực tuyến ra đời như một cuộc cách mạng về dạy và học, tạo ra cơ hội cho người học có thể tự học, nghiên cứu và trau dồi kiến thức. Trong cuốn The Road Ahead, Bill Gates đã từng nói: “Công nghệ 4 thông tin sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta. Những người công nhân sẽ có khả năng cập nhật các kỹ thuật trong lĩnh vực của mình. Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất, được dạy bởi các giáo viên giỏi nhất. Ngày càng có nhiều người nhận thức được tính ưu việt của loại hình đào tạo trực tuyến qua mạng internet. Tuy nhiên, do tâm lý người dân đã quen thuộc với loại hình đào tạo theo phương thức truyền thống, lại thêm hình thức đào tạo trực tuyến vẫn còn nhiều thiếu kỹ năng tự học của người học còn hạn chế. Do vậy nhiều người vẫn chưa thực sự tin tưởng vào chất lượng đào tạo và các bài giảng trược tuyến và vi deo. Đặc biệt, đối với trẻ mầm non, việc học trực tuyến rất khó khăn chỉ có thể quay video gửi bài tương tác với phụ huynh để phụ huynh cho con xem nên để có một vi deo tốt là điều rất khó khăn cho giáo viên mầm non nhà trường. * Cơ sở thực tiễn: Trường mầm non Cẩm Lĩnh A thuộc huyện Ba Vì nằm ở ngoại thành Hà Nội. Nằm trên khu đất canh tác của dân, được triển khai xây dựng thành trường học, nên xung quanh còn nhiều bãi đất trống, đồng ruộng. Trường có hai khu riêng biệt, riêng khu Trung tâm được xây hai tầng khang trang, lớp học rộng rãi, sân chơi thoáng mát. Tổng số học sinh toàn trường là 490 trẻ, có 59 đồng chí – giáo viên - nhân viên và 3 cán bộ quản lý. Đội ngũ giáo viên trẻ đầy nhiệt huyết và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Tôi nhận thấy việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã tạo sự lôi cuốn mạnh mẽ khả năng tập trung của trẻ vào bài học. Chỉ bằng một click chuột, cả thế giới như mở ra với những điều mới lạ trước mắt trẻ, đó là những hình ảnh ngộ nghĩnh, âm thanh vui nhộn, các bé thoả thích ngắm nhìn và say mê khám phá. Từ đó, trẻ có khả năng phát triển ngôn ngữ, nhận biết đúng sai về các hình ảnh, đồ vật. Với phương pháp ứng dụng CNTT vào giảng dạy, hình ảnh động và thật sẽ giúp trẻ hứng thú và nhận thức một cách hoàn toàn chính xác các sự vật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên. Thực hiện nhiệm vụ giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tính tích cực sáng tạo thời đại công nghệ 4.0 và năm đầu tiên huyện Ba vì triển khai thi kho học liệu số. Nên tôi quyết định lựa chọn đề tài này. 2. Mục tiêu của đề tài. - Hiện nay khái niệm về bài giảng điện tử, video không còn mới mẻ với một số giáo viên trường Mầm non Cẩm Lĩnh A nói riêng và toàn bộ giáo viên 5 mầm non nói chung, nhưng để thiết kế được bài giảng hay chất lượng đòi hỏi người giáo viên không chỉ cần có một vốn kiến thức cơ bản về tin học mà cả những kỹ năng, thao tác xây dựng bài giảng. - Làm rõ một số khái niệm nhận biết giáo án điện tử, bài giảng điện tử, các video, cắt ghép trong ứng dụng CNTT. - Khẳng định sự cần thiết của Ứng dụng CNTT dạy học hiện đại. - Giúp giáo viên có thể tự học ở mọi nơi, mọi lúc. - Ngoài ra, trẻ có thể xem hình vẽ, đoạn phim mô tả hiện tượng, hay có thể xem các hình ảnh, video clip nói về chủ đề đang học... kèm theo là một hệ thống câu hỏi được thu trực tiếp từ giáo viên, trẻ suy nghĩ và trả lời theo ý trẻ, sau đó nghe cô chốt lại những nhận xét đúng, ý chính ngay trong bài giảng (điều này một giáo án thông thường muốn có được phải rất khó khăn và vất vả hơn nhiều.) - Qua đó ta thấy được sự cần thiết của việc cho trẻ tiếp cận với công nghệ và xây dựng bài giảng trong giảng dạy, lựa chọn hình thức tiếp cận CNTT là yếu tố tạo tiền đề cho sự thành công sau này. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. * Thời gian: Tháng 9 năm học 2023 đến tháng 4 năm 2024 * Đối tượng nghiên cứu đề tài. “Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non”. * Đối tượng khảo sát thực nghiệm đề tài. Tổng số 39 cán bộ giáo viên nhân viên nhà trường. * Phạm vi thực hiện Tại trường mầm non Cẩm Lĩnh A, với 100% giáo viên. PHẦN II . NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề: 1.1. Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề Sự bùng nổ của khoa học công nghệ nói chung và CNTT nói riêng đã và đang tác động rất mạnh mẽ tới sự phát triển của tất cả các nghành trong đời sống xã hội. Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay trong mọi hoạt động nhờ những thành tựu của CNTT. Công nghệ thông tin đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những nhân tố mới cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức. Trong bối cảnh đó, để đáp ứng được nhu cầu cần thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để giáo dục theo kịp thời đại thì nhất thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy: ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng 6 dạy và phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo của bản thân để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo kịp thời phát triển xã hội. Việc ứng dụng CNTT trong thực tế dạy học đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến tích cực trong dạy học, nhất là về phương pháp dạy học (PPDH), đó thực sự là “Một cuộc cách mạng công nghệ trong giáo dục”. Ở Việt Nam trong những năm qua, việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được thực hiện khá đồng bộ. Đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới Phương pháp dạy học đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học hiện đại và CNTT là một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học bằng việc cung cấp cho GV những phương tiện làm việc hiện đại tương thích trong dạy học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, giúp giáo viên nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Cụ thể, giáo viên không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có, mà còn được tìm hiểu thêm về những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn giúp giáo viên có thể chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng giáo án của mình. Trong giáo dục mầm non việc ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ là cho trẻ được tiếp cận với môi trường, với các hình ảnh và các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Điều đó giúp cho trẻ lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và toàn diện hơn. Việc ứng dụng CNTT là điều kiện thuận lợi cho nhà trường trong việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, nhưng cũng là những thách thức đối với đội ngũ cán bộ giáo viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ giáo viên mầm non hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của trẻ, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, chứ không đơn thuần như kiểu truyền thống. Trẻ được khuyến khích và tạo điều kiện chủ động để trải nghiệm, thể hiện khả năng và ý kiến của bản thân được tạo mọi cơ hội để phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình. 1.2. Đặc điểm tình hình của trường: Năm học 2023-2024 trường quản lý 2 khu 7 Tổng số toàn trường: 59; BGH: 03 Trong đó giáo viên: 39; Nhân viên: 17 Tổng số trẻ: 465 trẻ ; có: 18 nhóm, lớp Trong đó nhà trẻ: 85: 03 nhóm Mẫu giáo: 380: 15 lớp * Thuận lợi Được sự quan tâm chỉ và đạo của lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo Ba Vì trong lĩnh vực CNTT, trong những năm vừa qua, việc ứng dụng CNTT trong quản lý, chăm sóc và giáo dục trẻ đã được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả. - Tất cả các đồng chí giáo viên trong nhà trường đều tâm huyết tận tuỵ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh. Phần lớn các đồng chí giáo viên trong nhà trường đều có kỹ năng sử dụng máy vi tính. Có ý thức sưu tầm, sáng tạo đưa CNTT vào giảng dạy cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. - Các nguồn thông tin về phần mềm rất đa dạng, dễ kiếm, dễ tìm và sẵn có trong các trang tài nguyên của ngành Giáo dục - Phụ huynh xã hội hoá và ủng hộ nhiệt tình các tài liệu, tranh ảnh, đĩa mềm - Tất cả giáo viên trong trường đều nhận thấy điểm tích cực của CNTT trong tuyên truyền giảng dạy và xây dựng vi deo và sự cần thiết việc đổi mới phương pháp dạy học bằng hình thức trực tuyến. Nhà trường đã đầu tư nhóm lớp được kết nối mạng Internet, ti vi, máy tính. Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho giáo viên có điều kiện tự học, tự rèn luyện về kỹ năng CNTT, cách khai thác tài nguyên mạng phục vụ cho công tác soạn giảng. Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên được phát huy khả năng sáng tạo. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, trình độ tin học cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên. * Khó khăn Trình độ tin học của đội ngũ cán bộ, giáo viên chiếm tỉ lệ trên 50% không được đào tạo bài bản. Kiến thức và hiểu biết của giáo viên do cá nhân tự tham khảo học hỏi, nên kỹ năng về CNTT của đa số giáo viên trong trường còn chưa được chuyên sâu. 8 Giáo viên MN đi làm từ sáng đến chiều tối, vừa giảng dạy vừa chăm sóc trẻ nên thời gian kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên về CNTT mới dừng ở mức cơ bản. Cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế: chưa có máy chiếu, chưa có phòng máy tính, số máy tính cho cán bộ, nhân viên, giáo viên còn ít, chỉ có 1 máy tính phục vụ giáo viên. 1.3. Khảo sát thực tế * Cơ sở vật chất nhà trường có: - Tổng số lớp 18 => NT: 3 = 85 trẻ MG: 15 = 380 trẻ - Phòng học kiên cố và bán kiên cố: 14 - Phòng cấp 4: 4 - Công trình phụ trợ đang thực hiện: 2/2 điểm * Đội ngũ giáo viên và nhân viên - Tổng số cán bộ giáo viên và nhân viên: 59 (Giáo viên: 39) - Trình trên chuẩn: 41- Đạt chuẩn: 19; đang theo học trên chuẩn: 4 - Đội ngũ giáo viên yêu nghề, yên tâm công công tác . * Số liệu điều tra trước khi thực hiện: Kết quả khảo sát các nội dung đầu năm: Tổng số 39 giáo viên tại trường tôi như sau: Mức độ Trung Tốt Khá Yếu bình TT Nội dung đánh giá % Số Số cô Số cô % % Số cô % cô Giáo viên có kỹ năng 1 12/39 31 15/39 38 10/39 26 2/39 5 cơ bản về CNTT Giáo viên biết ứng 2 dụng CNTT vào dạy 10/39 27 12/39 31 10/39 26 7/39 18 học có hiệu quả 3 Giáo viên biết thiết 5/39 13 13/39 33 10/39 26 11/39 28 9 kế bài giảng video, e-learning Giáo viên có kỹ năng 4 tìm kiếm, tải dữ liệu 9/39 23 13/39 33 12/39 31 5/39 13 trên mạng internet Giáo viên biết đăng tin bài lên cổng 5 5/39 13 14/39 36 11/39 28 11/39 28 thông tin, website của nhà trường 2. Các giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề: 2.1. Tăng cường ứng dụng CNTT mọi lúc, mọi nơi trong nhà trường. Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và ứng dụng CNTT cho đội ngũ giáo viên, nhân viên ngay từ đầu năm học. Trong đó, đặc biệt chú trọng phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho toàn thể giáo viên trong nhà trường. Từ đó giao trách nhiệm cho từng cá nhân phụ trách từng mảng công việc; Triển khai đồng loạt việc ứng dụng CNTT trong từng phần việc. Giao cho đồng chí Phó Hiệu trưởng phụ trách giáo dục trực tiếp phụ trách. Các nội dung ứng dụng CNTT được triển khai trên toàn thể các lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi, cụ thể như sau: * Tạo dựng và sử dụng hiệu quả cổng thông tin và truyền thông nội bộ: - Website trường học: Cập nhật thông tin, sự kiện, và các hoạt động của nhà trường. - Email và diễn đàn nội bộ: Tạo kênh thông tin liên lạc giữa ban giám hiệu, giáo viên, và phụ huynh. - 100% giáo viên trong trường sử dụng hộp thư cá nhân, hộp thư điện tử của tổ chuyên môn được truyền tải thông tin, công việc với cán bộ giáo viên trong trường. Các hoạt động của nhà trường, các văn bản chỉ đạo đều được chuyển tới giáo viên qua website và hòm thư điện tử, từ đó tạo thói quen cho giáo viên cập nhật thông tin qua thư điện tử. Biện pháp này giúp cho công tác chỉ đạo kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm thời gian, văn phòng phẩm đồng thời giúp giáo viên từng bước nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác thông tin qua mạng Internet. - Đưa nội dung ứng dụng CNTT thành tiêu chí thang điểm trong các hoạt động thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi. Khuyến khích giáo viên tích cực soạn 10 giảng giáo án điện tử trong các hoạt động GD trẻ, hàng tháng đưa bài, tư liệu lên website của trường để tạo kho học liệu điện tử cho cho giáo viên và phụ huynh tại địa chỉ website: Hình ảnh kho học liệu điện tử trên website của nhà trường - Thường xuyên khuyến khích giáo viên sử dụng các ứng dụng phần mềm vào công tác quản lý, công tác dạy và học: Quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý giáo dục, quản lý nuôi dưỡng, công tác tuyển sinh, phổ cập giáo dục, phần mềm powerpoint, canva, google form, zoom cloud meetings, camtasia... - Thường xuyên hướng dẫn, phổ biến cho cán bộ quản lý, giáo viên khai thác và sử dụng thông tin trên hệ thống website của nhà trường: Phân quyền quản trị, thành lập ban biên tập chịu trách nhiệm đưa tin các hoạt động của nhà trường, các thông tin như: Thời khóa biểu, lịch công tác, các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, kế hoạch giáo dục từng độ tuổi theo tuần, tháng, năm học. - Chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục trẻ: Tích cực tham gia xây dựng bài giảng điện tử Powerpoint, E-learning, thiết kế sách điện tử, phim hoạt hình trong các hoạt động giáo dục trẻ. 2.2. Bồi dưỡng giáo viên nâng cao kỹ năng trình độ ứng dụng CNTT Ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy càng được chú trọng. Theo Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông: Quy định chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và thông tư liên tịch số 17/2016/TTLT-BGDĐT-BTTTT của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Thông tin và Truyền thông: Quy định tổ chức thi và cấp chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin bản thân tôi đã tự học và thi lấy chứng chỉ theo quy định trong thông tư. Ban giám hiệu nhà trường cũng đã kịp thời tổ chức cho tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường tập huấn các chuyên đề cho giáo viên ứng dụng CNTT trong giảng dạy vào đầu năm học và được đi tập huấn các chuyên đề CNTT cấp trên triển khai. Thiết kế bài giảng trên Powerpoint, Sử dụng phần mềm Camtasia, Thiết kế sách điện tử, phim hoạt hình trên phần mềm thiết kế đồ họa Canva, Thiết kế bài giảng E-learning thông qua phần mềm Ispring suite 9. Hình ảnh: Tập huấn CNTT tại trường và cấp trên tổ chức. Ngoài ra, bản thân tôi cũng tự học trên mạng, tự tìm tòi, nghiên cứu các phần mềm mới, việc ứng dụng các phần mềm đó như thế nào và cách sử dụng ra 11 sao luôn được tôi quan tâm đến để giúp đỡ khi giáo viên gặp khó khăn. Tôi thường xuyên tăng cường công tác tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giáo dục trẻ thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, thông qua các buổi chuyên đề kiến tập, qua các cuộc thi có ứng dụng CNTT do ngành tổ chức. Tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ tin học ngay tại trường qua việc tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng sử dụng CNTT trong giảng dạy bố trí giáo viên có trình độ tin học hướng dẫn, bồi dưỡng cho giáo viên yếu hơn. Phân công giáo viên tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng CNTT do ngành tổ chức, khuyến khích giáo viên tự rèn, tự khám phá. Hình ảnh các giáo viên tự bồi dưỡng CNTT tại trường. Tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn nhằm bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm tin học theo hình thức trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, tập trung chủ yếu vào những kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng trong quá trình soạn giảng hàng ngày như khai thác thông tin, các bước soạn một bài trình chiếu, phần mềm đổi đuôi, chèn hình ảnh, âm nhạc, video,... Động viên giáo viên tích cực tự học tập bồi dưỡng, sẵn sàng chia sẻ, trao đổi với đồng nghiệp đồng thời tạo cơ hội cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau về các ứng dụng CNTT mới. - Mời chuyên gia về công nghệ máy tính về hướng dẫn giáo viên một số kỹ năng nâng cao trong soạn giảng, thiết kế bài giảng Powerpoint, E-learning ứng dụng vào các hoạt động giáo dục trẻ. 2.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và phát triển hạ tầng công nghệ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế: Thiếu các phòng học chức năng; số máy tính phục vụ cho giáo viên còn ít. Chính vì vậy, năm học 2023-2024 tôi đã lên kế hoạch ngay từ đầu năm và tuyên truyền, triển khai tới toàn thể giáo viên trong nhà trường thực hiện “Năm bùng nổ CNTT” và hội thi công nghệ kho học liệu số. Với mong muốn toàn trường sẽ dồn sức, góp sức đưa CNTT của nhà trường phát triển lên một bước mới. Để làm được như vậy, bước đầu tiên tôi triển khai là cung cấp mạng Wi- Fi ổn định khắp các khu vực trong trường toàn bộ hệ thống mạng ADSL, mạng không dây phủ sóng toàn trường và hệ thống dây cáp mạng đến từng phòng làm 12 việc của khu hành chính và các phòng học của giáo viên để phục vụ giáo viên tra cứu thông tin phục vụ nghiên cứu và soạn giảng và dạy học. Ngoài ra, để có nguồn kinh phí mua sắm các trang thiết bị CNTT hiện đại, tôi cùng các đồng chí trong ban giám hiệu đã làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo, vận động sự ủng hộ của các cấp, các ngành, các đoàn thể, đặc biệt là các đơn vị kinh tế. Ngoài ra, tôi cũng luôn quan tâm đến việc bảo trì, bảo dưỡng máy tính đồng thời mua các phần mềm ứng dụng trong một số hoạt động như phần mềm: canva, phần mềm kế hoạch giáo dục...để giúp cho giáo viên có đủ các điều kiện trong việc triển khai các hoạt động giáo dục. Đồng thời đưa một số trang Web phục vụ cho dạy và học cho giáo viên. Trang Web thư viện bài giảng: https://violet.vn/ Trang Web dạy học trực tuyến: https://edubit.vn/ Mạng giáo dục edunet: https://www.pinterest.com/manggiaoduc/ Một số trang Web có những chức năng mà người sử dụng phải đăng ký thành viên mới có thể sử dụng được. Để đăng ký là thành viên chúng ta làm theo hướng dẫn của nhà quản trị. Thông thường chúng ta phải có địa chỉ Email để nhà quản trị xác nhận thông tin đăng ký. Tôi đã sưu tầm và lưu trữ kho tư liệu hình ảnh bao gồm hình nền powerpoint, hình ảnh động, hình ảnh minh họa theo các chủ điểm khác nhau nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho việc lồng ghép vào các bài giảng điện tử của giáo viên. 2.4. Phát động cuộc thi kỹ năng CNTT và thiết kế bài giảng video trong toàn trường Ngay từ đầu năm học nhà trường đã xây dựng kế hoạch các cuộc thi về kỹ năng công nghệ thông tin như: Tiết dạy có ứng dụng CNTT hay, giáo viên sử dụng CNTT giỏi và cuộc thi thiết kế bài giảng video phối hợp với phụ huynh, có kỹ năng sử dụng để khuyến khích giáo viên tích cực tham gia ứng dụng CNTT trong dạy học, và thi kho học liệu số theo kế hoạch của phòng giáo dục. Sau khi ban hành kế hoạch tôi chỉ đạo tổ CNTT, ban giám hiệu và các đồng chí tổ trưởng chuyên môn triển khai tới tất cả các giáo viên. Kết quả 100% giáo viên trong toàn trường hưởng ứng tham gia, ngay sau khi nhà trường triển khai kế hoạch phát động hội thi, giáo viên trong trường đã nhiệt tình hưởng ứng. Nội dung trọng tâm của cuộc thi là Thiết kế bài giảng điện tử, bài giảng E-learning, xây dựng video độc đáo, hấp dẫn theo quan điểm giáo 13 dục lấy trẻ làm trung tâm để hướng dẫn phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà; Thực hiện việc khai thác, sử dụng có hiệu quả CNTT trong việc thực hiện Chương trình giáo dục mầm non linh hoạt, kết quả được ban chấm thi của nhà trường đánh giá: Giải Nhất 2, giải Nhì 4, giải Ba 8, giải Khuyến khích 22 giải các bài giảng đã được thiết kế sẽ được đẩy lên làm tài nguyên cho kho học liệu của nhà trường. Nhìn chung toàn thể giáo viên trong nhà trường đã biết các kỹ năng để thiết kế các bài giảng và sử dụng các phần mềm để tạo video đẹp, hấp dẫn người xem, gây được hứng thú cho trẻ tham gia vào hoạt động học và kích thích tìm tòi khám phá cho trẻ. Một số giáo viên sử dụng linh hoạt đồ dùng, đồ chơi, các góc chơi trong lớp đã bố trí hấp dẫn, biết tận dụng nguyên vật liệu sẵn có để thiết kế video hấp dẫn, đặc sắc. Đặc biệt giáo viên còn biết xây dựng tiểu phẩm kịch, đóng vai nhân vật trong truyện, thiết kế trò chơi luyện tập để tăng tính tương tác cho bài giảng của mình. Hình ảnh đặc sắc trong các bài thi thiết kế video và cuộc thi về CNTT Hội thi là dịp giúp các cô giáo mầm non nâng cao kiến thức, kĩ năng CNTT. Thông qua hội thi nhằm phát hiện ra nhiều cá nhân điển hình trong việc ứng dụng CNTT trong việc dạy học để từ đó chọn ra tổ CNTT cốt cán, giúp đỡ, trau dồi kinh nghiệm cho giáo viên toàn trường. 2.5. Xây dựng kho học liệu điện tử trong trường mầm non Với mục đích là tạo ra một kho học liệu điện tử phong phú, đa dạng giúp giáo viên dễ dàng tìm kiếm, tải xuống và biết ứng dụng tăng cường hiệu quả vào trong hoạt động giảng dạy chính bởi vậy từ cuộc thi “Thiết kế bài giảng video phối hợp phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ”, và cuộc thi “Kỹ năng CNTT dành cho cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên” qua đó mà tôi đã cùng với các đồng chí trong tổ CNTT được thiết kế và xây dựng một học liệu điện tử với các tài nguyên vô cùng đa dạng và phong phú tại địa chỉ website của nhà trường: Ngoài ra mỗi tháng, tôi còn phát động giáo viên thiết kế các bài giảng theo các hoạt động giáo dục trẻ ở các độ tuổi và khích lệ giáo viên tự tạo cho mình một kho tài nguyên học liệu với các nội dung, kiến thức liên quan đến khối lớp mình phụ trách và coi đó là tiêu chí để thi đua trong tháng, trong năm học. Các bài giảng được ban giám hiệu duyệt và đăng lên trang website của nhà trường để các giáo viên tham khảo, học hỏi về hình thức và 14 cách thiết kế cũng như việc ứng dụng bài giảng điện tử vào tổ chức các hoạt động giáo dục của lớp mình, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Ngoài ra tôi đầu tư một số các phần mềm và đưa ra một số lưu ý cho giáo viên khi ứng dụng CNTT vào các môn học như: - Bạn đã soạn xong một giáo án điện tử trên Power Point? Giáo viên muốn in chúng ra đĩa VCD nhưng Power Point chỉ trình chiếu chứ không phải một đoạn phim, làm sao mà in ra đĩa được? Tôi đã nghĩ ngay đến vấn đề là phải đổi đuôi. Nhưng khi tôi làm thử trên phần mềm đổi đuôi thông thường thì không được. Câu hỏi này tôi đã trả lời được khi tôi gõ một dòng chữ đơn giản vào Google là “Convert Powerpoint to video”. Tôi đã được chỉ dẫn tải phần mềm đổi đuôi từ file Powerpoint sang Video. - Khi sử dụng các phần mềm giáo dục, bạn hãy chú ý đừng nên quá lạm dụng vì nếu không sẽ làm mất đi tính thẩm mỹ của bài giảng. Ví dụ như lựa chọn phông chữ, màu chữ, hiệu ứng hình ảnh...bạn nên chọn màu chữ và màu nền không quá tương phản, hiệu ứng hình ảnh không quá rối nếu không học sinh của bạn sẽ nhức mắt và không thể chú ý vào bài giảng được gây tác dụng ngược. - Khi sắp xếp các slide hãy sắp xếp đơn giản, hợp lý và luôn lưu ý đến mối liên kết giữa chúng vì đôi khi một trục trặc nhỏ trong quá trình tiến hành bài giảng cũng có thể làm cho bạn lúng túng, mất bình tĩnh. Quan trọng là bạn hãy tự tin. - Các bạn hãy thường xuyên tham gia bồi dưỡng và tự bồi dưỡng kiến thức về CNTT. Một số trang web hỗ trợ đắc lực cho giáo viên mầm non trong việc thiết kế các bài giảng điện tử là giaovien.net, dayhocintel.org, mammon.edu.vn. Một số trang web cho phép bạn tìm kiếm nguồn tài nguyên khổng lồ để khai thác như Google.com.vn, Download.com.vn...Bạn có thể tìm thấy vô số hình ảnh, video, âm thanh,... thậm chí cả những phần mềm tin học hỗ trợ rất tuyệt vời cho việc thiết kế giáo án điện tử của bạn. Hình ảnh: Kho học liệu của các lớp và các video được tải lên website của nhà trường. 3. Kết quả đạt được sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị. Qua quá trình một năm thực hiện đề tài: “Một số biện pháp giúp cho giáo viên nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trường mầm non”. * Đối với giáo viên - Trình độ chuyên môn giáo viên, nhân viên nắm vững phương pháp giảng dạy, làm vi deo và thiết kế các bài giảng điện tử. 15 - Để thiết kế các bài bài dạy ứng dụng phần mềm công nghệ thông tin vào các hoạt động dạy trẻ đòi hỏi mỗi giáo viên không ngừng nâng cao kiến thức về tin học để có thể sáng tạo ra tiết học sinh động hiểu quả phù hợp với từng hoạt động. - Giáo viên đã thiết kế được một số giáo án điện tử để phục vụ trong việc giảng dạy. Và cũng thiết kế 1 số giáo án điện tử tham gia hội Thi cấp trường và có một giáo viên đạt giải nhì, một giải ba và đạt giải Khuyến khích hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Kho học liệu đạt giải nhì và bài giảng điện tử đạt giải ba cấp huyện. Qua đó tôi rút ra được một số bài học cho bản thân. + Khi thiết kế các bài dạy phải căn cứ vào nhận thức thực tế của trẻ để đưa ra những trò chơi phù hợp với từng độ tuổi + Luôn bồi dưỡng, không ngừng học tập kỹ năng thực hành vi tính để xử lý kỹ thuật tốt hơn. Tham khảo các tài liệu, phầm mềm ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao trình độ chuyên môn. + Luôn tìm tòi ý tưởng từ trẻ để đề ra các hoạt động thiết thực và ứng dụng được ở nhiều hoạt động khác nhau, phù hợp với từng lứa tuổi + Việc sử dụng các phần mềm Power point, vi deo trong việc giảng dạy các môn học thu hút được sự chú ý của trẻ trong giờ học, vì vậy kết quả thu được sau buổi học khả quan hơn. * Với học sinh một số hình thức ứng dụng phầm mềm tin học vào các hoạt động giảng dạy trẻ, tôi thấy đã thu hút được 100% trẻ chăm chú. Bởi những hình ảnh, âm thanh sống động, mô phỏng phỏng các hoạt động tương đối chính xác, tạo cho trẻ tham gia các hoạt động một cách chủ động. Chất lượng, kiến thức ở mỗi tiết học truyền đạt đến trẻ kết quả đạt hết sức khả quan. BẢNG KHẢO SÁT ĐẦU NĂM Tổng số 39 giáo viên tại trường tôi như sau: Mức độ Trung Tốt Khá Yếu bình TT Nội dung đánh giá % Số Số Số cô Số cô % % % cô cô Giáo viên có kỹ năng cơ 1 12/39 31 15/39 38 10/39 26 2/39 5 bản về CNTT 2 Giáo viên biết ứng dụng 10/39 27 12/39 31 10/39 26 7/39 18 16 CNTT vào dạy học có hiệu quả Giáo viên biết thiết kế 3 bài giảng video, e- 5/39 13 13/39 33 10/39 26 11/39 28 learning Giáo viên có kỹ năng tìm 4 kiếm, tải dữ liệu trên 9/39 23 13/39 33 12/39 31 5/39 13 mạng internet Giáo viên biết đăng tin 5 bài lên cổng thông tin, 5/39 13 14/39 36 11/39 28 11/39 28 website của nhà trường BẢNG KHẢO SÁT CUỐI NĂM Mức độ Trung Tốt Khá Yếu bình TT Nội dung đánh giá % Số Số Số cô Số cô % % % cô cô Giáo viên có kỹ năng cơ 1 26/39 67 13/39 33 0 0 0 0 bản về CNTT Giáo viên biết ứng dụng 2 CNTT vào dạy học có 25/39 64 13/39 33 1/39 3 0 0 hiệu quả Giáo viên biết thiết kế 3 bài giảng video, e- 15/39 38 13/39 33 10/39 26 1/39 2,5 learning Giáo viên có kỹ năng tìm 4 kiếm, tải dữ liệu trên 18/39 46 15/39 38 6/39 15 0 0 mạng internet Giáo viên biết đăng tin 5 bài lên cổng thông tin, 15/39 38 16/39 41 6/39 15 2/39 5 website của nhà trường * Cơ sở vật chất Cơ sở vật nhà trường đã trang bị được mạng lan, hỗ trợ máy tính cho giáo viên. Trình độ chuyên môn giáo viên, nhân viên nắm vững phương pháp giảng dạy, làm đồ dùng đồ chơi phong phú sáng tạo, chế biến món ăn ngon đảm bảo, thực hiện hoạt động chăm sóc và giáo dục đạt hiệu quả tốt. Đời sống giáo viên, nhân viên ổn định yêu nghề, quý trẻ, yên tâm công tác, tận tụy công việc hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. * Đối với các đoàn thể, phụ huynh học sinh 17 Nhận thức về công tác thực hiện chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng trẻ phát triển toàn diện ngày một nâng cao. Quan tâm đến các con hơn thông qua vi deo của giáo viên gửi bài về qua các nhóm lớp. 4. Hiệu quả của sáng kiến 4.1. Hiệu quả về khoa học - Đề tài mang lại hiệu quả khoa học phù hợp với tình hình sử dụng công nghệ 4.0 hiện nay, nhanh hiệu quả cao, người sử dụng linh hoạt. * Nghiên cứu và phát triển chương trình giáo dục kỹ năng ứng dụng CNTT: Sự tiếp cận đa chiều đối với các khía cạnh của sự phát triển giúp nghiên cứu khoa học hiếu rõ hơn về CNTT để phát triến. Các phương pháp giáo dục ứng dụng CNTT đa dạng như vậy có thể cung cấp dữ liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu để phát triển chương trình giáo dục phù hợp và hiệu quả. * Nâng cao chất lượng giáo dục ở cấp mầm non: Sự đầu tư vào việc phát triển CNTT sẽ tạo ra một lợi ích lâu dài cho hệ thống giáo dục. Giáo viên và trẻ em sẽ có nền tảng tốt hơn để tiếp tục học tập và phát triển ở các cấp học cao hơn. * Xây dựng cộng đồng giáo dục tích cực: Các biện pháp ứng dụng CNTT phát triển đa chiều không chỉ liên quan đến giáo viên và trẻ em mà còn đòi hỏi sự hợp tác giữa giáo viên, phụ huynh và cộng đồng. Việc thúc đẩy sự hợp tác này có thể tạo ra một cộng đồng giáo dục tích cực, nơi mà tất cả mọi người đều hỗ trợ nhau trong việc phát triển toàn diện cho trẻ em. 4.2. Hiệu quả về kinh tế - Thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh tế, mọi người đều áp dụng được tính năng công nghệ thông tin, truyền tải cho giáo viên, phụ huynh, và trẻ tiếp cận nhanh mà không hề mất kinh phí. Rút ngắn thời gian làm việc mà rất hiệu quả. - Những giải pháp mà sáng kiến đưa ra mang tính toàn diện, giá trị làm lợi thành tiền được tính theo quy mô, mức độ áp dụng tại mỗi đơn vị. Hướng giáo dục ứng dụng CNTT đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành kỹ năng và phát triển năng lực giao tiếp cho giáo viên và học sinh. Điều này giúp tiết kiệm rất lớn về kinh tế khi chi phí cho một khóa học CNTT trên thị trường hiện nay khoảng 2 triệu/15 buổi/1 người (với một lớp khoảng 20 học viên). Thông qua quá trình hợp tác làm việc nhóm, nỗ lực vận dụng kiến thức liên môn giải quyết tình huống thực tiễn. Khi thực hiện các dự án học tập, giáo viên cũng phát triển rất nhiều kỹ năng sử dụng CNTT, giúp mang lại giá trị không nhỏ về mặt kinh tế khi 18 so sánh với một khóa học tin học cơ bản hiện nay (1.300.000/15 buổi/1 người). Đặc biệt giáo viên có thế phát huy kĩ năng tự học, được bồi dưỡng để sáng tạo, tạo ra các sản phẩm ứng dụng trong thực tế thu lợi nhuận kinh tế nhất định. 4.3. Hiệu quả về xã hội - Giúp xã hội phát triển lan toản công nghệ đến tất cả mọi người một cách nhanh chóng hiện đại, công nghệ thông tin thời 4.0 giúp cho phụ huynh có cái nhìn toàn diện về con em mình khi được học tại trường. Góp phần vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, bắt đầu từ đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực. Đặc biệt là yêu cầu đẩy mạnh việc giáo dục định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học và kiểm tra, đánh giá; góp phần vào quá trình "chuyển đổi số" trong học đường, nới rộng hình thức và không gian học tập. Những mô hình, cách làm, sản phẩm của sáng kiến còn là gợi ý cho các cơ sở giáo dục ở nhiều cấp học khác nhau nghiên cứu cùng áp dụng. Những giải pháp mà sáng kiến đưa ra mang tính toàn diện, đồng bộ từ tầm nhìn chiến lược của nhà trường đến giải pháp đối với tổ chuyên môn và đội ngũ cán bộ giáo viên trực tiếp giảng dạy. 5. Tính khả thi Ban giám hiệu nhà trường cũng như các giáo viên ở trường mầm non nơi tác giả công tác và địa phương nơi tác giả sinh sống đã nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động học và các hoạt động khác, luôn có sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau, cũng như địa phương đã tạo điều kiện tốt nhất cho nhà trường và gia đình, nên việc áp dụng đề tài này sẽ trở nên rất khả thi và có thể mang lại nhiều hiệu quả tích cực. - Đề tài nhận thấy có tính khả thi cao áp dụng vào thực tế tại trường và có thể áp dụng các trường trong huyện để giáo viên học hỏi lẫn nhau. Nhằm làm cho nền giáo dục và kinh tế phát triển. 6. Thời gian thực hiện của sáng kiến - Sáng kiến bắt đầu thực hiện từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024 và thực hiện phân bố hợp lý trong thơi gian thực hiện của đề tài. 7. Kinh phí thực hiện đề tài - Kinh phí hoạt động cho đề tài rất ít vì máy tính giáo viên đã có và các buổi tập huấn thì tự bồi dưỡng cho nhau. Tính kinh phí trong thời gian thực hiện khoảng 500.000đ. 19 PHẦN III. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 1. Kết luận Đúng như Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học. Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”. Thực hiện công việc này giúp tôi học hỏi được nhiều thứ từ các nguồn thông tin khác nhau trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu. Mặc khác, việc cho trẻ làm quen tiếp cận công nghệ thông tin sớm là một phương án tốt nhằm giúp trẻ hình thành thêm cho trẻ một kỹ năng sống cần thiết trong thời đại công nghệ mở rộng như ngày nay. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên lạm dụng nhiều việc ứng dụng công nghệ thông tin vì trẻ luôn là trung tâm và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng chỉ là phương tiện giúp cho ta cho việc đạt đến mục tiêu chính là phát triển toàn diện cho trẻ. Việc xây dựng bài giảng ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy là rất cần thiết và bổ ích nó sẽ giúp giáo viên rất nhiều trong việc giảng dạy đem lại hiệu quả cao trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh và giảm bớt thời gian của chúng ta trong việc làm đồ dùng ngoài ra những tư liệu ấy còn được sử dụng lâu dài và nhân rộng. Để có được những thành quả trên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện đạt hiệu quả tốt. Trước hết ban giám hiệu phải thực hiện tốt công tác công tác quản lý và tăng cường ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động. Thực tế đã cho thấy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đã góp phần làm thay đổi hình thức, phương pháp dạy và học truyền thống. Việc phối hợp các phương pháp truyền thống có sử dụng CNTT vào giảng dạy đã mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, để ứng dụng CNTT vào giảng dạy thực sự không đơn giản chút nào. Bởi, khi thực hiện đòi hỏi giáo viên phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức để giải quyết các yêu cầu về qui trình và nguyên tắc thiết kế bài giảng: - Thứ nhất, phải đưa ra được mục tiêu của bài học và cần xác định mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập chứ không phải mục tiêu giảng dạy. Nghĩa là, sau khi học người học được gì? 20 - Thứ hai, lựa chọn kiến thức và xác định nội dung. Trên cơ bản là bám sát giáo trình, sắp xếp lại cấu trúc làm nổi bật nội dung trọng tâm, trọng điểm mà không làm sai lệnh mục đích yêu cầu của bài. - Thứ ba, sưu tầm các nguồn tư liệu hoặc xây dựng nguồn tư liệu bổ sung cho bài giảng (hình ảnh, âm thanh, phim...). Những tư liệu này phải được xử lý đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, nội dung, tính thẩm mỹ và được tổ chức, sắp xếp, lưu trữ sao cho khoa học. - Thứ tư, chọn phần mềm trình diễn, các ứng dụng hỗ trợ và các phần mềm chuyên dụng theo từng lĩnh vực. - Thứ năm, nên phân chia thời gian lên lớp sao cho ứng với mỗi thời gian là một hoạt động cụ thể : hướng dẫn ghi chép, đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, tổ chức hoạt động...Từ đó có thể xây dựng nội dung cho các trang (slide) trình chiếu thích hợp, đúng với yêu cầu đặt ra. - Thứ sáu, chạy thử, kiểm tra và hiệu chỉnh các sai sót để hoàn thiện. Tăng cường đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, các ban ngành đoàn thể, cơ sở thôn, hội cha mẹ phụ huynh quan tâm tạo điều kiện để nhà trường mầm non thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Thường xuyên thực hiện công tác thăm lớp dự giờ đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên thường xuyên. Nghiêm túc thực hiện quy chế chuyên môn, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho trẻ. Tổ chức tốt các cuộc thi giáo viên, nhân viên. 2. Đề xuất sau khi thực hiện đề tài Tôi rất mong sự quan tâm của phòng giáo dục đào tạo, tổ giáo vụ mầm non đề xuất Ủy ban nhân dân Huyện Ba Vì đầu tư kinh phí mua thêm các trang thiết bị máy tính, phòng CNTT. Tổ chức nhiều hơn nữa các buổi tập huấn nầng cao CNTT trong quản lý và dạy học. Dù sử dụng bài giảng điện tử nhưng cô vẫn phải chú ý trẻ luôn là trung tâm và phải xem trọng mục tiêu phát triển cho trẻ đã đề ra. Không quá lạm dụng bài giảng điện tử để luôn cho trẻ được hoạt động và phát triển. Khi thiết kế bài giảng phải chủ đích tạo hứng thú và bất ngờ cho trẻ để bài giảng mang lại kết quả hữu hiệu nhất. Vận dụng toàn bộ những gì sẵn có để làm tư liệu, phục vụ cho bài giảng.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_giao_vien_nang_cao_ung_dung_cong.pdf

