SKKN Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non (GV: Lỗ Thị Kim Ngân - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục nhà trẻ.
- Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Ứng dụng linh hoạt các hình thứ, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”.
- Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : Từ ngày 15/9/2024 tại lớp Nhà trẻ D3 trường Mầm Non Ba Trại A.
- Mô tả bản chất của sáng : Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất)
Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau:
- Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
- Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học.
- Giải pháp 3: Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua trò chơi.
- Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển vốn từ cho trẻ.
- Những thông tin được bảo mật (nếu có): Không có
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Đối với giáo viên. - Tôi tự học hỏi, nghiên cứu và nâng cao trình độ chuyên môn. - Tiết kiệm kinh phí chuẩn bị nguyên vật liệu, đồ dùng, phương tiện khi tổ chức hoạt động cho trẻ.

- Đã rút ra được các kinh nghiệm để giúp trẻ phát triển thông qua các hình thức, hoạt động khác nhau ở lớp. * Đối với phụ huynh - Giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ. - Qua trao đổi với giáo viên phụ huynh nắm được tình hình học tập, có giải pháp phù hợp để giúp trẻ tiến bộ hơn trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hình thức, hoạt động. - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được . * Đối với trẻ - Trẻ mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp . - Phát triển khả năng ngôn ngữ, tăng khả năng phát triển vốn từ cho trẻ.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở).
Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Không có.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

pdf 25 trang Bình An 31/03/2026 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non (GV: Lỗ Thị Kim Ngân - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non (GV: Lỗ Thị Kim Ngân - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)

SKKN Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non (GV: Lỗ Thị Kim Ngân - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ 
 TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 ỨNG DỤNG LINH HOẠT CÁC HÌNH THỨC, 
 HOẠT ĐỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 
CHO TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 
 Lĩnh vực : Giáo dục Nhà trẻ 
 Tên tác giả : Lỗ Thị Kim Ngân 
 Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại A 
 Chức vụ : Giáo viên 
 Năm học: 2024 – 2025 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 ----- 
 ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 
 Kính gửi: Hội đồng SKKN huyện Ba Vì. 
 Trình độ 
 Ngày tháng Nơi công Chức 
 Họ và tên chuyên Tên sáng kiến 
 năm sinh tác danh 
 môn 
 Ứng dụng linh hoạt các 
 Trường hình thức, hoạt động để 
 Lỗ Thị Giáo 
 13/11/1993 Mn Ba Đại học phát triển ngôn ngữ cho 
 Kim Ngân viên 
 Trại A trẻ 24-36 tháng tuổi ở 
 trường mầm non 
 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục nhà trẻ. 
 - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Ứng dụng linh hoạt các hình thứ, hoạt 
động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”. 
 - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : Từ ngày 15/9/2024 tại 
lớp Nhà trẻ D3 trường Mầm Non Ba Trại A. 
 - Mô tả bản chất của sáng : Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết 
cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất) 
 Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau: 
 - Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. 
 - Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học. 
 - Giải pháp 3: Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua trò chơi. 
 - Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát 
triển vốn từ cho trẻ. 
 - Những thông tin được bảo mật (nếu có): Không có 
 - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian. 
 - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng 
kiến theo ý kiến của tác giả: 
 * Đối với giáo viên. 
 - Tôi tự học hỏi, nghiên cứu và nâng cao trình độ chuyên môn. 
 - Tiết kiệm kinh phí chuẩn bị nguyên vật liệu, đồ dùng, phương tiện khi tổ 
chức hoạt động cho trẻ. - Đã rút ra được các kinh nghiệm để giúp trẻ phát triển thông qua các hình 
thức, hoạt động khác nhau ở lớp. 
 * Đối với phụ huynh 
 - Giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ đối 
với sự phát triển của trẻ. 
 - Qua trao đổi với giáo viên phụ huynh nắm được tình hình học tập, có giải 
pháp phù hợp để giúp trẻ tiến bộ hơn trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ 
thông qua các hình thức, hoạt động. 
 - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được . 
 * Đối với trẻ 
 - Trẻ mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp . 
 - Phát triển khả năng ngôn ngữ, tăng khả năng phát triển vốn từ cho trẻ. 
 - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng 
kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc 
áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải 
pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp 
tương tự đã biết ở cơ sở). 
 Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần 
đầu (nếu có): Không có. 
 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật 
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. 
 Ba Trại, ngày 22 tháng 3 năm 2025 
 Người yêu cầu 
 (Ký và ghi rõ họ tên) 
 Lỗ Thị Kim Ngân 
 TRƯỜNG MN BA TRẠI A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 TRƯỜNG MN BA TRẠI A --------------- 
 ---------------- 
 Ba Vì, ngày 24 tháng 3 năm 2025 
 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 
- Tên sáng kiến: “Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển 
ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non” 
- Tác giả sáng kiến: Lỗ Thị Kim Ngân 
- Họ tên người đánh giá: Bạch Thị Hạnh 
- Cơ quan công tác: Trường MN Ba Trại A 
 Nhận xét 
 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về 
tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; 
nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, 
rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 
 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và 
đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm 
 Sáng kiến đề xuất các hình thức hoạt động linh hoạt, đa dạng, phù hợp với 
đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Ba 
Trại A. Các biện pháp được đưa ra gần gũi, dễ thực hiện và có tính ứng dụng 
cao trong điều kiện thực tế của trường. 
 Điểm đánh giá: 18 điểm 
 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ 
(như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp): 5 điểm 
 Sáng kiến đã trình bày kết quả khảo sát thực trạng về khả năng phát triển 
ngôn ngữ của trẻ trước khi thực hiện các biện pháp, từ đó cho thấy sự cần thiết 
và tính khác biệt của các giải pháp mới so với các phương pháp truyền thống có 
thể đang được áp dụng. 
 Điểm đánh giá: 4 điểm 
 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng 
tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới): 
20 điểm 
 Sáng kiến thể hiện tính sáng tạo trong việc ứng dụng linh hoạt các hình thức 
hoạt động (thông qua hoạt động hàng ngày, hoạt động học, trò chơi và phối hợp 
với phụ huynh) để tác động đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ một cách toàn diện 
và hiệu quả. Cách tiếp cận đa dạng này cho thấy sự đầu tư nghiên cứu và tìm tòi 
của tác giả. 
 Điểm đánh giá: 17 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện 
và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc 
rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 
 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa 
áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp 
mới: 10 điểm. 
 Số liệu so sánh đối chiếu trước, sau khi thực hiện đề tài chính xác, hợp lí 
không mang tính hình thức. 
 Điểm đánh giá: 8,5 điểm 
 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá 
nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. 
 Các biện pháp được đề xuất trong sáng kiến có tính khả thi cao và có thể 
dễ dàng được áp dụng, nhân rộng cho các nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi ở các trường 
mầm non khác có điều kiện tương đồng. 
 Điểm đánh giá: 17 điểm 
 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự 
kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số 
đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng 
cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã 
hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm 
 Sáng kiến đã được công nhận rộng rãi và mang lại kết quả rõ rệt cho nhà 
trường. Nó không chỉ nâng cao hiệu quả công tác, giáo viên linh hoạt trong hình 
thức tổ chức các hoạt động, mà còn đem lại lợi ích kinh tế và xã hội, đồng thời 
giúp phụ huynh tin tưởng gửi gắm con em mình tại trường. 
 Điểm đánh giá: 17 điểm 
 4. Nội dung 4: Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, 
bố cục logic): 5 điểm. 
 Sáng kiến được trình bày khoa học, đầy đủ và có bố cục hợp lý, với các 
nội dung rõ ràng và dễ hiểu, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nắm bắt các giải 
pháp đã được đề xuất. 
 Điểm đánh giá: 5 điểm 
 Tổng số điểm sáng kiến: 86,5 điểm 
 Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) 
 - Đạt: ☑ - Không đạt: ☐ 
 Người đánh giá 
 (Họ, tên và chữ ký) 
 Bạch Thị Hạnh MỤC LỤC 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ. .................................................................................................. 1 
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. ........................................................... 1 
2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. .......................................................................... 2 
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ....................................................... 2 
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN .................................................................... 3 
1. Hiện trạng của vấn đề ........................................................................................ 3 
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề .......................................... 5 
2.1. Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: ....................... 5 
2.2. Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: ........ 7 
2.3. Giải pháp 3: Pháp phát triển vốn từ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: ......... 8 
2.4. Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát 
triển vốn từ cho trẻ: ............................................................................................... 9 
3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị .................................. 10 
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. ............................................................ 11 
4.1. Hiệu quả về khoa học ................................................................................... 11 
4.2. Hiệu quả về kinh tế....................................................................................... 11 
4.3. Hiệu quả về xã hội ........................................................................................ 11 
5. Tính khả thi của đề tài. .................................................................................... 12 
6. Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến. .............................................................. 12 
7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến. ................................................................ 12 
III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ............................................................................ 12 
MINH CHỨNG HÌNH ẢNH CHO CÁC GIẢI PHÁP 
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ. 
 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 
 Việc ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ 
cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường mầm non là một yêu cầu cấp thiết, nhằm tạo 
điều kiện tối ưu cho trẻ mở rộng vốn từ, rèn luyện kỹ năng giao tiếp và bày tỏ suy 
nghĩ một cách tự nhiên, hiệu quả. 
 Ngôn ngữ đã hình thành từ thuở sơ khai của loài người, gắn liền với sự phát 
triển và tiến hóa của nhân loại từ rất sớm trong lịch sử loài người, nó gắn bó mật 
thiết với lịch sử loài người. Trong công tác giáo dục trẻ mầm non hiện nay, chúng 
ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc đào tạo các con trở thành những 
con người phát triển về mọi mặt: đức, trí, thể, mỹ và hình thành những cơ sở ban 
đầu của nhân cách con người. 
 Ngôn ngữ là cầu nối quan trọng trong giao tiếp, giúp con người kết nối, 
thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc với nhau, là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất 
đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những 
người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp 
trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. 
 Việc phát triển vốn từ, luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp không 
thể tách rời khỏi các môn học cũng như các hoạt động hàng ngày của trẻ. Mỗi từ 
mà trẻ được tiếp cận cần dựa trên một biểu tượng cụ thể, mang ý nghĩa, gắn liền 
với âm thanh và hoàn cảnh sử dụng. Nội dung vốn từ cùng hình thức ngữ pháp cần 
được xây dựng dựa trên khả năng tiếp thu, hoạt động và nhận thức của trẻ. 
 Qua quan sát các giờ học và hoạt động vui chơi, tôi nhận thấy rằng trẻ mầm 
non, đặc biệt là nhóm trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi, rất thích được giao tiếp, trò chuyện 
và bày tỏ cảm xúc. Tuy nhiên, do vốn ngôn ngữ còn hạn chế, nhiều trẻ vẫn chủ yếu 
sử dụng ngôn ngữ thụ động. Vì vậy, cần có những biện pháp sáng tạo và hiệu quả để 
kích thích và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp các cháu tự tin hơn trong giao tiếp. 
 Để giải đáp những thắc mắc hàng ngày của trẻ, người lớn cần trả lời các 
câu hỏi của trẻ một cách rõ ràng, ngắn gọn và đồng thời cung cấp cho trẻ những 
hiểu biết về thế giới xung quanh thông qua ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc. Chính vì 
vậy, mỗi giáo viên khi chăm sóc và giáo dục trẻ cần đặt việc phát triển ngôn ngữ 
lên hàng đầu trong quá trình giảng dạy. 
 Ở lứa tuổi 24 - 36 tháng, trẻ thường có những giai đoạn nói lắp và nói ngọng. 
Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn đặc biệt khi sự phát triển vốn từ đạt tốc độ nhanh 
chóng, vượt trội so với bất kỳ thời điểm nào sau này. Vì vậy, việc phát triển vốn 
từ cho trẻ là vô cùng cần thiết, giúp hoàn thiện bộ máy phát âm, làm giàu vốn từ 
và nâng cao khả năng giao tiếp. Qua đó, trẻ sẽ tự tin hơn trong giao tiếp và lĩnh 
hội tri thức một cách toàn diện. 2 
 Là một cô giáo mầm non trực tiếp dạy trẻ 24-36 tháng tuổi, tôi luôn mang 
trong mình những trăn trở về việc làm sao để giúp các bé phát triển vốn từ, rèn 
luyện cách phát âm chuẩn mực và phòng tránh trường hợp trẻ chậm nói dẫn đến 
các vấn đề giao tiếp, thậm chí là những rối loạn như tự kỷ mà tôi đã chứng kiến ở 
một số trẻ. Tôi mong muốn không bao giờ có trẻ nào phải thường xuyên xin phép 
đi học muộn hay về sớm để đến lớp học chuyên biệt về phát triển ngôn ngữ. 
 Năm học 2024-2025 tôi được phân công phụ trách nhóm nhà trẻ 24-36 
tháng tuổi từng ngày dõi theo sự phát triển vốn từ của trẻ trong lớp tôi hy vọng 
khi lên lớp 3 tuổi không có bạn nào có tình trạng như bạn Phạm Nhật Nam ở lớp 
tôi, cháu sinh ngày 16/12/2022 đến nay đã hơn 2 tuổi nhưng cháu vẫn chưa nói 
được từ nào. 
 Và hiện nay cứ mỗi buổi chiều gia đình lại xin đón cháu sớm hơn 1 tiếng 
đồng hồ để cho cháu đi học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò từ khoảng 16h đến 17h 
tại xã Thuần Mỹ - Ba Vì - Hà Nội và đến thời điểm hiện tại cháu Phạm Nhật Nam 
mới bập bẹ được 1,2 từ chưa rõ ràng. 
 Chính vì ngôn ngữ có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển toàn diện 
của trẻ, là một cô giáo mầm non trực tiếp dạy trẻ 24-36 tháng tuổi, tôi luôn trăn 
trở về cách dạy trẻ phát âm chuẩn, chính xác theo tiếng Việt. Dựa trên kinh nghiệm 
của bản thân, những chia sẻ từ đồng nghiệp, cùng với việc tham khảo sách báo, 
tạp chí, truyền hình và internet, tôi đã rút ra được những bài học quý báu để áp 
dụng và phát triển phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu đặc thù của lứa 
tuổi trẻ tại trường mầm non nơi tôi công tác. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Ứng dụng 
linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng 
tuổi ở trường mầm non”. 
 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. 
 - Nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi thông qua 
 việc ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động giáo dục, tạo nền tảng vững 
 chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ. 
 - Tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 24-36 tháng tuổi. 
 - Giúp trẻ mạnh dạn, tự tin trước mọi người khi giao tiếp, nâng cao khả 
năng nghe hiểu của trẻ. 
 - Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. 
 - Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ. 
 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 
 + Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. 
 + Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để 
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non. 3 
 + Phạm vi nghiên cứu : Đề tài được thực hiện tại lớp nhà trẻ D3. Trường 
mầm non Ba Trại A. 
 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
 1. Hiện trạng của vấn đề 
 * Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài: 
 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là một trong những nhiệm vụ quan 
trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Trong độ tuổi từ 
24-36 tháng, trẻ chưa thể đọc hay viết, vì vậy việc dạy trẻ thông qua các hoạt động 
nghe và nói là rất cần thiết. Đặc biệt, khi trẻ chưa có vốn từ phong phú, giáo viên 
cần sử dụng phương pháp đọc thơ diễn cảm để kích thích khả năng ngôn ngữ và 
tư duy của trẻ. 
 Việc đọc thơ diễn cảm giúp trẻ không chỉ học từ mới mà còn hiểu được ngữ 
điệu, cảm xúc và ý nghĩa của từ ngữ, giúp trẻ phát triển khả năng nhận thức và 
cảm nhận thế giới xung quanh một cách sâu sắc hơn. Thông qua việc lắng nghe 
và quan sát cô giáo diễn đạt, trẻ sẽ dần hình thành các kỹ năng ngôn ngữ cơ bản 
như nghe, nói, nhận diện từ ngữ, và phát triển khả năng giao tiếp hiệu quả. 
 Bên cạnh đó, việc sử dụng thơ ca cũng giúp kích thích trí tưởng tượng của 
trẻ, mở rộng khả năng tư duy sáng tạo và cảm xúc. Đây là một bước quan trọng 
để trẻ tiếp cận và hiểu về văn hóa, xã hội, cũng như học cách biểu đạt cảm xúc và 
suy nghĩ của mình một cách rõ ràng và tự tin hơn. 
 Vì thế, giáo viên mầm non cần chú trọng việc áp dụng phương pháp đọc thơ 
diễn cảm một cách linh hoạt, hấp dẫn, phù hợp với độ tuổi và khả năng tiếp nhận 
của trẻ, từ đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng tư duy một cách hiệu 
quả nhất. 
 Năm học 2024-2025, tôi được phân công dạy lớp nhà trẻ D3. Tôi nhận thấy 
trẻ lớp tôi thực tế còn nhỏ, nhút nhát và đặc biệt hạn chế về vốn từ, trẻ còn nói 
ngọng, nói lắp, chưa mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp. 
 Trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ 24-36 tháng tuổi, việc phát triển 
ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ giao tiếp, bày tỏ nhu cầu và 
mở rộng vốn hiểu biết. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy vẫn còn nhiều khó 
khăn và hạn chế trong việc tổ chức các hình thức, hoạt động linh hoạt để phát triển 
ngôn ngữ cho trẻ. 
 Chính vì lý do đó mà tôi đã chọn đề tài: “Ứng dụng linh hoạt các hình thức, 
hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”. 
 a. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu: 
 Năm học 2024– 2025 tôi được nhà trường phân công dạy lớp nhà trẻ 24-36 
tháng D3. 4 
 - Tổng số trẻ của lớp là 22 trẻ: Số trẻ nam là 12 trẻ, Số trẻ nữ là 10 trẻ. Khả 
năng phát triển về vốn từ, trẻ còn nói ngọng, nói lắp, chưa mạnh dạn, tự tin khi 
giao tiếp. Với đặc điểm tình hình như vậy, khi thực hiện đề tài này tôi thấy có một 
số thuận lợi và khó khăn sau: 
 * Thuận lợi: 
 Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo và giám sát việc giáo viên 
tổ chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi 
về cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy. 
 Cá nhân tôi được làm việc trong môi trường có đầy đủ cơ sở vật chất và đồ 
dùng học tập, luôn nhiệt huyết, tâm huyết với nghề, không ngừng học hỏi và nâng 
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. 
 Tôi thường xuyên tham gia các lớp chuyên đề do phòng và trường tổ chức, 
cũng như được chứng kiến và học hỏi từ các tiết dạy của đồng nghiệp cả trong và 
ngoài trường. Ngoài ra, các đồ dùng phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ của trẻ 
cũng được trang bị phong phú với hình ảnh sống động, màu sắc hấp dẫn như tranh 
ảnh và vật thật, góp phần tạo nên môi trường học tập sinh động và kích thích sự 
phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 
 * Khó khăn. 
 * Về phía giáo viên: 
 + Chưa linh hoạt trong việc kết hợp các hình thức, hoạt động để kích thích 
trẻ nói. 
 + Giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc khuyến khích trẻ chậm 
nói hoặc nhút nhát tham gia vào hoạt động. 
 + Lượng thời gian dành cho mỗi trẻ còn hạn chế, khó có thể hỗ trợ cá nhân 
hóa theo nhu cầu của từng trẻ. 
 * Về phía trẻ: 
 +Trẻ 24 - 36 tháng tuổi do tôi phụ trách là độ tuổi còn nhút nhát ít tương 
tác, không chủ động giao tiếp, các cháu bắt đầu đi học còn khóc nhiều, chưa quen 
với các cô và các bạn, chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt và các hoạt động ở 
lớp, các cháu không cùng tháng tuổi mỗi cháu đều có sở thích và cá tính khác 
nhau. 
 + Một số trẻ gặp khó khăn trong phát âm, khả năng bắt chước và ghi nhớ từ 
vựng chưa tốt 
 * Về phía phụ huynh: 
 + Nhiều phụ huynh chưa quan tâm rèn luyện ngôn ngữ đúng cách cho con 
tại nhà. Vì vậy tôi đã tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh để giúp trẻ phát triển 
ngôn ngữ thông qua các hình thức, hoạt động. 5 
 b. Khảo sát thực trạng 
 Từ những thuận lợi và khó khăn trên, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát trên 
trẻ trước khi đưa ra những biện pháp mới. 
 Với mong muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi ở trường mầm 
non tôi đã dành nhiều thời gian khảo sát thực tế trên trẻ và nhận thấy ở trẻ, chất 
lượng trẻ không đồng đều. Với trẻ tôi khảo sát theo những nội dung sau. 
 Bảng 1: Bảng khảo sát đầu năm học ( Tổng số 22 trẻ) 
 Đạt Chưa đạt 
 STT Nội dung Tổng Số Tỷ lệ 
 Tỷ lệ % Số trẻ 
 số trẻ trẻ % 
 Khả năng nghe hiểu lời 
 1 22 7 32 15 68 
 nói của người khác 
 Khả năng phát âm 
 2 22 8 36 14 64 
 chuẩn, đúng từ. 
 3 Trẻ nói ngọng, nói lắp. 22 6 27 16 73 
 Trẻ mạnh dạn tự tin khi 
 4 22 7 32 15 68 
 giao tiếp. 
 Qua nội dung khảo sát đầu năm học, tôi nhận thấy kết quả còn rất thấp. 
 + Khả năng nghe hiểu lời nói của người khác tỷ lệ: 36% 
 + Khả năng phát âm chuẩn, đúng từ tỷ lệ: 28% 
 + Trẻ nói ngọng, nói lắp tỷ lệ: 46% 
 + Trẻ mạnh dạn tự tin khi giao tiếp tỷ lệ: 36% 
 Từ bảng kết quả trên tôi đã đưa ra những biện pháp sau. 
 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 
 2.1. Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: 
 Trước đây đến giờ đón trẻ thì tôi gần gũi trò chuyện với trẻ bằng những 
câu hỏi như: 
 "Sáng nay ai đưa con đi học?" 
 "Con đã ăn sáng chưa?" 
 "Mẹ đội cho con mũ màu gì?" 
 "Hôm nay con có quần áo đẹp quá, ai mua cho con?" 
 "Quần áo của con màu gì?" 
 Trong quá trình trò chuyện, cô không chỉ lắng nghe mà còn chỉnh sửa nhẹ 
những lỗi phát âm của trẻ, đồng thời động viên để trẻ cảm thấy tự tin và tích cực 
hơn trong việc phát âm đúng. 
 Cô cho trẻ chơi trò chơi "Chiếc hộp bí mật chào buổi sáng": Chuẩn bị một 
chiếc hộp nhỏ đựng các đồ vật quen thuộc (quả bóng, con vật nhỏ, đồ chơi...). Khi 6 
trẻ đến, mời trẻ chọn một đồ vật và cùng cô gọi tên, nói một vài đặc điểm đơn 
giản của đồ vật đó. Bảng tương tác hình ảnh: Sử dụng bảng có dán các hình ảnh 
về hoạt động thường ngày (ăn sáng, mặc quần áo, đi học...). Cô và trẻ cùng chỉ 
vào hình ảnh và nói những từ đơn giản liên quan. Bài hát chào hỏi có tên trẻ: Hát 
một bài hát chào hỏi đơn giản, lồng ghép tên của từng trẻ vào bài hát. Điều này 
giúp trẻ cảm thấy được quan tâm và khuyến khích trẻ nói theo. 
 (Ảnh đón trẻ và trao đổi với phụ huynh) 
 Trẻ cảm thấy yên tâm khi ở lớp cùng cô. Nhờ sự quan tâm và khích lệ của 
cô, các bé dần dần trở nên mạnh dạn hơn trong giao tiếp, ít khóc hơn và chủ động 
trả lời các câu hỏi của cô giáo. 
Qua giờ đón trẻ cô trò chuyện với trẻ giúp trẻ phát triển vốn tù và ngôn ngữ. 
 * Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc: 
 Góc "Ngôi nhà của bé": Trang bị búp bê, quần áo, đồ dùng nhà bếp đồ chơi. Cô 
gợi ý các tình huống chơi đơn giản như "bé bế em", "bé cho búp bê ăn" và khuyến 
khích trẻ nói các từ đơn giản liên quan đến hành động. Góc "Thế giới động vật": 
Cung cấp các con vật đồ chơi và tranh ảnh. Cô khuyến khích trẻ bắt chước tiếng 
kêu của các con vật và gọi tên chúng. Góc "Xây dựng": Cho trẻ chơi với các khối 
gỗ, cốc nhựa... và khuyến khích trẻ nói các từ như "cao", "thấp", "to", "nhỏ", "xếp 
lên", "lấy ra". 
 Hoạt động chơi với đồ chơi tại các góc của lớp không chỉ giúp trẻ khám 
phá môi trường xung quanh mà còn phát triển các giác quan một cách toàn diện. 
Trong quá trình chơi, trẻ có cơ hội được tiếp xúc với nhiều tình huống kích thích 
việc phát âm, trò chuyện và trao đổi giao lưu cùng bạn bè, đồng thời thúc đẩy giao 
tiếp giữa các góc chơi khác nhau. 
Đây là một hình thức quan trọng trong việc phát triển vốn từ, bởi thời gian chơi 
chiếm phần lớn trong ngày của trẻ tại nhà trẻ, khi các bé được tự do và thoải mái 
khám phá. Trong lúc chơi, trẻ được sử dụng nhiều loại từ ngữ khác nhau, từ đó 
học và áp dụng các từ có nội dung đa dạng. 
Ví dụ, khi giao tiếp với các bạn trong nhóm chơi, cô giáo thường gợi mở bằng 
những câu hỏi như: 
 -"Con đang bế ai đấy?" (khi trẻ bế em bé) 
 -"Con đang làm gì?" (trong lúc trẻ xâu vòng) 
 -"Con xâu vòng màu gì đây?" (trong đó trẻ có thể trả lời: màu đỏ, màu xanh, v.v.) 
 Những hoạt động này không chỉ khuyến khích trẻ phát âm và giao tiếp mà 
còn giúp trẻ mở rộng vốn từ và phát triển kỹ năng giao tiếp xã hội một cách tự 
nhiên và hiệu quả. 
 (Hình ảnh trẻ chơi ở góc bế em) 7 
 * Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời: 
 Đi tìm âm thanh": Cùng trẻ lắng nghe các âm thanh khác nhau ngoài trời 
(tiếng chim hót, tiếng gió, tiếng xe...) và gọi tên các âm thanh đó. "Vườn rau bé 
yêu": Nếu có vườn rau, cho trẻ chạm vào các loại rau, gọi tên và nói về màu sắc 
của chúng. Trò chơi vận động đơn giản kết hợp lời nói: "Bắt chước dáng đi của 
con vật" (vừa đi vừa kêu tên con vật), "Nhặt lá vàng" (vừa nhặt vừa nói "lá vàng").
 Khi trẻ nói đúng, cô luôn kịp thời đưa ra những lời động viên, khen ngợi 
như “Con giỏi lắm”. Trong quá trình dạo chơi, trẻ được đặt ra nhiều câu hỏi về 
tên gọi, công dụng của đồ vật, cây cối và các yếu tố khác trong môi trường xung 
quanh. Do đó, hoạt động ngoài trời góp phần rất lớn vào việc phát triển ngôn ngữ 
cho trẻ. 
 * Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh: 
 "Bữa ăn vui vẻ": Khi cho trẻ ăn, cô gọi tên các món ăn, khuyến khích trẻ 
nói "ngon", "xong rồi". Có thể sử dụng các bài hát ngắn về đồ ăn. "Giờ đi ngủ êm 
ái": Kể những câu chuyện ngắn, có vần điệu đơn giản. Hát ru hoặc mở nhạc nhẹ 
nhàng. Gọi tên các bộ phận cơ thể khi giúp trẻ thay quần áo ngủ. "Bé sạch sẽ": 
Khi vệ sinh, gọi tên các đồ dùng (khăn mặt, xà phòng, bàn chải), khuyến khích trẻ 
nói "sạch", " thơm" 
 2.2. Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: 
 * Thông qua hoạt động nhận biết: 
 Đây là hoạt động quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và việc 
cung cấp vốn từ cho trẻ. Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng đang trong giai đoạn học nói, 
bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh nên trẻ thường gặp hiện tượng nói không đủ từ, 
nói ngọng hoặc nói lắp. Vì vậy, trong giờ học, cô cần chuẩn bị các đồ dùng trực 
quan đẹp mắt, hấp dẫn để thu hút sự chú ý của trẻ. Đồng thời, hệ thống câu hỏi 
được đặt ra phải rõ ràng, ngắn gọn; trong khi trẻ trả lời, cô sẽ hướng dẫn trẻ nói 
đúng từ và hoàn chỉnh câu. 
 Sử dụng đồ vật thật: Cho trẻ sờ, nắm, ngửi các đồ vật thật (hoa quả, rau củ, 
đồ dùng cá nhân...) và gọi tên. Trò chơi "Đâu rồi?": Cô giấu một đồ vật quen thuộc 
và hỏi trẻ "Đâu rồi?", khuyến khích trẻ tìm và gọi tên. Sách tương tác: Sử dụng 
các loại sách có hình ảnh lớn, màu sắc tươi sáng, có thể sờ, lật mở để thu hút sự 
chú ý của trẻ và khuyến khích trẻ gọi tên các hình ảnh. 
 (Ảnh cô dạy trẻ hoạt động nhận biết quả bưởi) 
 * Thông qua hoạt động làm quen với văn học: 
 Kể chuyện bằng hình ảnh: Sử dụng các bức tranh lớn để kể chuyện, chỉ vào 
hình ảnh và nói những từ đơn giản. Đọc thơ kết hợp cử chỉ: Đọc những bài thơ 
ngắn, có nhịp điệu vui tươi và kết hợp các cử chỉ minh họa đơn giản để trẻ bắt 8 
chước. Sử dụng rối ngón tay: Tạo các nhân vật rối ngón tay đơn giản và kể những 
câu chuyện ngắn, khuyến khích trẻ tương tác và nói những câu thoại ngắn. 
 (Ảnh dạy trẻ đọc thơ) 
 * Thông qua hoạt động Âm nhạc: 
 Bài hát vận động đơn giản: Dạy trẻ những bài hát có động tác minh họa dễ 
thực hiện, khuyến khích trẻ hát và vận động theo. Sử dụng nhạc cụ gõ: Cho trẻ 
làm quen với các loại nhạc cụ gõ đơn giản (xắc xô, trống nhỏ...) và khuyến khích 
trẻ tạo ra âm thanh theo nhịp điệu. Trò chơi "Nghe tiếng kêu": Cho trẻ nghe tiếng 
kêu của các con vật và đoán tên con vật. 
 (Ảnh cô dạy trẻ hát) 
 2.3. Giải pháp 3: Pháp phát triển vốn từ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: 
 Đối với trẻ nhà trẻ, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo và trở thành 
phương tiện hiệu quả để cung cấp, tích lũy vốn từ. Qua những trò chơi, trẻ được 
khuyến khích giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ dần trở nên lưu loát và vốn từ 
cũng được tăng lên. Tôi nhận thấy rằng khi trẻ tham gia trò chơi, các em rất thoải 
mái, hứng thú và bị lôi cuốn vào bài học. Điều này giúp trẻ tiếp thu kiến thức một 
cách nhẹ nhàng và tự nhiên, không cảm thấy bị gò bó. 
Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo sách báo và các tài liệu đã được áp dụng thực 
tế tại lớp, từ đó nhận thấy rằng trò chơi thực sự có hiệu quả trong việc làm phong 
phú vốn từ cho trẻ, góp phần cải thiện ngôn ngữ của các em theo thời gian. 
Ví dụ, những trò chơi đơn giản như: 
 - Trò chơi dẫm xốp bong bóng 
 - Trò chơi Ngón tay nhúc nhích 
 - Trò chơi Bọ dừa 
 - Trò chơi Nu na nu nống 
 - Trò chơi Chi chi chành chành 
 - Trò chơi Con muỗi 
 Mỗi trò chơi đều đi kèm với những bài đồng dao có cấu trúc câu ngắn, dễ 
đọc và phù hợp với trẻ, như: 
 Kết quả: Thông qua trò chơi, trẻ được đọc những câu đồng dao dễ thuộc, kết 
hợp với những cử chỉ ngộ nghĩnh, âm điệu vui tươi và sống động. Điều này không 
chỉ gắn liền với cuộc sống hàng ngày của trẻ mà còn giúp các em thêm hào hứng 
trong học tập. 
 (Ảnh trẻ chơi nu na nu nống, trò chơi Bọ dừa) 9 
 2.4. Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong 
việc phát triển vốn từ cho trẻ: 
 Như chúng ta đã biết, môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và 
nhà trường. Vì vậy, phụ huynh đóng vai trò quyết định trong việc phát triển ngôn 
ngữ cho trẻ. Họ không chỉ tạo dựng một môi trường ngôn ngữ phong phú mà còn 
cung cấp nguồn nguyên liệu quý giá phục vụ cho các giờ hoạt động nhận biết và 
tập nói, từ đó góp phần phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện cho trẻ. 
 Vì đây là giai đoạn trẻ nhà trẻ, khi trẻ bắt đầu tập nói, tôi đã trao đổi với 
phụ huynh về ý nghĩa của việc phát triển vốn từ và đề nghị phụ huynh phối hợp 
chặt chẽ cùng cô giáo trong công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đối với những 
bé mới đi học, vốn từ còn hạn hẹp, trẻ thường hay nói ngọng, nói lắp. Vì vậy, sự 
hợp tác giữa phụ huynh và giáo viên trong quá trình trò chuyện với trẻ là rất cần 
thiết. Qua đó, trẻ có cơ hội vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hàng 
ngày, được giao tiếp và nhận được sự sửa chữa, chỉnh âm kịp thời. Nhận thức rõ 
tầm quan trọng này ngay từ đầu năm học, tôi đã lập kế hoạch tuyên truyền, hướng 
dẫn phụ huynh về vai trò của họ trong việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách 
hiệu quả. 
 Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về giờ hoạt động nhận biết, tập 
nói trên lớp. Tôi nhắc phụ huynh về việc tại nhà cần thường xuyên hỏi lại trẻ để 
khuyến khích trẻ trả lời và kích thích tư duy, cũng như nhắc lại những gì trẻ đã 
thấy, trải nghiệm trong suốt ban ngày. Đồng thời, tôi luôn mong muốn lắng nghe 
những phản hồi từ phụ huynh về con, từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu giúp 
trẻ tích cực hơn trong các hoạt động nhận biết và giao tiếp 
 Đồng thời, hàng tháng và hàng tuần, tôi đều có kế hoạch cụ thể về các hoạt 
động của trẻ trên lớp, được hiển thị rõ ràng trên bảng tuyên truyền của lớp. Điều 
này giúp phụ huynh nắm rõ lịch học của con và phối hợp cùng giáo viên trong 
việc rèn luyện vốn từ cho trẻ khi ở nhà. Có thể nói, công tác tuyên truyền và trao 
đổi thường xuyên với phụ huynh là một việc làm thiết thực và vô cùng quan trọng 
trong việc giúp trẻ phát triển vốn từ. 
 Từ đầu năm học, tôi đã nhận thấy khả năng ngôn ngữ của học sinh Phạm 
Nhật Nam trong lớp còn hạn chế, và tôi đã trực tiếp trao đổi với mẹ cháu về vấn 
đề này. Tuy nhiên, mẹ cháu dường như không đồng ý với nhận định của tôi, cho 
rằng theo dân gian, chỉ cần ra chợ cướp bánh về cho cháu ăn là cháu sẽ nói được. 
Tôi cảm thấy rất buồn khi nghe lời đó, bởi sự phát triển ngôn ngữ của trẻ cần được 
quan tâm và hỗ trợ một cách khoa học và kịp thời. 
 Kiên trì trao đổi với cả ông bà nội của cháu, đến giữa tháng 12 năm 2024, 
gia đình mới đồng ý cho cháu đi khám tại Viện Nhi Trung Ương. Sau đó, gia đình 10 
đã cho cháu học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò tại Thuần Mỹ, Ba Vì, Hà Nội. Tới 
nay, cháu đã bập bẹ được một số từ như "Dạ", "Ba", "Bà" nhưng cách phát âm 
vẫn chưa rõ ràng. 
 Kết quả: Qua quá trình phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, tôi nhận thấy kết quả 
đạt được rất khả quan. Các bậc phụ huynh không chỉ ủng hộ về mặt vật chất mà 
còn tinh thần, tạo nên một mối quan hệ gần gũi, cởi mở giữa gia đình và nhà 
trường. Mỗi buổi sáng, khi phụ huynh đưa con đến lớp, họ luôn trao đổi với tôi 
về những việc trẻ đã làm được và những câu trẻ đã nói. Đó thực sự là những món 
quà vô giá đối với tôi. 
 Thực tế cho thấy, nếu gia đình và nhà trường hợp tác hiệu quả, thì không 
chỉ tạo dựng được một môi trường học tập thân thiện mà cả hai bên còn nhận được 
những đóng góp chân thành và những kinh nghiệm thiết thực, quý báu trong công 
tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Cô và mẹ như hai người bạn hiền, cùng chung tâm 
huyết nuôi dưỡng những mầm non, khiến trẻ luôn yêu mến cô, yêu mến lớp và 
luôn đi học đầy đủ. 
 (Ảnh cô đón trẻ và trao đổi với phụ huynh cháu Phạm Nhật Nam) 
 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị 
 Bảng 2: Bảng so sánh kết quả khảo sát đầu năm- cuối năm sau khi áp 
dụng biện pháp 
 Kết quả đầu năm Kết quả cuối năm 
 Chưa 
 Đạt Chưa đạt Đạt 
 STT Nội dung Tổng đạt 
 Tỉ Tỉ Tỉ 
 số trẻ Số Số Tỉ lệ Số 
 lệ Số trẻ lệ lệ 
 trẻ trẻ % trẻ 
 % % % 
 Khả năng nghe, 
 1 hiểu lời nói của 22 7 32 15 68 20 91 2 9 
 người khác 
 Khả năng phát âm 
 2 22 8 36 14 64 21 95 1 5 
 chuẩn, đúng từ. 
 Trẻ nói ngọng, nói 
 3 22 6 27 16 73 20 91 2 9 
 lắp. 
 Trẻ mạnh dạn tự 22 
 4 7 32 15 68 22 100 0 0 
 tin khi giao tiếp. 
 Qua bảng khảo sát sau khi áp dụng các biện pháp tôi nhận thấy trẻ có sự phát 
triển rõ rệt cụ thể như sau: 
 + Khả năng nghe, hiểu lời nói của người khác của trẻ tăng từ 7 trẻ lên 20 trẻ 
tỉ lệ: 59% 
 + Khả năng phát âm chuẩn, đúng từ của trẻ tăng từ 8 trẻ lên 21 trẻ tỉ lệ: 59% 11 
 + Trẻ nói ngọng, nói lắp của trẻ tăng từ 6 trẻ lên 20 trẻ tỉ lệ: 62% 
 +Trẻ mạnh dạn tự tin khi giao tiếp của trẻ tăng từ 7 trẻ lên 22 trẻ tỉ lệ: 68% 
 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. 
 4.1. Hiệu quả về khoa học 
 Trong trường tôi, sáng kiến này đã được áp dụng vào thực tế giảng dạy và 
cho thấy hiệu quả rất cao với mức chi phí thấp. Đặc biệt, các đồ dùng, đồ chơi mà 
tôi tự tạo ra để phục vụ cho các giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ đều là những 
vật liệu phế liệu, phế thải mà tôi đã tận dụng. Chúng không chỉ giúp tiết kiệm chi 
phí, vì ít phải mua sắm mà còn rất dễ kiếm, dễ tìm và dễ làm, nhưng đồng thời 
mang lại hiệu quả giáo dục rất cao. 
 4.2. Hiệu quả về kinh tế 
 - Tôi vận dụng sáng kiến này vào thực tế giảng dạy, và nhận thấy nó mang 
lại hiệu quả cao với mức chi phí thấp. Đồ dùng, đồ chơi mà tôi tự tạo ra nhằm 
phát triển vốn từ cho trẻ đều được làm từ những phế liệu, phế thải đã có sẵn. Nhờ 
vậy, không chỉ tiết kiệm được chi phí mua sắm mà còn dễ kiếm, dễ tìm và dễ chế 
tạo, đồng thời đem lại hiệu quả giáo dục rất cao. 
 4.3. Hiệu quả về xã hội 
 - Việc phát triển ngôn ngữ và tích lũy vốn từ cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng là 
một nhiệm vụ quan trọng, không thể thiếu đối với mỗi giáo viên mầm non. Qua 
việc áp dụng những giải pháp đã đề cập vào thực tế lớp học, tôi nhận thấy vốn từ 
của trẻ ngày càng phong phú, ngôn ngữ trở nên rõ ràng và mạch lạc hơn. Điều này 
góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện, từ khả năng giao tiếp đến tư duy sáng tạo, 
tạo nền tảng vững chắc cho sự học tập và phát triển sau này. 
 * Đối với giáo viên: 
 - Giáo viên hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, 
giúp trẻ trau dồi vốn từ một cách phong phú và đa dạng. Cụ thể: 
 - Giáo viên có kiến thức chuyên sâu, nắm vững nội dung chương trình phù 
 hợp với độ tuổi của trẻ. 
 - Giáo viên biết phối hợp với phụ huynh qua việc tuyên truyền và cùng nhau 
 sưu tầm nguyên liệu để làm trang phục, tổ chức đóng kịch cùng con khi ở 
 nhà, qua đó tạo môi trường học tập ngôn ngữ phong phú và thực tiễn. 
 * Đối với trẻ: 
 - Trẻ vừa chơi vừa hoạt động, nên chúng cảm thấy rất thoải mái, không bị 
gò bó. Qua đó, trẻ tự kích thích bản thân cố gắng hoàn thiện vai trò của mình trong 
trò chơi, từ đó hình thành tính trách nhiệm và mang lại niềm vui cho mọi người. 
 - Việc cung cấp cho trẻ những ngôn ngữ dân gian phong phú, đa dạng và lôi 
cuốn không chỉ giúp trẻ giao tiếp mà còn giúp trẻ lĩnh hội được sự giàu có của 
ngôn từ. 12 
 - Qua đó, trẻ hiểu rằng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn 
là công cụ để thể hiện mọi vấn đề, mọi suy nghĩ của con người. 
 * Đối với phụ huynh: 
 Phụ huynh trở nên ý thức hơn trong cách giáo dục con em, biết phối hợp 
cùng giáo viên để hỗ trợ trẻ, đặc biệt là những bé đang trong giai đoạn tập nói, 
phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện. 
 5. Tính khả thi của đề tài. 
 Sáng kiến tôi đã được áp dụng cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi tại lớp nhà 
trẻ D3. Tôi đã triển khai đề tài trên lớp, ở trường. Tôi đã gặt hái được những kết 
quả tốt đẹp. Trải qua một quá trình thực hiện bền bỉ, liên tục, trẻ ở lớp tôi đã có 
những chuyển biến rõ rệt, phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất tốt và 
khá, phát triển khả năng ngôn ngữ. Các cháu hiện nói năng mạch lạc, rõ ràng, biết 
cách diễn đạt ý muốn của mình. Trẻ trở nên mạnh dạn và tự tin hơn trong giao 
tiếp, với vốn từ đã được phát triển phong phú hơn rất nhiều. 
 6. Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến. 
 - Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến: Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 
năm 2025. 
 7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến. 
 Khi thực hiện sáng kiến tôi sử dụng đồ dùng tự tạo từ nguyên vật liệu như: 
Bìa cattong, vỏ chai, hột hạt nên hạn chế tối đa chi phí. 
 III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 
 1. Đối với cấp trên và phòng giáo dục. 
 Tôi kính mong Phòng Giáo Dục tổ chức nhiều buổi bồi dưỡng chuyên đề và 
chia sẻ các phương pháp dạy học tiên tiến cho toàn bộ giáo viên trong huyện. Qua 
đó, chúng tôi sẽ có cơ hội học hỏi những kinh nghiệm giảng dạy hay, giao lưu với 
các trường khác, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn và phong cách sư phạm, 
đảm bảo chất lượng giáo dục được thực hiện tốt nhất. 
 2. Đối với ban giám hiệu nhà trường. 
 Tôi kính mong ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn tổ chức nhiều 
buổi bồi dưỡng chia sẻ chuyên môn tạo cơ hội cho giáo viên giao lưu, học hỏi và 
trau dồi kinh nghiệm lẫn nhau. Đồng thời, nhà trường bổ sung trang thiết bị đồ 
dùng, đồ chơi hiện đại để giáo viên có thể xây dựng các hoạt động chất lượng, 
đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của trẻ. 
 3. Đối với giáo viên. 
 - Giáo viên cần không ngừng học hỏi thêm nhiều kỹ năng sư phạm, linh 
hoạt hình thức dạy để bài học trở nên phong phú và sinh động hơn, phù hợp với 
nhu cầu phát triển của trẻ. Đồng thời, tổ chức nhiều buổi ngoại khóa, trải nghiệm 13 
sẽ tạo cơ hội cho trẻ được giao lưu, học hỏi lẫn nhau, góp phần phát triển ngôn 
ngữ một cách toàn diện. 
 Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng linh hoạt các hình thức, 
hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi ở trường mầm non” 
mà tôi đã nghiên cứu và triển khai trong năm học 2024- 2025. Tôi rất mong được 
sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu và chị em đồng nghiệp để bài viết hoàn 
chỉnh hơn. 
hoat-dong-de-phat-trien-ngon-ngu-cho-tre-24-36-thang-tuoi-o-truong-mam-non-
.html 
 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết không sao chép nội dung của 
người khác. 
 Tôi xin chân thành cảm ơn! 
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Ba Trại, ngày 22 tháng 3 năm 2025 
 ( Ký tên, đóng dấu) Người viết sáng kiến 
 (Ký tên) 
 Lỗ Thị Kim Ngân 
 MINH CHỨNG HÌNH ẢNH CHO CÁC GIẢI PHÁP 
Ảnh minh chứng cho giải pháp 1: 
 (Ảnh cô đón trẻ và trao đổi với phụ huynh) 
 (Ảnh trẻ vui chơi hoạt động ngoài trời) 

File đính kèm:

  • pdfskkn_ung_dung_linh_hoat_cac_hinh_thuc_hoat_dong_de_phat_trie.pdf