SKKN Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ

1- Lý do chọn đề tài:

Bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó , quý trọng nó.”

Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em . Ngôn ngữ là phương tiện giữ gìn bảo tồn, truyền đạt và phát triển những kinh nghiệm lịch sử và phát triển xã hội của loài người . Trẻ em sinh ra đầu tiên là những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu bằng hoạt động tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn trẻ em dần chiếm lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người và biến nó thành cái riêng của mình. Trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ sẽ trở thành những chủ thể có ý thức, lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn.

Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trí tuệ và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Như vậy ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

Là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 24- 36 tháng tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm sao để dạy các con phát âm chuẩn, chính xác đúng Tiếng Việt. Vì thế tôi đã dạy các con thông qua các môn học khác nhau và dạy các con ở mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động hàng ngày, từ đó trẻ khám phá hiểu biết về mọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển tư duy. Tôi thấy mình cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy nên tôi đã chọn đề tài:

“Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non.” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đối với chương trình GDMN mới hiện nay.

2- Phạm vi thực hiện đề tài:

Tại lớp D3 ( nhóm trẻ 24- 36 tháng) trường Mầm Non Chu Minh Ba Vì Hà Nội từ tuần 2 tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023

doc 22 trang Bình An 02/04/2026 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non

SKKN Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non
 PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1- Lý do chọn đề tài:
 Bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu 
của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó , quý trọng nó.”
 Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ 
em . Ngôn ngữ là phương tiện giữ gìn bảo tồn, truyền đạt và phát triển những kinh 
nghiệm lịch sử và phát triển xã hội của loài người . Trẻ em sinh ra đầu tiên là 
những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu bằng hoạt động 
tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn trẻ em dần chiếm 
lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người và biến nó thành cái 
riêng của mình. Trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ sẽ trở thành những chủ thể có ý thức, 
lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn.
 Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trí 
tuệ và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Như vậy ngôn ngữ 
có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ 
một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. 
 Là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 24- 36 tháng tôi luôn có những 
suy nghĩ trăn trở làm sao để dạy các con phát âm chuẩn, chính xác đúng Tiếng 
Việt. Vì thế tôi đã dạy các con thông qua các môn học khác nhau và dạy các con ở 
mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động hàng ngày, từ đó trẻ khám phá hiểu biết về mọi 
sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển tư duy. Tôi thấy mình cần 
phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp 
với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy nên tôi đã chọn đề tài: 
 “Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ 
tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non.” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo 
dục trẻ đối với chương trình GDMN mới hiện nay.
 2- Phạm vi thực hiện đề tài: 
 Tại lớp D3 ( nhóm trẻ 24- 36 tháng) trường Mầm Non Chu Minh Ba 
Vì Hà Nội từ tuần 2 tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023
 1 
 PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I – Cơ sở lý luận:
 Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ 
Mầm Non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng không thể thiếu 
được. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt đối với trẻ 
nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh 
hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với 
cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn 
của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của xã hội mà mọi 
người đều phải thực hiện theo những quy định chung đó.
 Ngôn ngữ còn là phương tiện giúp trẻ tìm hiểu khám phá, nhận thức về môi 
trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của người lớn trẻ sẽ được làm quen 
với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh. Nhờ có ngôn ngữ mà 
trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh của các sự vật , hiện tượng 
trong cuộc sống hàng ngày.
 Đặc biệt đối với trẻ 24- 36 tháng cần giúp trẻ phát triển mở rộng các loại vốn 
từ, biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên nói chuyện với trẻ về 
những sự vật, hiện tượng, hình ảnh. mà trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hành ngày, 
nói cho trẻ biết đặc điểm, tính chất, công dụng của chúng từ đó hình thành ngôn 
ngữ cho trẻ .
II- Thực trạng của vấn đề:
1- Thuận lợi:
 - Lớp có diện tích khá rộng rãi, thoáng mát.
 - Trẻ được phân chia theo đúng độ tuổi.
 - Đa số trẻ đi học rất đều.
 - Đồ dùng , đồ chơi phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phong phú về 
mầu sắc và hình ảnh, hấp dẫn thu hút trẻ.
 2 - Giáo viên nhiệt tình làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo phục vụ cho việc cung cấp 
và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2- Khó khăn:
 - Vì các cháu bắt đầu đi học nên còn khóc nhiều chưa thích nghi với điều kiện 
sinh hoạt của lớp nên còn bỡ ngỡ. Mỗi cháu lại có những sở thích và cá tính khác 
nhau.
 - Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa nhớ hết trật tự của các âm khi sắp 
 xếp thành câu vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
 - 60% trẻ phát âm chưa chính xác hay ngọng chữ x-s, dấu ngã - dấu sắc, dấu 
 hỏi – dấu nặng.
3- Quá trình điều tra thực tiễn:
 - Là một giáo viên chủ nhiệm lớp ngay từ đầu năm học tôi luôn quan tâm đến 
 đặc điểm tâm sinh lý cũng như ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ nhằm khám phá , 
 tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ để kịp thời có những biện pháp giáo 
 dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho trẻ. Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy rằng 
 ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về câu từ, về cách phát âm. Khi trẻ nói hầu 
 hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu cho nên nhiều khi giáo viên 
 không hiểu trẻ đang nói về cái gì? Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nói , trẻ chỉ 
 biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi. Đây cũng là một trong những 
 nguyên nhân của việc ngôn ngữ của trẻ còn nghèo nàn.
 - Qua quá trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy rất lo lắng về vấn đề này và 
 tôi nghĩ rằng mình phải tìm tòi suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra biện pháp 
 phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ một cách có hiệu quả nhất để có thể giúp trẻ 
 tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người.
 3 * Kết quả điều tra của đầu năm như sau:
 Tốt Khá TB Yếu
 Phân loại khả năng
 Sl % Sl % Sl % Sl %
Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ và 5 20 7 28 7 28 6 24
phát âm
Vốn từ 5 20 7 28 7 28 6 24
Khả năng nói đúng ngữ pháp 5 20 6 24 7 28 7 28
Khả năng giao tiếp 7 28 7 28 5 20 6 24
 PHẦN III : NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát 
âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch 
lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát 
triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức .Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễ dàng tiếp 
nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Chính 
vì vậy mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy trẻ 
phát triển ngôn ngữ thông qua một số hoạt động sau:
I- Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi:
 1- Giờ đón trẻ:
 Giờ đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tới trường , tới lớp cô 
phải thật gần gũi, tích cực trò chuyện với trẻ.Vì trò chuyện với trẻ là hình thức đơn 
giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là 
ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mớii có thể cung cấp, mở 
rộng vốn từ cho trẻ.
 VD: Cô trò chuyện với trẻ về gia đình của trẻ:
 + Gia đình con có những ai?
 + Trong gia đình ai yêu con nhất?
 + Mẹ yêu con như thế nào?
 4 + Buổi sáng ai đưa con đến lớp?
 + Bố con đưa đi bằng phương tiện gì?
- Như vậy khi trò chuyện với cô trẻ tự tin vào vốn từ của mình, ngôn ngữ của trẻ 
nhờ đó mà được mở rộng và phát triển hơn.
- Ngoài ra trong giờ đón trẻ , trả trẻ tôi luôn nhắc trẻ biết chào ông, bà , bố , mẹ 
như vậy kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn bên cạnh đó giáo dục trẻ có thói quen lễ 
phép , biết vâng lời.
 Cô ân cần đón trẻ
2- Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc:
 Trong một giờ hoạt động chung trẻ không thể phát triển ngôn ngữ một cách 
toàn diện được mà phải thông qua các hoạt động khác trong đó có hoạt động góc. 
Đây có thể coi là một hình thức quan trọng nhất , bởi giờ chơi có tác dụng rất lớn 
trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hoá vốn từ cho trẻ.Thời gian chơi 
của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ được chơi 
 5 thoải mái nhất. Trong qúa trình trẻ chơi sử dụng các loại từ khác nhau, có điều kiện 
học và sử dụng các từ có nội dung khác nhau.
 VD1: Trò chơi trong góc” Thao tác vai” trẻ được chơi với em búp bê và khi trẻ 
chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày. 
 + Bác đã cho búp bê ăn chưa? ( Chưa ạ)
 + Khi ăn bác nhớ đeo yếm để bột không dây ra áo của búp bê nhé! ( Vâng ạ) 
 + Ngoan nào mẹ cho búp bê ăn nhé!
 + Bột vẫn còn nóng lắm để mẹ thổi cho nguội đã ! (Giả vờ thổi cho nguội)
 + Búp bê của mẹ ăn ngoan rồi mẹ cho búp bê đi chơi nhé!! 
(Âu yếm em búp bê)
 Các Bé đang chơi bế em
 - Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe, hiểu 
 giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương , gắn bó của 
 con người
 6 VD2: Trong góc “ Hoạt động với đồ vật” ở chủ điểm “Giao thông” bằng đồ 
dùng tự tạo đó chính là những chiếc ô tô đã đục sẵn lỗ và những chiếc ô tô, máy 
bay chưa có bánh xe tôi đã cho trẻ lấy dây xâu qua những lỗ đó và tôi sẽ hỏi trẻ:
 + Linh ơi, con đang xâu gì vậy? ( Con đang xâu ô tô ạ)
 + Con xâu ô tô bằng gì đấy? (Con xâu bằng dây xâu ạ)
 + Tuấn ơi, ô tô này đã đi được chưa hả con? ( Chưa đi được ạ)
 + Muốn ô tô đi được phải làm thế nào? ( Lắp thêm bánh xe ạ)
 + Khi xâu xong con để sản phẩm của mình nhẹ nhàng vào khay nhé! 
( Vâng ạ)
 VD3: Ở góc “ Bé khéo tay” cũng ở chủ điểm “Giao thông ” bằng miếng xốp 
thừa tôi đã tận dụng cắt thành hình ô tô, xe máy để cho trẻ in màu. Trẻ sẽ được in 
những PTGT đủ màu sắc tạo lên giấy thành sản phẩm của mình một cách nghệ 
thuật. Tôi thấy trẻ rất khéo léo, chăm chú khi làm . Khi trẻ làm tôi ân cần đến bên 
trẻ trò chuyện cùng trẻ:
 + Con đang làm gì vậy? ( Con in hình ô tô ạ)
 + Ô tô của con có màu gì? ( Màu đỏ ạ)
 + Đây là phương tiện gì con có biết không? ( Xe đạp ạ )
 + Xe đạp này có màu gì ? ( Màu vàng ạ) 
 + Ô tô và xe đạp đi ở đâu hả con ? ( Trên đường ạ )
 - Như vậy bằng những đồ chơi tự tạo thông qua hoạt động chơi không những rèn 
cho trẻ sự khéo léo mà còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
3- Giáo dục ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:
 - Hàng ngày đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi để trẻ 
được gọi tên các đồ chơi quanh sân trường như : Đu quay, cầu trượt , bập 
bênh.Ngoài ra tôi còn giới thiệu cho trẻ biết cây xanh, cây hoa ở vườn trường và 
hỏi trẻ:
 + Cây hoa này có màu gì? ( Trẻ trả lời màu đỏ)
 + Thân cây này có to không? ( Có ạ)
 + Cây phượng vĩ này rất cao và có lá màu gì?
 7 ( Màu xanh ạ)
 + Các con có nhìn thấy con gì đang bay đến không?
 ( Có ạ)
 + Con gì vậy? ( Con chim)
 + Con chim kêu như thế nào? ( Chích chích.)
 * Giáo dục: 
 + Các con nhớ cây xanh rất tốt cho sức khoẻ của con người các con không 
được hái hoa, bẻ cành mà phải tưới cây để cây mau lớn nhé! ( Vâng ạ)
 - Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích luỹ được những vốn từ mới 
ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc , rõ ràng hơn.
 - Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những 
câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói 
mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại.
 Cô cùng trẻ quan sát cây hoa trong vườn trường
II- Giáo dục ngôn ngữ thông qua các giờ học khác:
 8 1- Thông qua giờ nhận biết tập nói:
 Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp 
vốn từ vựng cho trẻ.
 Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn 
chỉnh, vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết 
dạy cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên 
cạnh đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả 
lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc.
 VD1: Trong bài nhận biết ” Con cá” cô muốn cung cấp từ “ đuôi cá ” cho trẻ 
cô phải chuẩn bị một con cá thật và một con cá giả ( được làm bằng bìa) để cho trẻ 
quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn..nhằm phát huy tính tích 
cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích.
 - Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống 
câu hỏi:
 + Đây là con gì? ( “Con cá ạ”)
 + Các con nhìn xem cá muốn bơi được là nhờ cái gì mà đang quẫy quẫy đây? 
( Cái đuôi ạ)
 + Các con ơi, cá đang nhìn chúng mình đấy thế mắt cá nằm ở đâu nhỉ? (Nằm 
ở trên đầu con cá)
 + Đố các bạn biết cá sống ở đâu? ( Sống ở dưới nước)
 + Trên mình cá có gì mà lấp lánh thế ? ( Có vẩy)
 - Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được cả 
 câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc , thiếu từ cô phải sửa 
 ngay cho trẻ.
 9 Các bé trong giờ học NBTN
VD2 : Bài nhận biết “ Ô tô”
 Khi vào bài tôi đặt câu đố: 
 “ Xe gì bốn bánh
 Chạy ở trên đường
 Còi kêu bim bim 
 Chở hàng chở khách” ( Ô tô)
 - Trẻ trả lời đó là ô tô tôi đưa chiếc ô tô cho trẻ xem và hỏi: 
 + Xe gì đây? ( Ô tô ạ )
 + Ô tô có màu gì? ( Màu đỏ ạ )
 + Ô tô đi ở đâu? ( Ô tô đi ở trên đường ạ)
 + Ô tô dùng để làm gì? ( Dùng để đi ạ)
 + Còi ô tô kêu như thế nào? ( bíp bíp..)
 + Đây là cái gì? ( Cô hỏi từng bộ phận của ô tô và yêu cầu trẻ trả lời)
 10 - Cứ như vậy tôi đặt hệ thống câu hỏi từ tổng thể đến chi tiết để trẻ trả lời nhằm 
kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ, qua đó lồng liên hệ thực tế 
giáo dục trẻ về an toàn giao thông khi đi trên đường.
 2- Thông qua giờ thơ, truyện:
 Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn 
ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn 
làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng được 
học thêm được các từ mới qua giờ học thơ, truyện.
 Để giờ thơ, truyện đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ thì 
đồ dùng phục vụ cho tiết học phải đảm bảo :
 + Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ sinh cho 
trẻ.
 + Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu truyện, phía dưới phải có chữ to 
giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi.
 + Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng, 
giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.
 VD1: Trẻ nghe câu truyện “ Đôi bạn nhỏ” . Tôi cung cấp vốn từ cho trẻ 
đó là từ “ Bới đất”. Cô có thể cho trẻ xem tranh mô hình một chú gà đang lấy chân 
để bới đất tìm giun và giải thích cho trẻ hiểu từ “ Bới đất”.
 ( Các con ạ , bản năng của những chú gà là mỗi khi đi kiếm ăn các chú phải 
lấy chân để bới đất, đào đất lên để tìm thức ăn cho mình , khi kiếm được thức ăn 
chú gà sẽ lấy mỏ để ăn đấy.) . Sau khi giải thích tôi cũng chuẩn bị một hệ thống 
câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung truyện và từ vừa học:
 + Hai bạn Gà và Vịt trong câu truyện cô kể rủ nhau đi đâu?
 ( Đi kiếm ăn ạ)
 + Vịt kiếm ăn ở đâu? ( Dưới ao )
 + Thế còn bạn Gà kiếm ăn ở đâu? ( Trên bãi cỏ)
 + Bạn Gà kiếm ăn như thế nào? ( Bới đất tìm giun )
 11 + Khi hai bạn đang kiếm ăn thì con gì xuất hiện đuổi bắt Gà con? ( Con 
Cáo)
 + Vịt con đã cứu Gà con như thế nào? ( Gà nhảy phốc lên lưng Vịt , Vịt bơi 
ra xa).
 + Qua câu truyện con thấy tình bạn của hai bạn Gà và Vịt ra sao? 
 ( Thương yêu nhau)
 + Nếu như bạn gặp khó khăn thì các con phải làm gì? ( Giúp đỡ bạn ạ).
 - Cô kể 1-2 lần cho trẻ nghe giúp trẻ hiểu thêm về tác phẩm và qua đó lấy nhân 
vật để giáo dục trẻ phải biết yêu thương và giúp đỡ bạn trong lúc gặp khó khăn.
VD2: Qua bài thơ “ Cây bắp cải ” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “ Sắp vòng 
quanh”. Tôi chuẩn bị một chiếc bắp cải thật để cho trẻ quan sát, trẻ phải được nhìn, 
sờ, ngửi..và qua vật thật tôi sẽ giải thích cho trẻ từ “ sắp vòng quanh”.
 - Tôi giải thích cho trẻ : Các con nhìn này đây là cây bắp cải mà hàng ngày 
mẹ vẫn mua về để nấu cho các con ăn đấy. Các con nhìn xem lá bắp cải rất to có 
màu xanh và khi cây bắp cải càng lớn thì lá càng cuộn thành vòng tròn xếp trồng 
lên nhau lá non thì nằm ở bên trong được bao bọc bằng những lớp lá già ở ngoài . 
Bên cạnh đó tôi cũng chuẩn bị câu hỏi để trẻ trả lời:
 + Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Cây bắp cải ạ)
 + Cây bắp cải trong bài thơ được miêu tả đẹp như thế nào?
 ( Xanh man mát )
 + Còn lá bắp cải được nhà thơ miêu tả ra sao? ( Sắp vòng quanh ạ)
 + Búp cải non thì nằm ở đâu? ( Nằm ở giữa ạ)
 - Như vậy qua bài thơ ngoài những từ ngữ trẻ đã biết lại cung cấp thêm vốn từ 
mới cho trẻ để ngôn ngữ của trẻ thêm phong phú.
 - Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói lắp 
cũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp. Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chú 
trọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ.
VD3: Trong câu truyện “ Thỏ ngoan” ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ điệu, sắc 
thái tình cảm của các nhân vật trong truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ hay nói 
 12 ngọng để giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát mạnh dạn hơn 
khi trả lời.
 + Trẻ hay nói ô tô - ô chô.
 + Trẻ nói Thỏ ngoan - Thỏ ngan
 + Bác Gấu _ Bác ấu
 + Con Cáo _ Con áo
 . ..
 - Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách : tôi nói mẫu 
cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo.
 - Thể hiện sắc thái , ngữ điệu nhân vật sẽ cuốn hút rất nhiều trẻ tham gia đặc 
biệt những trẻ nhút nhát qua đó cũng mạnh dạn hơn. Đối với những trẻ đó tôi động 
viên , khích lệ trẻ kịp thời.
 - Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện “ Thỏ ngoan” 
 + Giọng Bác Gấu bị mưa rét thì ồm ồm và run, nét mặt buồn.
 + Giọng con Cáo thì gắt gỏng, nét mặt kênh kiệu.
 + Giọng Thỏ thì ân cần , niềm nở.
 - Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ mà 
còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện. Trẻ nhớ nội dung câu truyện 
và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để tiếp thu kiến thức . 
 Các bé trong giờ thơ truyện
3- Thông qua giờ âm nhạc:
 - Để thu hút trẻ vào giờ học và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ được tốt hơn 
thôi thúc tôi phải nghiên cứu , sáng tạo những phương pháp dạy học tốt nhất 
có hiệu quả với trẻ. 
 - Đối với tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều đồ vật
 ( Trống, lắc, phách tre, mõ, xắc xô và nhiều chất liệu khác ) trẻ được học 
những giai điệu vui tươi kết hợp với các loại vận động theo bài hát một cách nhịp 
nhàng. Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức vốn từ, kỹ năng 
 13 nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trẻ được tích luỹ và lĩnh hội, phát triển tính 
nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc.
 - Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ có 
mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh đẹp 
của bài hát.
 VD: Hát và vận động bài “ Con voi”
 + Câu đầu tiên : Con vỏi con voi
 Cái vòi đi trước.
 ( Trẻ đưa tay ra phía trước giả làm vòi con voi)
 + Câu thứ hai : Hai chân trước đi trước
 Hai chân sau đi sau.
 ( Hai tay chống hông , hai chân nhấc lên nhấc xuống)
 + Câu cuối : Còn cái đuôi đi sau rốt 
 Tôi xin kể nốt
 Câu chuyên con voi. 
 ( Một tay chống hông, một tay đưa ra đằng sau vờ làm đuôi con voi)
 Cô và trẻ trong giờ âm nhạc
 14 4- Thông qua giờ vận động :
 - Trong góc vận động của lớp tôi đã sử dụng những thùng bìa để làm thành tàu 
 hoả cho trẻ chơi. Mỗi thùng làm thành một toa tàu. Trong khi chơi trẻ có thể vừa 
 chơi vừa kết hợp âm nhạc hát :” Đoàn tàu tí hon”, “ Tàu vào ga”..vận dụng 
 vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
 _ Tôi còn phân loại màu xanh, đỏ, vàng của những chiếc vòng để khi trẻ phân 
biệt màu không bị nhầm lẫn. Khi trẻ chơi với vòng tôi có thể hỏi trẻ giúp ngôn ngữ 
của trẻ thêm mạch lạc, rõ ràng hơn:
 + Vòng này có màu gì hả con? ( Màu đỏ ạ)
 + Thế còn vòng này có màu gì đây? ( Màu xanh ạ)
 + Vòng để làm gì con có biết không? ( để học , để chơi trò chơi ạ)
 + Con sẽ chơi gì với vòng ? ( Con lái ô tô ạ)
 PHẦN IV – MỘT SỐ TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ :
 - Đối với trẻ nhà trẻ , được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là một biện 
pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được nhiều 
vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử dụng” số 
vốn từ ”đó một cách thành thạo.
 _ Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát 
hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Và tôi nhận thấy rằng khi trẻ chơi trò chơi 
xong sẽ gây sự hứng thú lôi cuốn trẻ vào bài học. Như vậy trẻ sẽ tiếp thu bài một 
cách nhẹ nhàng và thoải mái
 - Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo , đọc những tài liệu sách và tôi thấy rằng trò 
chơi này thực sự có hiệu quả làm tăng thêm vốn từ cho trẻ , từ đó ngôn ngữ của trẻ 
ngày càng phong phú.
* Trò chơi 1: “ Cái gì? Dùng để làm gì?
 - Mục đích của trò chơi này là tôi muốn trẻ nhận biết được một số đồ dùng quen 
thuộc và biết tác dụng của những đồ chơi từ đó ngôn ngữ của trẻ cũng được phát 
triển :
 15 * Chuẩn bị:
 + Đồ dùng để ăn uống ( Bát , thìa, cốc , ca)
 + Đồ dùng để mặc (Quần, áo, khăn, mũ)
 + Mỗi trẻ một tranh lô tô đồ dùng khác nhau.
 * Tiến hành:
 - Tôi cho trẻ ngồi chiếu xung quanh cô. Cô nhắc tên đồ dùng nào thì trẻ phải 
nói nhanh đồ dùng đó dùng để làm gì?
 - Cô nói:
 + Cái bát dùng để làm gì? ( Cái bát đựng cơm)
 + Cái cốc dùng để làm gì? (Dùng để uống nước)
 + Cái mũ để làm gì? ( Cái mũ để đội)
 + Cái áo để làm gì? ( Cái áo để mặc)
 .. 
 - Sau khi hỏi trẻ xong tôi vận dụng trò chơi này để rèn sự nhanh nhẹn và tư 
duy của trẻ. Tôi phát cho mỗi trẻ một lô tô đồ dùng khác nhau. Tôi yêu cầu trẻ gọi 
tên đồ dùng và xác định nơi cất đồ dùng đó trong lớp. Sau đó tôi hô: 1,2,3 yêu cầu 
trẻ chạy nhanh về đúng nơi đồ dùng. 
* Trò chơi 2: “ Con muỗi ”
 * Cách chơi:
 - Cô đứng phía trước trẻ, cô cho trẻ đọc và làm động tác theo cô.
 - Cô cho trẻ đọc từng lời một có kèm theo động tác:
 + Có con muỗi vo ve, vo ve ( Trẻ giơ ngón tay trỏ ra trước mặt vẫy qua 
vẫy lại theo nhịp đọc)
 + Đốt cái tay, đốt cái chân, rồi bay đi xa. ( Lấy ngón tay trỏ vào cánh tay 
đối diện , chỉ xuống đùi rồi dang 2 tay sang ngang).
 + úi chà! úi chà! Dang tay ra đánh cái bép, con muỗi xẹp. Rửa tay. ( Nhún 
vai 2 lần, dang 2 tay sang ngang, vỗ tay một cái rồi chỉ vào chóp mũi. Sau đó xoa 2 
tay vào nhau vờ rửa tay) 
 16 - Tuỳ theo sự hứng thú của trẻ mà cho trẻ chơi 3- 4 lần. Khi trẻ chơi tôi nhận 
thấy tất cả các trẻ đều tham gia đọc cùng cô, có trẻ đọc được cả câu, có trẻ bập bẹ 
bớt một hai từ. Nhưng qua đó cũng giúp ngôn ngữ của trẻ dần dần được hình thành 
trọn vẹn hơn . 
 Các bé đang chơi trò chơi “ con muỗi”
 *Trò chơi 3:” Trò chuyện về các PTGT quen thuộc ”.
 - Qua trò chơi này trẻ sẽ kể được một số phương tiện giao thông quen thuộc 
 như : ô tô, xe đạp , xe máy, tàu hoả.
 * Chuẩn bị:
 + Mô hình các PTGT: ô tô , xe máy, xe đạp. 
 + Tranh , ảnh các loại PTGT.
 + Đàn, đài có thu âm thanh tiếng kêu của các PTGT cho trẻ đoán 
 * Tiến hành:
 Trong trò chơi này tuỳ thuộc vào thời gian rảnh rỗi tôi có thể cho trẻ chơi. 
Có thể là giờ đón trẻ, trả trẻ, giờ chơi buổi chiềutôi có thể đàm thoại với trẻ về 
các loại PTGT mà trẻ biết như : 
 + Hôm nay, ai đưa con đến trường? 
 + Mẹ con đưa đến trường bằng PT gì?
 17 + Cô nào đón con vào lớp?
 + Hôm qua chủ nhật, bố mẹ con có đưa con đi đâu không?
 + Con đi với ai?
 + Con đi bằng PT gì?
 + Khi đi đường con nhìn thấy gì ?
 + Bạn nào đã được đi ô tô rồi ?
 + Ô tô kêu như thế nào ?
 + Khi ngồi trên ô tô phải như thế nào để đảm bảo ATGT?
- Sau khi đặt những câu hỏi như vậy tôi khuyến khích trẻ kể tên những loại PTGT 
khác mà trẻ biết.
- Tiếp tục cho trẻ quan sát mô hình PTGT và cho trẻ nghe âm thanh của PTGT 
yêu cầu trẻ đoán đó là PTGT nào.
 * Trò chơi 4: “Trò chuyện cùng cô ” 
 - Qua trò chơi này trẻ được phát âm nhiều ,tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ mới 
qua giao tiếp với cô.
 * Tiến hành:
 Trong ngày tuỳ từng thời điểm mà cô dành thời gian vỗ về ôm ấp trẻ, nói 
chuyện với trẻ:
 * Khi cho ăn : 
 + “ Bạn Minh Hiếu ăn giỏi nào, con ăn cơm với gì đấy?
 (Con ăn cơm với thịt ạ)
 + “ Bạn Thanh Trúc ăn được mấy bát cơm rồi?
 * Khi thay quần áo cho trẻ cô cũng cần nựng trẻ: 
 + “ Cô Hoa mặc áo đẹp cho Minh Hiếu nhé?” ( Vâng ạ)
 + “ áo đẹp này ai mua cho con? “ ( Mẹ con ạ)
 + Con có biết mẹ mua ở đâu không? (ở cửa hàng ạ)
 + Con có thích mặc áo này không? ( Có ạ) 
 * Khi ngồi chơi cô trò chuyện với trẻ về một chủ đề nào đấy để khơi gợi trẻ được 
phát âm nhiều:
 18 + Bạn Trang có bàn tay bé xíu trông rất đáng yêu này!
 + Hàng ngày các con phải làm gì để đôi bàn tay luôn sạch?
 ( Rửa tay ạ)
 +Thế đôi bàn tay để làm gì các con có biết không? 
 ( Để múa, để xúc cơm, để tô màu ạ.)
 PHẦN V- PHỐI KẾT HỢP VỚI PHỤ HUYNH :
 * Để vốn từ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp của 
gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt chẽ với 
phụ huynh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và kế hoạch lịch 
sinh hoạt dạy học cho từng tháng, từng tuần cho phụ huynh nắm bắt được.
 * Vì đây là trẻ nhà trẻ, trẻ bắt đầu tập nói tôi trao đổi với phụ huynh về ý 
nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo 
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng ngày phụ huynh phải dành nhiều thời 
gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các sự 
vật hiện tượng xung quanh, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của trẻ.
 * Đối với những cháu mới đi học vốn từ của trẻ còn hạn hẹp, hơn nữa trẻ rất 
hay nói ngọng, nói lắp thì vai trò của phụ huynh trong việc phối hợp với cô giáo 
trong việc trò chuyện với trẻ là rất cần thiết bởi nó giúp trẻ được vận dụng những 
kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm , sửa 
ngọng.
 * Ngoài ra tôi còn kết hợp với phụ huynh sưu tầm những quyển thơ, truyện có 
chữ, hình ảnh to, rõ nét , nội dung phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ để cho trẻ làm quen 
và để xây dựng góc thư viện sách truyện của lớp.
 PHẦN VI- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :
 Sau khi áp dụng “ Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ 
cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng ở trường MN” trong cả năm học tôi thấy có những 
chuyển biến rõ rệt , phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất khá, các cháu 
nói năng mạch lạc , rõ ràng được thể hiện như sau:
 19 • Trẻ mạnh dạn , tự tin hơn trong khi giao tiếp.
 • Trẻ khi giao tiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh.
 • Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa.
 Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào cuộc 
sống hàng ngày. 
 Bằng một số kinh nghiệm của mình mà tôi đã áp dụng trong việc phát triển ngôn 
ngữ của trẻ lứa tuổi nhà trẻ trong năm học vừa qua và kết quả đạt được như sau:
*Kết quả đạt được cuối năm như sau:
 Khảo sát đầu năm Khảo sát cuối năm
 Phân Tốt Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu
 loại 
 khả Sl % Sl % Sl % Sl % Sl % Sl % Sl % Sl %
 năng
 Khả 5 20 7 28 7 28 6 24 10 40 8 32 6 24 1 4
 năng 
 nghe 
 hiểu 
 ngôn 
 ngữ và 
 phát 
 âm 
 chuẩn
 Vốn từ 5 20 7 28 7 28 6 24 10 40 8 32 6 24 1 4
 Khả 5 20 6 24 7 28 7 28 8 32 10 40 6 24 1 4
 năng 
 nói 
 đúng 
 ngữ 
 pháp
 20

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_kinh_nghiem_trong_linh_vuc_phat_trien_ngon_ngu_c.doc