SKKN Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non (GV: Lỗ Thị Kim Ngân - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục nhà trẻ.
- Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Ứng dụng linh hoạt các hình thứ, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”.
- Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : Từ ngày 15/9/2024 tại lớp Nhà trẻ D3 trường Mầm Non Ba Trại A.
- Mô tả bản chất của sáng : Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất)
Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau:
- Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
- Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học.
- Giải pháp 3: Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua trò chơi.
- Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển vốn từ cho trẻ.
- Những thông tin được bảo mật (nếu có): Không có
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Đối với giáo viên. - Tôi tự học hỏi, nghiên cứu và nâng cao trình độ chuyên môn. - Tiết kiệm kinh phí chuẩn bị nguyên vật liệu, đồ dùng, phương tiện khi tổ chức hoạt động cho trẻ.
- Đã rút ra được các kinh nghiệm để giúp trẻ phát triển thông qua các hình thức, hoạt động khác nhau ở lớp. * Đối với phụ huynh - Giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ. - Qua trao đổi với giáo viên phụ huynh nắm được tình hình học tập, có giải pháp phù hợp để giúp trẻ tiến bộ hơn trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hình thức, hoạt động. - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được . * Đối với trẻ - Trẻ mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp . - Phát triển khả năng ngôn ngữ, tăng khả năng phát triển vốn từ cho trẻ.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở).
Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Không có.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non (GV: Lỗ Thị Kim Ngân - Trường MN Ba Trại A - Năm học 2024-2025)
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON BA TRẠI A SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG LINH HOẠT CÁC HÌNH THỨC, HOẠT ĐỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON Lĩnh vực : Giáo dục Nhà trẻ Tên tác giả : Lỗ Thị Kim Ngân Đơn vị công tác : Trường Mầm non Ba Trại A Chức vụ : Giáo viên Năm học: 2024 – 2025 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----- ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng SKKN huyện Ba Vì. Trình độ Ngày tháng Nơi công Chức Họ và tên chuyên Tên sáng kiến năm sinh tác danh môn Ứng dụng linh hoạt các Trường hình thức, hoạt động để Lỗ Thị Giáo 13/11/1993 Mn Ba Đại học phát triển ngôn ngữ cho Kim Ngân viên Trại A trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục nhà trẻ. - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Ứng dụng linh hoạt các hình thứ, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : Từ ngày 15/9/2024 tại lớp Nhà trẻ D3 trường Mầm Non Ba Trại A. - Mô tả bản chất của sáng : Sáng kiến trình bày đúng quy định văn bản. Kết cấu gồm 03 phần chính (đặt vấn đề, nội dung của sáng kiến, kiến nghị và đề xuất) Việc áp dụng phương pháp, được tiến hành theo các giải pháp sau: - Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. - Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học. - Giải pháp 3: Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua trò chơi. - Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển vốn từ cho trẻ. - Những thông tin được bảo mật (nếu có): Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Đối với giáo viên. - Tôi tự học hỏi, nghiên cứu và nâng cao trình độ chuyên môn. - Tiết kiệm kinh phí chuẩn bị nguyên vật liệu, đồ dùng, phương tiện khi tổ chức hoạt động cho trẻ. - Đã rút ra được các kinh nghiệm để giúp trẻ phát triển thông qua các hình thức, hoạt động khác nhau ở lớp. * Đối với phụ huynh - Giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ. - Qua trao đổi với giáo viên phụ huynh nắm được tình hình học tập, có giải pháp phù hợp để giúp trẻ tiến bộ hơn trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hình thức, hoạt động. - Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được . * Đối với trẻ - Trẻ mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp . - Phát triển khả năng ngôn ngữ, tăng khả năng phát triển vốn từ cho trẻ. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở). Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Không có. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Trại, ngày 22 tháng 3 năm 2025 Người yêu cầu (Ký và ghi rõ họ tên) Lỗ Thị Kim Ngân TRƯỜNG MN BA TRẠI A CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TRƯỜNG MN BA TRẠI A --------------- ---------------- Ba Vì, ngày 24 tháng 3 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non” - Tác giả sáng kiến: Lỗ Thị Kim Ngân - Họ tên người đánh giá: Bạch Thị Hạnh - Cơ quan công tác: Trường MN Ba Trại A Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến đề xuất các hình thức hoạt động linh hoạt, đa dạng, phù hợp với đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 24-36 tháng tuổi tại trường mầm non Ba Trại A. Các biện pháp được đưa ra gần gũi, dễ thực hiện và có tính ứng dụng cao trong điều kiện thực tế của trường. Điểm đánh giá: 18 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp): 5 điểm Sáng kiến đã trình bày kết quả khảo sát thực trạng về khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ trước khi thực hiện các biện pháp, từ đó cho thấy sự cần thiết và tính khác biệt của các giải pháp mới so với các phương pháp truyền thống có thể đang được áp dụng. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới): 20 điểm Sáng kiến thể hiện tính sáng tạo trong việc ứng dụng linh hoạt các hình thức hoạt động (thông qua hoạt động hàng ngày, hoạt động học, trò chơi và phối hợp với phụ huynh) để tác động đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ một cách toàn diện và hiệu quả. Cách tiếp cận đa dạng này cho thấy sự đầu tư nghiên cứu và tìm tòi của tác giả. Điểm đánh giá: 17 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Số liệu so sánh đối chiếu trước, sau khi thực hiện đề tài chính xác, hợp lí không mang tính hình thức. Điểm đánh giá: 8,5 điểm 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Các biện pháp được đề xuất trong sáng kiến có tính khả thi cao và có thể dễ dàng được áp dụng, nhân rộng cho các nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi ở các trường mầm non khác có điều kiện tương đồng. Điểm đánh giá: 17 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Sáng kiến đã được công nhận rộng rãi và mang lại kết quả rõ rệt cho nhà trường. Nó không chỉ nâng cao hiệu quả công tác, giáo viên linh hoạt trong hình thức tổ chức các hoạt động, mà còn đem lại lợi ích kinh tế và xã hội, đồng thời giúp phụ huynh tin tưởng gửi gắm con em mình tại trường. Điểm đánh giá: 17 điểm 4. Nội dung 4: Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, đầy đủ và có bố cục hợp lý, với các nội dung rõ ràng và dễ hiểu, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nắm bắt các giải pháp đã được đề xuất. Điểm đánh giá: 5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 86,5 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt: ☑ - Không đạt: ☐ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Bạch Thị Hạnh MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ. .................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. ........................................................... 1 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. .......................................................................... 2 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ....................................................... 2 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN .................................................................... 3 1. Hiện trạng của vấn đề ........................................................................................ 3 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề .......................................... 5 2.1. Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: ....................... 5 2.2. Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: ........ 7 2.3. Giải pháp 3: Pháp phát triển vốn từ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: ......... 8 2.4. Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển vốn từ cho trẻ: ............................................................................................... 9 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị .................................. 10 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. ............................................................ 11 4.1. Hiệu quả về khoa học ................................................................................... 11 4.2. Hiệu quả về kinh tế....................................................................................... 11 4.3. Hiệu quả về xã hội ........................................................................................ 11 5. Tính khả thi của đề tài. .................................................................................... 12 6. Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến. .............................................................. 12 7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến. ................................................................ 12 III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ............................................................................ 12 MINH CHỨNG HÌNH ẢNH CHO CÁC GIẢI PHÁP I. ĐẶT VẤN ĐỀ. 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. Việc ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường mầm non là một yêu cầu cấp thiết, nhằm tạo điều kiện tối ưu cho trẻ mở rộng vốn từ, rèn luyện kỹ năng giao tiếp và bày tỏ suy nghĩ một cách tự nhiên, hiệu quả. Ngôn ngữ đã hình thành từ thuở sơ khai của loài người, gắn liền với sự phát triển và tiến hóa của nhân loại từ rất sớm trong lịch sử loài người, nó gắn bó mật thiết với lịch sử loài người. Trong công tác giáo dục trẻ mầm non hiện nay, chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc đào tạo các con trở thành những con người phát triển về mọi mặt: đức, trí, thể, mỹ và hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người. Ngôn ngữ là cầu nối quan trọng trong giao tiếp, giúp con người kết nối, thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc với nhau, là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Việc phát triển vốn từ, luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp không thể tách rời khỏi các môn học cũng như các hoạt động hàng ngày của trẻ. Mỗi từ mà trẻ được tiếp cận cần dựa trên một biểu tượng cụ thể, mang ý nghĩa, gắn liền với âm thanh và hoàn cảnh sử dụng. Nội dung vốn từ cùng hình thức ngữ pháp cần được xây dựng dựa trên khả năng tiếp thu, hoạt động và nhận thức của trẻ. Qua quan sát các giờ học và hoạt động vui chơi, tôi nhận thấy rằng trẻ mầm non, đặc biệt là nhóm trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi, rất thích được giao tiếp, trò chuyện và bày tỏ cảm xúc. Tuy nhiên, do vốn ngôn ngữ còn hạn chế, nhiều trẻ vẫn chủ yếu sử dụng ngôn ngữ thụ động. Vì vậy, cần có những biện pháp sáng tạo và hiệu quả để kích thích và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp các cháu tự tin hơn trong giao tiếp. Để giải đáp những thắc mắc hàng ngày của trẻ, người lớn cần trả lời các câu hỏi của trẻ một cách rõ ràng, ngắn gọn và đồng thời cung cấp cho trẻ những hiểu biết về thế giới xung quanh thông qua ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc. Chính vì vậy, mỗi giáo viên khi chăm sóc và giáo dục trẻ cần đặt việc phát triển ngôn ngữ lên hàng đầu trong quá trình giảng dạy. Ở lứa tuổi 24 - 36 tháng, trẻ thường có những giai đoạn nói lắp và nói ngọng. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn đặc biệt khi sự phát triển vốn từ đạt tốc độ nhanh chóng, vượt trội so với bất kỳ thời điểm nào sau này. Vì vậy, việc phát triển vốn từ cho trẻ là vô cùng cần thiết, giúp hoàn thiện bộ máy phát âm, làm giàu vốn từ và nâng cao khả năng giao tiếp. Qua đó, trẻ sẽ tự tin hơn trong giao tiếp và lĩnh hội tri thức một cách toàn diện. 2 Là một cô giáo mầm non trực tiếp dạy trẻ 24-36 tháng tuổi, tôi luôn mang trong mình những trăn trở về việc làm sao để giúp các bé phát triển vốn từ, rèn luyện cách phát âm chuẩn mực và phòng tránh trường hợp trẻ chậm nói dẫn đến các vấn đề giao tiếp, thậm chí là những rối loạn như tự kỷ mà tôi đã chứng kiến ở một số trẻ. Tôi mong muốn không bao giờ có trẻ nào phải thường xuyên xin phép đi học muộn hay về sớm để đến lớp học chuyên biệt về phát triển ngôn ngữ. Năm học 2024-2025 tôi được phân công phụ trách nhóm nhà trẻ 24-36 tháng tuổi từng ngày dõi theo sự phát triển vốn từ của trẻ trong lớp tôi hy vọng khi lên lớp 3 tuổi không có bạn nào có tình trạng như bạn Phạm Nhật Nam ở lớp tôi, cháu sinh ngày 16/12/2022 đến nay đã hơn 2 tuổi nhưng cháu vẫn chưa nói được từ nào. Và hiện nay cứ mỗi buổi chiều gia đình lại xin đón cháu sớm hơn 1 tiếng đồng hồ để cho cháu đi học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò từ khoảng 16h đến 17h tại xã Thuần Mỹ - Ba Vì - Hà Nội và đến thời điểm hiện tại cháu Phạm Nhật Nam mới bập bẹ được 1,2 từ chưa rõ ràng. Chính vì ngôn ngữ có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển toàn diện của trẻ, là một cô giáo mầm non trực tiếp dạy trẻ 24-36 tháng tuổi, tôi luôn trăn trở về cách dạy trẻ phát âm chuẩn, chính xác theo tiếng Việt. Dựa trên kinh nghiệm của bản thân, những chia sẻ từ đồng nghiệp, cùng với việc tham khảo sách báo, tạp chí, truyền hình và internet, tôi đã rút ra được những bài học quý báu để áp dụng và phát triển phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu đặc thù của lứa tuổi trẻ tại trường mầm non nơi tôi công tác. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”. 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến. - Nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi thông qua việc ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động giáo dục, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ. - Tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 24-36 tháng tuổi. - Giúp trẻ mạnh dạn, tự tin trước mọi người khi giao tiếp, nâng cao khả năng nghe hiểu của trẻ. - Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. - Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. + Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. + Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non. 3 + Phạm vi nghiên cứu : Đề tài được thực hiện tại lớp nhà trẻ D3. Trường mầm non Ba Trại A. II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề * Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là một trong những nhiệm vụ quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Trong độ tuổi từ 24-36 tháng, trẻ chưa thể đọc hay viết, vì vậy việc dạy trẻ thông qua các hoạt động nghe và nói là rất cần thiết. Đặc biệt, khi trẻ chưa có vốn từ phong phú, giáo viên cần sử dụng phương pháp đọc thơ diễn cảm để kích thích khả năng ngôn ngữ và tư duy của trẻ. Việc đọc thơ diễn cảm giúp trẻ không chỉ học từ mới mà còn hiểu được ngữ điệu, cảm xúc và ý nghĩa của từ ngữ, giúp trẻ phát triển khả năng nhận thức và cảm nhận thế giới xung quanh một cách sâu sắc hơn. Thông qua việc lắng nghe và quan sát cô giáo diễn đạt, trẻ sẽ dần hình thành các kỹ năng ngôn ngữ cơ bản như nghe, nói, nhận diện từ ngữ, và phát triển khả năng giao tiếp hiệu quả. Bên cạnh đó, việc sử dụng thơ ca cũng giúp kích thích trí tưởng tượng của trẻ, mở rộng khả năng tư duy sáng tạo và cảm xúc. Đây là một bước quan trọng để trẻ tiếp cận và hiểu về văn hóa, xã hội, cũng như học cách biểu đạt cảm xúc và suy nghĩ của mình một cách rõ ràng và tự tin hơn. Vì thế, giáo viên mầm non cần chú trọng việc áp dụng phương pháp đọc thơ diễn cảm một cách linh hoạt, hấp dẫn, phù hợp với độ tuổi và khả năng tiếp nhận của trẻ, từ đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng tư duy một cách hiệu quả nhất. Năm học 2024-2025, tôi được phân công dạy lớp nhà trẻ D3. Tôi nhận thấy trẻ lớp tôi thực tế còn nhỏ, nhút nhát và đặc biệt hạn chế về vốn từ, trẻ còn nói ngọng, nói lắp, chưa mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp. Trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ 24-36 tháng tuổi, việc phát triển ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ giao tiếp, bày tỏ nhu cầu và mở rộng vốn hiểu biết. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn và hạn chế trong việc tổ chức các hình thức, hoạt động linh hoạt để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Chính vì lý do đó mà tôi đã chọn đề tài: “Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non”. a. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu: Năm học 2024– 2025 tôi được nhà trường phân công dạy lớp nhà trẻ 24-36 tháng D3. 4 - Tổng số trẻ của lớp là 22 trẻ: Số trẻ nam là 12 trẻ, Số trẻ nữ là 10 trẻ. Khả năng phát triển về vốn từ, trẻ còn nói ngọng, nói lắp, chưa mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp. Với đặc điểm tình hình như vậy, khi thực hiện đề tài này tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn sau: * Thuận lợi: Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo và giám sát việc giáo viên tổ chức các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy. Cá nhân tôi được làm việc trong môi trường có đầy đủ cơ sở vật chất và đồ dùng học tập, luôn nhiệt huyết, tâm huyết với nghề, không ngừng học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tôi thường xuyên tham gia các lớp chuyên đề do phòng và trường tổ chức, cũng như được chứng kiến và học hỏi từ các tiết dạy của đồng nghiệp cả trong và ngoài trường. Ngoài ra, các đồ dùng phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ của trẻ cũng được trang bị phong phú với hình ảnh sống động, màu sắc hấp dẫn như tranh ảnh và vật thật, góp phần tạo nên môi trường học tập sinh động và kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ. * Khó khăn. * Về phía giáo viên: + Chưa linh hoạt trong việc kết hợp các hình thức, hoạt động để kích thích trẻ nói. + Giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc khuyến khích trẻ chậm nói hoặc nhút nhát tham gia vào hoạt động. + Lượng thời gian dành cho mỗi trẻ còn hạn chế, khó có thể hỗ trợ cá nhân hóa theo nhu cầu của từng trẻ. * Về phía trẻ: +Trẻ 24 - 36 tháng tuổi do tôi phụ trách là độ tuổi còn nhút nhát ít tương tác, không chủ động giao tiếp, các cháu bắt đầu đi học còn khóc nhiều, chưa quen với các cô và các bạn, chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt và các hoạt động ở lớp, các cháu không cùng tháng tuổi mỗi cháu đều có sở thích và cá tính khác nhau. + Một số trẻ gặp khó khăn trong phát âm, khả năng bắt chước và ghi nhớ từ vựng chưa tốt * Về phía phụ huynh: + Nhiều phụ huynh chưa quan tâm rèn luyện ngôn ngữ đúng cách cho con tại nhà. Vì vậy tôi đã tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua các hình thức, hoạt động. 5 b. Khảo sát thực trạng Từ những thuận lợi và khó khăn trên, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát trên trẻ trước khi đưa ra những biện pháp mới. Với mong muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi ở trường mầm non tôi đã dành nhiều thời gian khảo sát thực tế trên trẻ và nhận thấy ở trẻ, chất lượng trẻ không đồng đều. Với trẻ tôi khảo sát theo những nội dung sau. Bảng 1: Bảng khảo sát đầu năm học ( Tổng số 22 trẻ) Đạt Chưa đạt STT Nội dung Tổng Số Tỷ lệ Tỷ lệ % Số trẻ số trẻ trẻ % Khả năng nghe hiểu lời 1 22 7 32 15 68 nói của người khác Khả năng phát âm 2 22 8 36 14 64 chuẩn, đúng từ. 3 Trẻ nói ngọng, nói lắp. 22 6 27 16 73 Trẻ mạnh dạn tự tin khi 4 22 7 32 15 68 giao tiếp. Qua nội dung khảo sát đầu năm học, tôi nhận thấy kết quả còn rất thấp. + Khả năng nghe hiểu lời nói của người khác tỷ lệ: 36% + Khả năng phát âm chuẩn, đúng từ tỷ lệ: 28% + Trẻ nói ngọng, nói lắp tỷ lệ: 46% + Trẻ mạnh dạn tự tin khi giao tiếp tỷ lệ: 36% Từ bảng kết quả trên tôi đã đưa ra những biện pháp sau. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 2.1. Giải pháp 1: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: Trước đây đến giờ đón trẻ thì tôi gần gũi trò chuyện với trẻ bằng những câu hỏi như: "Sáng nay ai đưa con đi học?" "Con đã ăn sáng chưa?" "Mẹ đội cho con mũ màu gì?" "Hôm nay con có quần áo đẹp quá, ai mua cho con?" "Quần áo của con màu gì?" Trong quá trình trò chuyện, cô không chỉ lắng nghe mà còn chỉnh sửa nhẹ những lỗi phát âm của trẻ, đồng thời động viên để trẻ cảm thấy tự tin và tích cực hơn trong việc phát âm đúng. Cô cho trẻ chơi trò chơi "Chiếc hộp bí mật chào buổi sáng": Chuẩn bị một chiếc hộp nhỏ đựng các đồ vật quen thuộc (quả bóng, con vật nhỏ, đồ chơi...). Khi 6 trẻ đến, mời trẻ chọn một đồ vật và cùng cô gọi tên, nói một vài đặc điểm đơn giản của đồ vật đó. Bảng tương tác hình ảnh: Sử dụng bảng có dán các hình ảnh về hoạt động thường ngày (ăn sáng, mặc quần áo, đi học...). Cô và trẻ cùng chỉ vào hình ảnh và nói những từ đơn giản liên quan. Bài hát chào hỏi có tên trẻ: Hát một bài hát chào hỏi đơn giản, lồng ghép tên của từng trẻ vào bài hát. Điều này giúp trẻ cảm thấy được quan tâm và khuyến khích trẻ nói theo. (Ảnh đón trẻ và trao đổi với phụ huynh) Trẻ cảm thấy yên tâm khi ở lớp cùng cô. Nhờ sự quan tâm và khích lệ của cô, các bé dần dần trở nên mạnh dạn hơn trong giao tiếp, ít khóc hơn và chủ động trả lời các câu hỏi của cô giáo. Qua giờ đón trẻ cô trò chuyện với trẻ giúp trẻ phát triển vốn tù và ngôn ngữ. * Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc: Góc "Ngôi nhà của bé": Trang bị búp bê, quần áo, đồ dùng nhà bếp đồ chơi. Cô gợi ý các tình huống chơi đơn giản như "bé bế em", "bé cho búp bê ăn" và khuyến khích trẻ nói các từ đơn giản liên quan đến hành động. Góc "Thế giới động vật": Cung cấp các con vật đồ chơi và tranh ảnh. Cô khuyến khích trẻ bắt chước tiếng kêu của các con vật và gọi tên chúng. Góc "Xây dựng": Cho trẻ chơi với các khối gỗ, cốc nhựa... và khuyến khích trẻ nói các từ như "cao", "thấp", "to", "nhỏ", "xếp lên", "lấy ra". Hoạt động chơi với đồ chơi tại các góc của lớp không chỉ giúp trẻ khám phá môi trường xung quanh mà còn phát triển các giác quan một cách toàn diện. Trong quá trình chơi, trẻ có cơ hội được tiếp xúc với nhiều tình huống kích thích việc phát âm, trò chuyện và trao đổi giao lưu cùng bạn bè, đồng thời thúc đẩy giao tiếp giữa các góc chơi khác nhau. Đây là một hình thức quan trọng trong việc phát triển vốn từ, bởi thời gian chơi chiếm phần lớn trong ngày của trẻ tại nhà trẻ, khi các bé được tự do và thoải mái khám phá. Trong lúc chơi, trẻ được sử dụng nhiều loại từ ngữ khác nhau, từ đó học và áp dụng các từ có nội dung đa dạng. Ví dụ, khi giao tiếp với các bạn trong nhóm chơi, cô giáo thường gợi mở bằng những câu hỏi như: -"Con đang bế ai đấy?" (khi trẻ bế em bé) -"Con đang làm gì?" (trong lúc trẻ xâu vòng) -"Con xâu vòng màu gì đây?" (trong đó trẻ có thể trả lời: màu đỏ, màu xanh, v.v.) Những hoạt động này không chỉ khuyến khích trẻ phát âm và giao tiếp mà còn giúp trẻ mở rộng vốn từ và phát triển kỹ năng giao tiếp xã hội một cách tự nhiên và hiệu quả. (Hình ảnh trẻ chơi ở góc bế em) 7 * Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời: Đi tìm âm thanh": Cùng trẻ lắng nghe các âm thanh khác nhau ngoài trời (tiếng chim hót, tiếng gió, tiếng xe...) và gọi tên các âm thanh đó. "Vườn rau bé yêu": Nếu có vườn rau, cho trẻ chạm vào các loại rau, gọi tên và nói về màu sắc của chúng. Trò chơi vận động đơn giản kết hợp lời nói: "Bắt chước dáng đi của con vật" (vừa đi vừa kêu tên con vật), "Nhặt lá vàng" (vừa nhặt vừa nói "lá vàng"). Khi trẻ nói đúng, cô luôn kịp thời đưa ra những lời động viên, khen ngợi như “Con giỏi lắm”. Trong quá trình dạo chơi, trẻ được đặt ra nhiều câu hỏi về tên gọi, công dụng của đồ vật, cây cối và các yếu tố khác trong môi trường xung quanh. Do đó, hoạt động ngoài trời góp phần rất lớn vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. * Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh: "Bữa ăn vui vẻ": Khi cho trẻ ăn, cô gọi tên các món ăn, khuyến khích trẻ nói "ngon", "xong rồi". Có thể sử dụng các bài hát ngắn về đồ ăn. "Giờ đi ngủ êm ái": Kể những câu chuyện ngắn, có vần điệu đơn giản. Hát ru hoặc mở nhạc nhẹ nhàng. Gọi tên các bộ phận cơ thể khi giúp trẻ thay quần áo ngủ. "Bé sạch sẽ": Khi vệ sinh, gọi tên các đồ dùng (khăn mặt, xà phòng, bàn chải), khuyến khích trẻ nói "sạch", " thơm" 2.2. Giải pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động học: * Thông qua hoạt động nhận biết: Đây là hoạt động quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và việc cung cấp vốn từ cho trẻ. Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng đang trong giai đoạn học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh nên trẻ thường gặp hiện tượng nói không đủ từ, nói ngọng hoặc nói lắp. Vì vậy, trong giờ học, cô cần chuẩn bị các đồ dùng trực quan đẹp mắt, hấp dẫn để thu hút sự chú ý của trẻ. Đồng thời, hệ thống câu hỏi được đặt ra phải rõ ràng, ngắn gọn; trong khi trẻ trả lời, cô sẽ hướng dẫn trẻ nói đúng từ và hoàn chỉnh câu. Sử dụng đồ vật thật: Cho trẻ sờ, nắm, ngửi các đồ vật thật (hoa quả, rau củ, đồ dùng cá nhân...) và gọi tên. Trò chơi "Đâu rồi?": Cô giấu một đồ vật quen thuộc và hỏi trẻ "Đâu rồi?", khuyến khích trẻ tìm và gọi tên. Sách tương tác: Sử dụng các loại sách có hình ảnh lớn, màu sắc tươi sáng, có thể sờ, lật mở để thu hút sự chú ý của trẻ và khuyến khích trẻ gọi tên các hình ảnh. (Ảnh cô dạy trẻ hoạt động nhận biết quả bưởi) * Thông qua hoạt động làm quen với văn học: Kể chuyện bằng hình ảnh: Sử dụng các bức tranh lớn để kể chuyện, chỉ vào hình ảnh và nói những từ đơn giản. Đọc thơ kết hợp cử chỉ: Đọc những bài thơ ngắn, có nhịp điệu vui tươi và kết hợp các cử chỉ minh họa đơn giản để trẻ bắt 8 chước. Sử dụng rối ngón tay: Tạo các nhân vật rối ngón tay đơn giản và kể những câu chuyện ngắn, khuyến khích trẻ tương tác và nói những câu thoại ngắn. (Ảnh dạy trẻ đọc thơ) * Thông qua hoạt động Âm nhạc: Bài hát vận động đơn giản: Dạy trẻ những bài hát có động tác minh họa dễ thực hiện, khuyến khích trẻ hát và vận động theo. Sử dụng nhạc cụ gõ: Cho trẻ làm quen với các loại nhạc cụ gõ đơn giản (xắc xô, trống nhỏ...) và khuyến khích trẻ tạo ra âm thanh theo nhịp điệu. Trò chơi "Nghe tiếng kêu": Cho trẻ nghe tiếng kêu của các con vật và đoán tên con vật. (Ảnh cô dạy trẻ hát) 2.3. Giải pháp 3: Pháp phát triển vốn từ cho trẻ thông qua chơi trò chơi: Đối với trẻ nhà trẻ, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo và trở thành phương tiện hiệu quả để cung cấp, tích lũy vốn từ. Qua những trò chơi, trẻ được khuyến khích giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ dần trở nên lưu loát và vốn từ cũng được tăng lên. Tôi nhận thấy rằng khi trẻ tham gia trò chơi, các em rất thoải mái, hứng thú và bị lôi cuốn vào bài học. Điều này giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và tự nhiên, không cảm thấy bị gò bó. Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo sách báo và các tài liệu đã được áp dụng thực tế tại lớp, từ đó nhận thấy rằng trò chơi thực sự có hiệu quả trong việc làm phong phú vốn từ cho trẻ, góp phần cải thiện ngôn ngữ của các em theo thời gian. Ví dụ, những trò chơi đơn giản như: - Trò chơi dẫm xốp bong bóng - Trò chơi Ngón tay nhúc nhích - Trò chơi Bọ dừa - Trò chơi Nu na nu nống - Trò chơi Chi chi chành chành - Trò chơi Con muỗi Mỗi trò chơi đều đi kèm với những bài đồng dao có cấu trúc câu ngắn, dễ đọc và phù hợp với trẻ, như: Kết quả: Thông qua trò chơi, trẻ được đọc những câu đồng dao dễ thuộc, kết hợp với những cử chỉ ngộ nghĩnh, âm điệu vui tươi và sống động. Điều này không chỉ gắn liền với cuộc sống hàng ngày của trẻ mà còn giúp các em thêm hào hứng trong học tập. (Ảnh trẻ chơi nu na nu nống, trò chơi Bọ dừa) 9 2.4. Giải pháp 4: Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển vốn từ cho trẻ: Như chúng ta đã biết, môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và nhà trường. Vì vậy, phụ huynh đóng vai trò quyết định trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Họ không chỉ tạo dựng một môi trường ngôn ngữ phong phú mà còn cung cấp nguồn nguyên liệu quý giá phục vụ cho các giờ hoạt động nhận biết và tập nói, từ đó góp phần phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện cho trẻ. Vì đây là giai đoạn trẻ nhà trẻ, khi trẻ bắt đầu tập nói, tôi đã trao đổi với phụ huynh về ý nghĩa của việc phát triển vốn từ và đề nghị phụ huynh phối hợp chặt chẽ cùng cô giáo trong công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đối với những bé mới đi học, vốn từ còn hạn hẹp, trẻ thường hay nói ngọng, nói lắp. Vì vậy, sự hợp tác giữa phụ huynh và giáo viên trong quá trình trò chuyện với trẻ là rất cần thiết. Qua đó, trẻ có cơ hội vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày, được giao tiếp và nhận được sự sửa chữa, chỉnh âm kịp thời. Nhận thức rõ tầm quan trọng này ngay từ đầu năm học, tôi đã lập kế hoạch tuyên truyền, hướng dẫn phụ huynh về vai trò của họ trong việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách hiệu quả. Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về giờ hoạt động nhận biết, tập nói trên lớp. Tôi nhắc phụ huynh về việc tại nhà cần thường xuyên hỏi lại trẻ để khuyến khích trẻ trả lời và kích thích tư duy, cũng như nhắc lại những gì trẻ đã thấy, trải nghiệm trong suốt ban ngày. Đồng thời, tôi luôn mong muốn lắng nghe những phản hồi từ phụ huynh về con, từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu giúp trẻ tích cực hơn trong các hoạt động nhận biết và giao tiếp Đồng thời, hàng tháng và hàng tuần, tôi đều có kế hoạch cụ thể về các hoạt động của trẻ trên lớp, được hiển thị rõ ràng trên bảng tuyên truyền của lớp. Điều này giúp phụ huynh nắm rõ lịch học của con và phối hợp cùng giáo viên trong việc rèn luyện vốn từ cho trẻ khi ở nhà. Có thể nói, công tác tuyên truyền và trao đổi thường xuyên với phụ huynh là một việc làm thiết thực và vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển vốn từ. Từ đầu năm học, tôi đã nhận thấy khả năng ngôn ngữ của học sinh Phạm Nhật Nam trong lớp còn hạn chế, và tôi đã trực tiếp trao đổi với mẹ cháu về vấn đề này. Tuy nhiên, mẹ cháu dường như không đồng ý với nhận định của tôi, cho rằng theo dân gian, chỉ cần ra chợ cướp bánh về cho cháu ăn là cháu sẽ nói được. Tôi cảm thấy rất buồn khi nghe lời đó, bởi sự phát triển ngôn ngữ của trẻ cần được quan tâm và hỗ trợ một cách khoa học và kịp thời. Kiên trì trao đổi với cả ông bà nội của cháu, đến giữa tháng 12 năm 2024, gia đình mới đồng ý cho cháu đi khám tại Viện Nhi Trung Ương. Sau đó, gia đình 10 đã cho cháu học lớp chuyên biệt 1 thầy 1 trò tại Thuần Mỹ, Ba Vì, Hà Nội. Tới nay, cháu đã bập bẹ được một số từ như "Dạ", "Ba", "Bà" nhưng cách phát âm vẫn chưa rõ ràng. Kết quả: Qua quá trình phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, tôi nhận thấy kết quả đạt được rất khả quan. Các bậc phụ huynh không chỉ ủng hộ về mặt vật chất mà còn tinh thần, tạo nên một mối quan hệ gần gũi, cởi mở giữa gia đình và nhà trường. Mỗi buổi sáng, khi phụ huynh đưa con đến lớp, họ luôn trao đổi với tôi về những việc trẻ đã làm được và những câu trẻ đã nói. Đó thực sự là những món quà vô giá đối với tôi. Thực tế cho thấy, nếu gia đình và nhà trường hợp tác hiệu quả, thì không chỉ tạo dựng được một môi trường học tập thân thiện mà cả hai bên còn nhận được những đóng góp chân thành và những kinh nghiệm thiết thực, quý báu trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Cô và mẹ như hai người bạn hiền, cùng chung tâm huyết nuôi dưỡng những mầm non, khiến trẻ luôn yêu mến cô, yêu mến lớp và luôn đi học đầy đủ. (Ảnh cô đón trẻ và trao đổi với phụ huynh cháu Phạm Nhật Nam) 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị Bảng 2: Bảng so sánh kết quả khảo sát đầu năm- cuối năm sau khi áp dụng biện pháp Kết quả đầu năm Kết quả cuối năm Chưa Đạt Chưa đạt Đạt STT Nội dung Tổng đạt Tỉ Tỉ Tỉ số trẻ Số Số Tỉ lệ Số lệ Số trẻ lệ lệ trẻ trẻ % trẻ % % % Khả năng nghe, 1 hiểu lời nói của 22 7 32 15 68 20 91 2 9 người khác Khả năng phát âm 2 22 8 36 14 64 21 95 1 5 chuẩn, đúng từ. Trẻ nói ngọng, nói 3 22 6 27 16 73 20 91 2 9 lắp. Trẻ mạnh dạn tự 22 4 7 32 15 68 22 100 0 0 tin khi giao tiếp. Qua bảng khảo sát sau khi áp dụng các biện pháp tôi nhận thấy trẻ có sự phát triển rõ rệt cụ thể như sau: + Khả năng nghe, hiểu lời nói của người khác của trẻ tăng từ 7 trẻ lên 20 trẻ tỉ lệ: 59% + Khả năng phát âm chuẩn, đúng từ của trẻ tăng từ 8 trẻ lên 21 trẻ tỉ lệ: 59% 11 + Trẻ nói ngọng, nói lắp của trẻ tăng từ 6 trẻ lên 20 trẻ tỉ lệ: 62% +Trẻ mạnh dạn tự tin khi giao tiếp của trẻ tăng từ 7 trẻ lên 22 trẻ tỉ lệ: 68% 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. 4.1. Hiệu quả về khoa học Trong trường tôi, sáng kiến này đã được áp dụng vào thực tế giảng dạy và cho thấy hiệu quả rất cao với mức chi phí thấp. Đặc biệt, các đồ dùng, đồ chơi mà tôi tự tạo ra để phục vụ cho các giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ đều là những vật liệu phế liệu, phế thải mà tôi đã tận dụng. Chúng không chỉ giúp tiết kiệm chi phí, vì ít phải mua sắm mà còn rất dễ kiếm, dễ tìm và dễ làm, nhưng đồng thời mang lại hiệu quả giáo dục rất cao. 4.2. Hiệu quả về kinh tế - Tôi vận dụng sáng kiến này vào thực tế giảng dạy, và nhận thấy nó mang lại hiệu quả cao với mức chi phí thấp. Đồ dùng, đồ chơi mà tôi tự tạo ra nhằm phát triển vốn từ cho trẻ đều được làm từ những phế liệu, phế thải đã có sẵn. Nhờ vậy, không chỉ tiết kiệm được chi phí mua sắm mà còn dễ kiếm, dễ tìm và dễ chế tạo, đồng thời đem lại hiệu quả giáo dục rất cao. 4.3. Hiệu quả về xã hội - Việc phát triển ngôn ngữ và tích lũy vốn từ cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng là một nhiệm vụ quan trọng, không thể thiếu đối với mỗi giáo viên mầm non. Qua việc áp dụng những giải pháp đã đề cập vào thực tế lớp học, tôi nhận thấy vốn từ của trẻ ngày càng phong phú, ngôn ngữ trở nên rõ ràng và mạch lạc hơn. Điều này góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện, từ khả năng giao tiếp đến tư duy sáng tạo, tạo nền tảng vững chắc cho sự học tập và phát triển sau này. * Đối với giáo viên: - Giáo viên hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ trau dồi vốn từ một cách phong phú và đa dạng. Cụ thể: - Giáo viên có kiến thức chuyên sâu, nắm vững nội dung chương trình phù hợp với độ tuổi của trẻ. - Giáo viên biết phối hợp với phụ huynh qua việc tuyên truyền và cùng nhau sưu tầm nguyên liệu để làm trang phục, tổ chức đóng kịch cùng con khi ở nhà, qua đó tạo môi trường học tập ngôn ngữ phong phú và thực tiễn. * Đối với trẻ: - Trẻ vừa chơi vừa hoạt động, nên chúng cảm thấy rất thoải mái, không bị gò bó. Qua đó, trẻ tự kích thích bản thân cố gắng hoàn thiện vai trò của mình trong trò chơi, từ đó hình thành tính trách nhiệm và mang lại niềm vui cho mọi người. - Việc cung cấp cho trẻ những ngôn ngữ dân gian phong phú, đa dạng và lôi cuốn không chỉ giúp trẻ giao tiếp mà còn giúp trẻ lĩnh hội được sự giàu có của ngôn từ. 12 - Qua đó, trẻ hiểu rằng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ để thể hiện mọi vấn đề, mọi suy nghĩ của con người. * Đối với phụ huynh: Phụ huynh trở nên ý thức hơn trong cách giáo dục con em, biết phối hợp cùng giáo viên để hỗ trợ trẻ, đặc biệt là những bé đang trong giai đoạn tập nói, phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện. 5. Tính khả thi của đề tài. Sáng kiến tôi đã được áp dụng cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi tại lớp nhà trẻ D3. Tôi đã triển khai đề tài trên lớp, ở trường. Tôi đã gặt hái được những kết quả tốt đẹp. Trải qua một quá trình thực hiện bền bỉ, liên tục, trẻ ở lớp tôi đã có những chuyển biến rõ rệt, phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất tốt và khá, phát triển khả năng ngôn ngữ. Các cháu hiện nói năng mạch lạc, rõ ràng, biết cách diễn đạt ý muốn của mình. Trẻ trở nên mạnh dạn và tự tin hơn trong giao tiếp, với vốn từ đã được phát triển phong phú hơn rất nhiều. 6. Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến. - Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến: Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. 7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến. Khi thực hiện sáng kiến tôi sử dụng đồ dùng tự tạo từ nguyên vật liệu như: Bìa cattong, vỏ chai, hột hạt nên hạn chế tối đa chi phí. III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 1. Đối với cấp trên và phòng giáo dục. Tôi kính mong Phòng Giáo Dục tổ chức nhiều buổi bồi dưỡng chuyên đề và chia sẻ các phương pháp dạy học tiên tiến cho toàn bộ giáo viên trong huyện. Qua đó, chúng tôi sẽ có cơ hội học hỏi những kinh nghiệm giảng dạy hay, giao lưu với các trường khác, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn và phong cách sư phạm, đảm bảo chất lượng giáo dục được thực hiện tốt nhất. 2. Đối với ban giám hiệu nhà trường. Tôi kính mong ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn tổ chức nhiều buổi bồi dưỡng chia sẻ chuyên môn tạo cơ hội cho giáo viên giao lưu, học hỏi và trau dồi kinh nghiệm lẫn nhau. Đồng thời, nhà trường bổ sung trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi hiện đại để giáo viên có thể xây dựng các hoạt động chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của trẻ. 3. Đối với giáo viên. - Giáo viên cần không ngừng học hỏi thêm nhiều kỹ năng sư phạm, linh hoạt hình thức dạy để bài học trở nên phong phú và sinh động hơn, phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ. Đồng thời, tổ chức nhiều buổi ngoại khóa, trải nghiệm 13 sẽ tạo cơ hội cho trẻ được giao lưu, học hỏi lẫn nhau, góp phần phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện. Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng linh hoạt các hình thức, hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi ở trường mầm non” mà tôi đã nghiên cứu và triển khai trong năm học 2024- 2025. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu và chị em đồng nghiệp để bài viết hoàn chỉnh hơn. hoat-dong-de-phat-trien-ngon-ngu-cho-tre-24-36-thang-tuoi-o-truong-mam-non- .html Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết không sao chép nội dung của người khác. Tôi xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Ba Trại, ngày 22 tháng 3 năm 2025 ( Ký tên, đóng dấu) Người viết sáng kiến (Ký tên) Lỗ Thị Kim Ngân MINH CHỨNG HÌNH ẢNH CHO CÁC GIẢI PHÁP Ảnh minh chứng cho giải pháp 1: (Ảnh cô đón trẻ và trao đổi với phụ huynh) (Ảnh trẻ vui chơi hoạt động ngoài trời)
File đính kèm:
skkn_ung_dung_linh_hoat_cac_hinh_thuc_hoat_dong_de_phat_trie.pdf

