SKKN Biện pháp chỉ đạo dạy học phát triển năng lực học trò (GV: Bùi Thị Hoàn - Trường TH Tây Đằng B - Năm học 2023-2024)

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến (nêu rõ lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến và vấn đề mà sáng kiến giải quyết)
Chỉ đạo bồi dưỡng năng lực đội ngũ trong công tác dạy học phát triển năng lực học trò
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử, (ghi ngày nào sớm hơn) Ngày 08 tháng 9 năm 2022
- Mô tả bản chất của sáng kiến
Một trong những điểm mạnh nhất của dạy học phát triển năng lực là môi trường học tập tích cực, tạo hứng thú và khuyến khích sự tham gia chủ động của học sinh; khám phá tiềm năng và thế mạnh của mỗi học sinh; thúc đẩy việc học tập theo hướng cá nhân hóa; và lợi thế của dạy học phát triển năng lực là sự linh hoạt về cách tổ chức lớp học và tính thực tiễn của nó.
Có thể nói, dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là một phương pháp giáo dục hiện đại và đang được áp dụng rộng rãi trong các trường học trên cả nước. Áp dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực nhằm mang đến cho học sinh những trải nghiệm học tập mới mẻ, đồng thời giúp học sinh hình thành tư duy cũng như khả năng tự học để học tiếp lên các cấp học trên và sẵn sàng chinh phục con đường phía trước. Tuy nhiên, phương pháp này cũng đặt ra một số thách thức và khó khăn đối với giáo viên. Nhận thức rõ tính ưu việt của DHPTNL, khắc phục những khó khăn ban đầu, triển khai thành công DHPYNL, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục, tôi đã nghiên cứu và thực nghiệm 4 giải pháp:
1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường về DHPTNL
2. Tăng cường chỉ đạo công tác DHPTNL
3. Tổ chức hiệu quả SHCM theo NCBH nội dung DHPTNL
4. Thúc đẩy phong trào tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trong CBGV

Mỗi giải pháp thể hiện rõ mục đích, cách tiến hành và kết quả.
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về DHPTNL; năng lực và phong cách quản lý của Ban giám hiệu, đặc biệt là Hiệu trưởng.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả.
Chất lượng đội ngũ có bước tiến rõ rệt: Giáo viên có kỹ năng tổ chức DHPTNL, phong cách giảng dạy chủ động, tự tin; sáng tạo.
Học sinh học tập chủ động, tích cực học tập, hào hứng, nhiều sáng tạo ; năng lực tự học và năng lực hợp tác tiến bộ rõ rệt.
Môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện; giáo viên được phát huy năng lực tự học và năng lực chuyên môn, năng lực báo cáo viên, năng lực tư vấn hỗ trợ đồng nghiệp, điều hành hội nghị chuyên môn, năng lực hợp tác nhóm…
Chất lượng giáo dục được cải thiện rõ rệt. GV và HS có nhiều học cơ hội thực hành, trải nghiệm, học tập chủ động, phát huy năng lực cá nhân: tự học, giải quyết vấn đề tư duy, giao tiếp, công nghệ, năng lực giao lưu, hợp tác.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở)

100% CBGV thấy rõ ý nghĩa, vai trò của DHPTNL; 35/40= 87.5 % CBGV nhận thức đúng đặc điểm đặc trưng và có hứng thú với DHPTNL; phần đa GV xây dựng kế hoạch bài dạy và triển khai DHPTNL đúng bản chất, không mơ hồ. Phong trào tự học tự bồi dưỡng chuyên môn của CBGV trường phát triển tốt. Môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện; giáo viên được phát huy năng lực tự học và năng lực chuyên môn, năng lực điều hành hội nghị chuyên môn, năng lực hợp tác nhóm… HS tự tin, học tập rèn luyện chủ động, tích cực hơn. Các năng lực giải quyết vấn đề, tự học…. dần phát triển.
Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có):
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

pdf 47 trang Bình An 31/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Biện pháp chỉ đạo dạy học phát triển năng lực học trò (GV: Bùi Thị Hoàn - Trường TH Tây Đằng B - Năm học 2023-2024)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp chỉ đạo dạy học phát triển năng lực học trò (GV: Bùi Thị Hoàn - Trường TH Tây Đằng B - Năm học 2023-2024)

SKKN Biện pháp chỉ đạo dạy học phát triển năng lực học trò (GV: Bùi Thị Hoàn - Trường TH Tây Đằng B - Năm học 2023-2024)
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BA VÌ 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO 
DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TRÒ 
 Lĩnh vực : Quản lý 
 Cấp : Tiểu học 
 Tên tác giả : Bùi Thị Hoàn 
 Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Tây Đằng B 
 Chức vụ : Hiệu trưởng 
 NĂM HỌC : 2023- 2024 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 
Kính gửi: Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì 
 Hội đồng khoa học huyện Ba Vì 
 Ngày Trình độ 
 Nơi công tác Chức 
Họ và tên tháng chuyên Tên sáng kiến 
 danh 
 năm sinh môn 
 Trường Tiểu 
 Hiệu Biện pháp chỉ đạo dạy học phát 
Bùi Thị Hoàn 06/11/1969 học Tây Đằng Đại học 
 trưởng triển năng lwujc học trò 
 B 
 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến (nêu rõ lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến và 
vấn đề mà sáng kiến giải quyết) 
 Chỉ đạo bồi dưỡng năng lực đội ngũ trong công tác dạy học phát triển 
năng lực học trò 
 - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử, (ghi ngày nào 
sớm hơn) Ngày 08 tháng 9 năm 2022 
 - Mô tả bản chất của sáng kiến 
 Một trong những điểm mạnh nhất của dạy học phát triển năng lực là môi 
trường học tập tích cực, tạo hứng thú và khuyến khích sự tham gia chủ động của 
học sinh; khám phá tiềm năng và thế mạnh của mỗi học sinh; thúc đẩy việc học 
tập theo hướng cá nhân hóa; và lợi thế của dạy học phát triển năng lực là sự linh 
hoạt về cách tổ chức lớp học và tính thực tiễn của nó. 
 Có thể nói, dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là một 
phương pháp giáo dục hiện đại và đang được áp dụng rộng rãi trong các trường 
học trên cả nước. Áp dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực nhằm mang 
đến cho học sinh những trải nghiệm học tập mới mẻ, đồng thời giúp học sinh hình 
thành tư duy cũng như khả năng tự học để học tiếp lên các cấp học trên và sẵn 
sàng chinh phục con đường phía trước. Tuy nhiên, phương pháp này cũng đặt ra 
một số thách thức và khó khăn đối với giáo viên. Nhận thức rõ tính ưu việt của 
DHPTNL, khắc phục những khó khăn ban đầu, triển khai thành công DHPYNL, 
góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục, tôi đã nghiên cứu và 
thực nghiệm 4 giải pháp: 
 1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường về DHPTNL 
 2. Tăng cường chỉ đạo công tác DHPTNL 
 3. Tổ chức hiệu quả SHCM theo NCBH nội dung DHPTNL 
 4. Thúc đẩy phong trào tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trong 
 CBGV Mỗi giải pháp thể hiện rõ mục đích, cách tiến hành và kết quả. 
 - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 
 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; nhận thức của đội ngũ cán 
bộ quản lý, giáo viên về DHPTNL; năng lực và phong cách quản lý của Ban giám 
hiệu, đặc biệt là Hiệu trưởng. 
 - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng 
kiến theo ý kiến của tác giả. 
 Chất lượng đội ngũ có bước tiến rõ rệt: Giáo viên có kỹ năng tổ chức 
DHPTNL, phong cách giảng dạy chủ động, tự tin; sáng tạo. 
 Học sinh học tập chủ động, tích cực học tập, hào hứng, nhiều sáng tạo ; 
năng lực tự học và năng lực hợp tác tiến bộ rõ rệt. 
 Môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện; giáo viên được phát 
huy năng lực tự học và năng lực chuyên môn, năng lực báo cáo viên, năng lực tư 
vấn hỗ trợ đồng nghiệp, điều hành hội nghị chuyên môn, năng lực hợp tác nhóm 
 Chất lượng giáo dục được cải thiện rõ rệt. GV và HS có nhiều học cơ hội 
thực hành, trải nghiệm, học tập chủ động, phát huy năng lực cá nhân: tự học, giải 
quyết vấn đề tư duy, giao tiếp, công nghệ, năng lực giao lưu, hợp tác. 
 - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng 
kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc 
áp dụng thử nếu có: (So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp 
so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương 
tự đã biết ở cơ sở) 
 100% CBGV thấy rõ ý nghĩa, vai trò của DHPTNL; 35/40= 87.5 % CBGV 
nhận thức đúng đặc điểm đặc trưng và có hứng thú với DHPTNL; phần đa GV xây 
dựng kế hoạch bài dạy và triển khai DHPTNL đúng bản chất, không mơ hồ. Phong 
trào tự học tự bồi dưỡng chuyên môn của CBGV trường phát triển tốt. Môi trường 
làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện; giáo viên được phát huy năng lực tự học 
và năng lực chuyên môn, năng lực điều hành hội nghị chuyên môn, năng lực hợp 
tác nhóm HS tự tin, học tập rèn luyện chủ động, tích cực hơn. Các năng lực 
giải quyết vấn đề, tự học. dần phát triển. 
 Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần 
đầu (nếu có): 
 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và 
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. 
 Tây Đằng, ngày 10 tháng 5 năm 2024 
 Người nộp đơn 
 (Ký và ghi rõ họ tên) 
 Bùi Thị Hoàn 
 UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 TRƯỜNG TH TÂY ĐẰNG B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ 
 - Họ tên tác giả: Bùi Thị Hoàn 
 - Tên đề tài: Biện pháp chỉ đạo dạy học phát triển năng lực học trò 
 - Lĩnh vực: Quản lý 
 STT Tiêu chuẩn Điểm tối Điểm 
 đa HĐCS 
 1 Sáng kiến có tính mới 
 1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 30 
 1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 20 
 1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 10 
 1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây 0 
Nhận xét: 
 2 Sáng kiến có tính áp dụng 
 2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 30 
 2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị có 20 
 cùng điều kiện 
 2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 10 
 2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị 0 
Nhận xét: 
 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 
 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 30 
 3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 20 
 3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị 10 
 3.4 Không có hiệu quả cụ thể 0 
Nhận xét: 
 4 Điểm trình bày 
 4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 10 
 4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý 5 
Nhận xét: 
 Tổng cộng Đánh giá: □ Đạt (>70 điểm) □ Không đạt 
 P. CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ 
 PHỤ LỤC 
STT NỘI DUNG TRANG 
 1 A. Phần 1: Đặt vấn đề 1 
 I. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1 
 II. Mục tiêu của sáng kiến 2 
 III. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 
 2 B. Phần thứ hai : Nội dung của sáng kiến 3 
 I. Hiện trạng vấn đề 3 
 1. Công tác chỉ đạo và triển khai DHPTNL 3 
 2. Ưu, nhược điểm của công tác chỉ đạo và triển khai DHPTNL trên 3 
 II. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 5 
 1.Giải pháp 1.Nâng cao nhận thức cho CBGV về DHPTNL 5 
 2. Giải pháp 2.Tăng cường chỉ đạo công tác DHPTNL 8 
 3. Giải pháp 3.Tổ chức hiệu quả SHCM theo NCBH nội dung DHPTNL 14 
 4.Giải pháp 4. Thúc đẩy phong trào tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn 15 
 nghiệp vụ trong CBGV 
 III. Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến tại đơn vị 18 
 IV. Hiệu quả của sáng kiến 19 
 1.Hiệu quả về khoa học 19 
 2.Hiệu quả về kinh tế 19 
 3. Hiệu quả về xã hội 19 
 V. Tính khả thi 19 
 VI. thười gian thực hiện đề tài, sáng kiến 19 
 VII Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến 20 
 3 Phần thứ ba: Kiến nghị , đề xuất 20 
 Một số hình ảnh minh họa 
 1 
 A.Phần thứ nhất 
 ĐẶT VẤN ĐỀ 
 I.TÍNH CẤP THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI 
 Với mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐT theo tinh thần Nghị 
quyết số 29-NQ/TW, ngành GD và ĐT đã và đang tích cực triển khai đồng bộ 
các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học. Hoạt 
động dạy và học được tập trung chỉ đạo theo tinh thần hướng tới mục tiêu phát 
triển năng lực và phẩm chất người học. Trong các yếu tố nhằm phát triển năng 
lực và phẩm chất người học, bản thân tôi tâm đắc với vấn đề “Dạy- học theo phát 
triển năng lực học trò”. Bởi một trong những điểm mạnh nhất của dạy học phát 
triển năng lực là môi trường học tập tích cực, tạo hứng thú và khuyến khích sự 
tham gia chủ động của học sinh; khám phá tiềm năng và thế mạnh của mỗi 
học sinh; thúc đẩy việc học tập theo hướng cá nhân hóa; và lợi thế của dạy học 
phát triển năng lực là sự linh hoạt về cách tổ chức lớp học và tính thực tiễn của 
nó. 
 Có thể nói, dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là một 
phương pháp giáo dục hiện đại và đang được áp dụng rộng rãi trong các trường 
học trên cả nước. Áp dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực nhằm mang 
đến cho học sinh những trải nghiệm học tập mới mẻ, đồng thời giúp học sinh 
hình thành tư duy cũng như khả năng tự học để học tiếp lên các cấp học trên và 
sẵn sàng chinh phục con đường phía trước. Tuy nhiên, phương pháp này cũng 
đặt ra một số thách thức và khó khăn đối với giáo viên. 
 Thực tế cho thấy: không ít giáo viên nhiệt tình tâm huyết, nhận thức đúng 
vai trò của việc phát triển năng lực HS; nghiêm túc học hỏi, tích cực đổi mới 
phương pháp dạy học; tạo được những tiết học thú vị, giúp HS hứng thú, học tập 
chủ động, tích cực và hiệu quả. Song cũng có một bộ phận không nhỏ giáo viên 
chưa thật sự tâm huyết với nghề, ngại thay đổi, lối mòn tư duy cũ khó thay đổi; 
quá trình dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều, phụ thuộc quá 
nhiều vào sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn; hình thức tổ chức lớp học khô 
cứng, thường là áp dụng chung cho cả lớp ít quan tâm tới từng đối tượng HS. 
Khả năng linh hoạt, sáng tạo giúp phát huy năng lực HS theo tinh thần đổi mới 
hạn chế. 
 Thực trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thái độ, phương pháp học 
tập và rèn luyện của HS, sẽ rất khó phát triển được năng lực từng học trò; tác 
động tiêu cực tới phong trào đổi mới sáng tạo và chất lượng giáo dục nhà trường; 
và mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng giáo dục, tiến 
tới trường đạt Chuẩn chất lượng cao giai đoạn 2021- 2025 theo nghị quyết số 10- 
NQ/ HU ngày 30/6/2021 của Huyện uỷ Ba Vì là khó thực hiện. (Số liệu điều tra 2 
thực trạng có phụ biểu đính kèm). 
 Là một cán bộ quản lý, tôi nhận thấy việc nghiên cứu tìm ra một số giải 
pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy phong trào đổi mới phương pháp dạy học, học 
sinh được phát huy và khẳng định năng lực cá nhân; khắc phục thực trạng trên là 
việc làm cần thiết, quan trọng trong quá trình quản lý nhà trường; là điều mà bản 
thân tôi băn khoăn, trăn trở rất nhiều. Và tôi chọn đã đề tài: “Biện pháp chỉ đạo 
dạy học phát triển năng lực học trò” để nghiên cứu và thực nghiệm. 
 II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 
 - Giúp CBGV nhận thức đúng quan điểm: dạy học phát triển năng lực học 
trò là cấp thiết, phù hợp yêu cầu đổi mới GD, là yếu tố quan trọng để phát triển 
giáo dục nhà trường. 
 - Nâng cao nhận thức và năng lực cho CBGV trong quá trình thực hiện đổi 
mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. 
 - Chứng minh tính hiệu quả của các giải pháp: nâng cao chất lượng dạy học 
phát triển năng lực học trò, tác động tích cực tới phong trào đổi mới, sáng tạo 
trong dạy học; góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, chất lượng GD nhà 
trường. 
 III. THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 
 1. Thời gian 
 Hai năm học 2022- 2023 đến 2023- 2024 (Từ tháng 8/2022 đến 4/2024). 
 2. Đối tượng 
 - Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề dạy- học phát triển năng lực học trò. 
 - Nghiên cứu những năng lực chung, năng lực đặc thù của HS. 
 - Nghiên cứu những tác động từ phương pháp dạy học tới sự phát triển năng 
lực học trò. 
 - Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh nhà trường. 
 3. Phạm vi: 
 Tại trường Tiểu học Tây Đằng B, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội với 40 
CBGVNV và 925 Học sinh. 
 3 
 B. Phần thứ hai 
 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 
 I. HIỆN TRẠNG VẤN ĐỀ 
 Dạy học phát triển năng lực học (DHPTNL) đã và đang nhận được 
nhiều sự quan tâm chú ý của giáo viên và các nhà trường. Sự chuyển 
đổi sang mô hình dạy học phát triển năng lực ngày càng chứng minh 
được những lợi thế và tính ưu việt của DHPTNL. Quá trình triển DHPTNL, 
trường Tiểu học Tây Đằng B chúng tôi thu được nhiều kết quả về chất lượng 
giáo dục mũi nhọn và phong trào đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, 
không phải tất cả GV nhà trường đều nhận thức đầy đủ và có hứng thú, có nhu 
cầu với việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học trò. Thực trạng 
DHPTNL tại trường chúng tôi và nhiều trường bạn, như sau: 
 1. Công tác chỉ đạo và triển khai DHPTNL 
 Ban giám hiệu (BGH) cung cấp văn bản và tổ chức quán triệt tới CBGV nhà 
trường các văn bản chỉ đạo cấp trên về đổi mới giáo dục, về việc dạy học phát 
triển năng lực học trò (NQ29/TW ngày 04/ 11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện 
GD&ĐT; công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 v/v Hướng dẫn 
thực hiện chương trình GDPT hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và 
phẩm chất HS). 
 Tổ chức cho CBGV tham gia đầy đủ các chương trình tập huấn do các cấp tổ 
chức về DHPTNL. 
 Giao các tổ chuyên môn xây dựng và triển khai chuyên đề chuyên môn về 
dạy học phát triển năng lực tại nhà trường. 
 Yêu cầu GV thực hiện DHPTNL trong thực tế giảng dạy và giáo dục học 
sinh. 
 Giáo viên thực hiện DHPTNL theo cách hiểu và năng lực cá nhân. 
 2. Ưu, nhược điểm của công tác chỉ đạo và triển khai DHPTNL trên 
 *Ưu điểm 
 Giúp giáo viên hiểu rõ tinh thần chỉ đạo của các cấp về DHPTNL; có nhiều 
tài liệu về DHPTNL; được truyền đạt hướng dẫn về cách thức triển khai 
DHPTNL; được Demo một số tiết học về DHPTNL. Cách làm này cũng thu 
được một số kết quả như sau: 
 Giáo viên hiểu rõ tinh thần chỉ đạo của các cấp về DHTC; 
 Một số GV nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề dạy học phát triển năng 
lực học trò; 
 Một số GV nghiêm túc nghiên cứu học hỏi, tham gia tập huấn bồi dưỡng để 
hiểu rõ bản chất, đặc trưng và cách thức tiến hành DHPTNL; 
 Quá trình dạy học, không ngừng học hỏi, nghiên cứu, quan tâm đầu tư cho 4 
mỗi bài dạy; luôn chủ động, tích cực áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học 
tích cực; bám sát các đặc điểm, yêu cầu của dạy học phát triển năng lực học trò 
để triển khai; quan tâm dạy học phân hóa đối tượng, tăng cường giao việc cho 
học sinh, coi trọng việc hướng dẫn HS phương pháp tự học, đảm bảo nguyên tắc 
đánh giá sự tiến bộ và vì sự tiến bộ của HS.Song việc triển khai đôi khi vẫn 
lúng túng. 
 * Nhược điểm 
 Về phía GV: Mặc dù hiểu rõ tinh thần chỉ đạo của các cấp về DHPTNL, đã 
được tập huấn, được bồi dưỡng nhưng một số thầy cô chưa hiểu rõ bản chất, đặc 
trưng DHPTNL; lúng túng trong xây dựng kế hoạch bài dạy theo định hướng 
phát triển năng lực; tổ chức dạy học theo kiểu đồng loạt bằng một phương pháp 
duy nhất cho tất cả mọi đối tượng HS. Quá trình dạy học vẫn nặng về tập trung 
trang bị kiến thức cho HS, nội dung bài dạy thiết kế chung cho mọi đối tượng 
học sinh, chủ yếu học qua sách giáo khoa. Kế hoạch bài dạy và quá trình tổ 
chức các hoạt động ít tạo được một môi trường học tập tích cực, tạo hứng thú và 
khuyến khích sự tham gia chủ động của các em học sinh. HSít có cơ hội được 
khám phá, được trải nghiệm, giải quyết những tình huống thực tiễn trong cuộc 
sống. GV hạn chế trong việc khám phá và phát huy được tiềm năng, thế 
mạnh của mỗi học sinh. Và giá trị đích thực của DHPTNL chưa khẳng 
định được. 
 Về phía học sinh: nhiều học sinh thông minh, ham học, giao tiếp, hợp tác tốt, 
có ý thức tự học, kết quả học tập và rèn luyện khá tốt  Song vẫn còn một bộ 
phận học sinh thụ động, ngại học, thiếu tự tin. Quá trình học tập và rèn luyện 
phụ thuộc nhiều vào giáo viên, ít nêu ý kiến phản biện; học tập không mấy hứng 
thú. Ở gia đình, không tự giác chủ động học tập, bố mẹ phải đôn đốc, kèm cặp 
thường xuyên. Kỹ năng làm việc nhóm, chia sẻ, hợp tác hạn chế; năng lực tự 
học, giải quyết vấn đề, sáng tạo chậm phát triển. 
 1.3. Nguyên nhân: 
 Một số thầy cô giáo nhiều năm bám theo chương trình cũ, phương pháp dạy 
học truyền thống đã hằn sâu trong kinh nghiệm cá nhân nên rất khó để thay đổi 
trong ngày một, ngày hai. 
 Phụ huynh quan tâm nhiều đến kết quả học tập kiến thức của con, nóng vội 
trong việc dạy con, ít quan tâm đến các kỹ năng khác của con như: tự chủ và tự 
học, giao tiếp và hợp tác, 
 BGH chỉ đạo công tác DHPTNL hiệu quả chưa cao, công tác thúc đẩy 
phong trào đổi mới sáng tạo và tạo động lực, hứng thú cho GV với việc 
DHPTNL chưa mạnh. 
 Thực trạng này là cơ sở để bản thân tôi đề xuất “Một số biện pháp chỉ 5 
đạo dạy- học phát triển năng lực học trò”. 
 II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN SÁNG KIẾN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
 Dạy học theo hướng phát triển năng lực giúp người học chứng minh khả 
năng học tập thực sự của mình, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tinh 
thần tự học để không ngừng nâng cao năng lực học tập. 
 Yêu cầu đặt ra với dạy học phát triển năng lực học trò là tập trung vào việc 
phát triển tối đa khả năng của người học. 
 Với định hướng đó, quá trình nghiên cứu tôi đã tổ chức thực nghiệm 4 giải 
pháp sau: 
 1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV nhà trường về 
DHPTNL. 
 Trong giáo dục, giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng - là yếu tố quyết 
định hàng đầu. Với nguyên tắc: “Thông qua thay đổi nhận thức tác động đến sự 
thay đổi hành vi theo mong muốn”. Vì vậy, cần giúp mỗi cán bộ, giáo viên thông 
hiểu, nhận ra giá trị đích thực của DHPTNL và quyết tâm thực hiện hiệu quả 
DHPTNL. 
 1.1. Mục đích của giải pháp. 
 + Giúp CBGVNV nhà trường hiểu đúng về vấn đề DHPTNL (mục tiêu, ưu 
điểm, bản chất ). 
 + Có hứng thú, có nhu cầu DHPTNL. 
 1. 2. Nội dung và cách tiến hành 
 - Đưa DHPTNL vào trong hệ thống kế hoạch chuyên môn nhà trường. 
Trong Kế hoạch tổ chuyên môn và Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân 
của giáo viên. Đề nghị tổ chuyên môn xây dựng giải pháp chỉ đạo, giải pháp 
DHPTNL. Chỉ đạo các tổ chuyên môn, các bộ phận tiếp tục học tập, nghiên cứu, 
trao đổi, thảo luận về dạy học phát triển năng lực thông qua chuyên đề chuyên 
môn, sinh hoạt tổ khối. 
 - Khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các khóa Dạy học 
tích cực, tham gia các nhóm Cộng đồng giáo viên sáng tạo, nhóm Người truyền 
lửa . để nâng cao năng lực và tường minh hơn về định hướng đổi mới GD, về 
DHPTNL. 
 - Giao các tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn, giao lưu tìm hiểu 
về DHPTNL. Bản thân tham gia SHCM cùng các tổ chuyên môn để nắm bắt 
thực trạng nhận thức của GV về DHPTNL, đồng thời có những chia sẻ về 
DHPTNL để định hướng nhận thức GV, tránh những nhận thức lệch lạc về 
DHPTNL. 
 - Tổ chức so sánh dạy học truyền thống và dạy học phát triển năng lực 
 Phương pháp dạy học phát triển năng lực có những ưu điểm vượt trội hơn so 
với cách dạy truyền thống thể hiện ở các tiêu chí sau: 6 
 Dạy học truyền thống Dạy học phát triển năng lực 
 Cụ thể, có thể quan sát và đánh giá được 
 Hướng đến việc tiếp thu kiến Mục tiêu rõ ràng theo năng lực và nhu 
 thức về mặt lý thuyết chủ yếu cầu của người học. 
 Mục tiêu dạy 
 thông qua sách vở. Có thể đánh giá được sau từng thời 
 học 
 Mục tiêu chung chung, không điểm. 
 rõ ràng và chi tiết. Kiến thức thông qua nguồn tài liệu 
 phong phú và từ thực tiễn. 
 Thiết kế chung cho mọi đối 
 Gắn với thực tế, các xu hướng hiện đại 
 tượng học sinh. 
 Thiết kế bài học phân hóa theo năng lực 
 Chủ yếu học qua sách giáo 
 Nội dung dạy và trình độ. 
 khoa. 
 học Kết hợp với thực tế và các xu thế hiện 
 Tập trung vào lý thuyết, chưa 
 đại, giúp học sinh ứng dụng được trong 
 có các hoạt động vận dụng 
 các tình huống. 
 thực hành. 
 Giáo viên đóng vai trò là 
 Học sinh là trung tâm 
 người truyền đạt chính, học 
 Học sinh chủ động nghiên cứu dự án 
 Phương pháp sinh tiếp thu thụ động.Sử 
 Giáo viên chú trọng phương pháp, kỹ 
 dạy học dụng các phương pháp truyền 
 thuật dạy học tích cực như thực hành, 
 thống: ghi chép, thuyết 
 trải nghiệm, tự học 
 trình 
 Hình thức Truyền đạt lý thuyết chung Học theo dạng nhóm và cá nhân, kết hợp 
 dạy học cho cả lớp. các bài vận dụng thực tiễn. 
 Đánh giá dựa trên khả năng ứng dụng 
 Dựa trên khả năng thuộc bài. 
 thực tiễn. 
 Đánh giá kết Đánh giá định kỳ. 
 Quá trình đánh giá được tích hợp trong 
 quả học tập Đánh giá độc lập với quá trình 
 khi học. 
 dạy học. 
 Đánh giá mọi thời điểm. 
 Quản lý dạy Chú trọng vào nội dung giảng 
 Chú trọng vào năng lực của học sinh 
 học dạy 
 Sản phẩm Người học thụ động, ít khả Học sinh chủ động, tự tin, có tư duy 
 dạy học năng giao tiếp và phản biện. phản biện và ham học hỏi. 
 - Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo Nghiên cứu bài học chủ đề DHPTNL (chi tiết 
trong giải pháp 3). 
 - Thành lập các nhóm Nhà giáo cùng nhau phát triển để chia sẻ kinh nghiệm và 
truyền cảm hứng sáng tạo về đổi mới dạy học nói chung về DHPTNL nói riêng (chi tiết 
giải pháp 4 ). 
 - Tập trung truyền thông, chia sẻ về ý nghĩa của DHPTNL. Bên cạnh đó, tôi 
cũng lưu ý GV: DHPTNL không đồng nghĩa với việc lúc nào cũng mang lại 
niềm vui, sự thoải mái cho người học, nó đòi hỏi ở HS sự kiên trì, nỗ lực và khả 7 
năng vượt qua những khó khăn cũng như những thất bại tạm thời trong quá trình 
học tập. GV cũng vậy. 
 - Tiếp tục giới thiệu chia sẻ một số địa chỉ về dạy học tích cực về đổi mới 
giáo dục về DHPTNL như kênh Yutube của Tiến sỹ Trần Khánh Ngọc; Tạp chí 
"Giáo viên hiệu quả"; Tạp chí giáo dục, kênh Yutube “Cộng đồng giáo viên 
sáng tạo Việt Nam”; Cuốn sách "Thiết kế bài học phát triển năng lực HS Tiểu 
học " của tác giả Nguyễn Hữu Hợp- Nhà xuất bản đại học sư phạm.để kích 
thích nhu cầu tìm tòi, nghiên cứu của GV. 
 Để GV quan tâm và chủ động tìm đọc, xem, học; nghiêm túc nghiên cứu; ứng 
dụng và tích luỹ kinh nghiệm từ những nguồn tài nguyên trên, tôi nêu vấn đề và 
cùng GV chia sẻ trong chuyên đề, dự giờ, trong hội thảo và đôi khi trong những giờ 
giải lao. 
 1.3. Kết quả : 
 Qua điều tra khảo sát, phỏng vấn GV, HS; qua dự giờ thăm lớp, kết quả thu 
được như sau : 
 1.3.1. Nhận thức 
 - 100% CBGV thấy rõ ý nghĩa, vai trò của DHPTNL. 
 - 35/40= 87.5 % CBGV nhận thức đúng đặc điểm đặc trưng của DHPTNL 
 như: 
 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh; 
 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh; 
 Chú trọng năng lực vận dụng kiến thức của bài học vào giải quyết những 
 tình huống thực tiễn; 
 Nội dung dạy học được thiết kế có sự phân hóa theo trình độ và năng lực 
của HS. 
 Dạy học phân hóa là bắt buộc. 
 Chú trọng sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực (dạy học 
nêu và giải quyết vấn đề, theo dự án, trải nghiệm, thực hành) 
 37/40 = 92.5 % GV có nhu cầu, có hứng thú, sẵn sàng thực hiện DHPTNL 
 1.3.2. Mức độ tác động từ những trang Web, tạp chí, tài liệu, khóa học 
mà tôi cũng như một số GV chia sẻ. 
 Phần đông giáo viên cảm nhận được rằng: đây thực sự là những chương 
trình, những tài liệu quý, đặc biệt ý nghĩa. GV được cập nhật được "không khí" 
đổi mới sáng tạo trong dạy học, trong việc tổ chức DHPTNL, cụ thể : 
 Quá trình dự giờ, tham gia sinh hoạt chuyên môn, tổ chức các chương trình 
giao lưu có 25 GV đã ứng dụng trong bài dạy, trong tổ chức hoạt động; định 
hình được hướng DHPTNL; tăng cường giao việc, giao nhiệm vụ cho HS, áp 
dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực như hình thức nhóm “Lẩu băng chuyền”, 8 
dạy học theo “Trạm”; mô hình “Lớp học đảo ngược”.phong thái giảng dạy cải 
thiện rõ rệt: sôi nổi, năng lượng, cuốn hút; ứng xử với HS thân thiện, trìu mến 
hơn. Người dự cảm nhận được hạnh phúc của thầy- trò trong các tiết học, các 
hoạt động. 
 - Với khóa học dạy học tích cực: có 5 GV tham gia khóa học của tiến sỹ 
Trần Khánh Ngọc, với nhóm “Người truyền lửa” có đ/c Hiệu phó và 3 GV tham 
gia. 
 Có thể nói, có những tài liệu, chương trình mà tôi chia sẻ và giới thiệu với 
GV là không mới, song GV thực sự hứng thú với các tài liệu đó, tham gia tích 
cực; nghiêm túc nghiên cứu, tư duy và ứng dụng trong quá trình dạy học, tổ chức 
các hoạt động giáo dục nói chung và việc DHPTNL nói riêng. 
 1.3.3. Kết quả chung 
 Từ cách tổ chức trên, với các cách tiếp cận, GV thấy rõ sự cấp thiết phải 
thường xuyên cập nhật những yêu cầu đổi mới; GV chủ động xây dựng kế 
hoạch, thực hiện DHPTNL một cách nghiêm túc, trách nhiệm và tâm huyết. 
 2. Giải pháp 2: Tăng cường chỉ đạo công tác DHPTNL. 
 2.1 Mục đích của giải pháp: 
 - Hiệu trưởng nắm vững các nội dung quản lý DHPTNL. 
 - Nâng cao trách nhiệm của CBGVNV trong DHPTNL. 
 - Năng cao chất lượng DHPTNL. 
 2.2 Nội dung và cách tiến hành 
 2.2.1 Làm tốt công tác xây dựng kế hoạch chỉ đạo và triển khai DHPTNL 
 Xây dựng kế hoạch là xác định mục tiêu; dự kiến nội dung, phương pháp, 
hình thức tiến hành để đạt được những mục tiêu đề ra. 
 Có một kế hoạch cụ thể sẽ giúp cá nhân xác định chi tiết những gì cần phải 
được thực hiện, làm như thế nào, . 
 Trong DHPTNL, tôi đề cập 3 mô hình Kế hoạch: BGH là Kế hoạch chuyên 
môn; với tổ chuyên môn là Kế hoạch tổ chuyên môn; với giáo viên là Kế hoạch 
bài dạy. 
 Ngay từ đầu năm học, tôi giao đ/c Phó Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch 
chuyên môn, trong đó có nội dung chỉ đạo DHPTNL; lựa chọn các đ/c nhiệt tình, 
trách nhiệm, có năng lực, sở trường và vị trí việc làm phù hợp vào nhóm hỗ trợ 
DHPTNL. 
 Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng giải pháp thực hiện DHPTNL với các 
giờ học, phát triển phẩm chất năng lực người học với tất cả các hoạt động giáo 
dục trong kế hoạch tổ chuyên môn. Khi duyệt kế hoạch tổ chuyên môn, tôi cùng 
đ/c Phó Hiệu trưởng, trực tiếp phỏng vấn tổ chuyên môn (nhóm hỗ trợ DHPTNL 
cùng dự) cách triển khai DHPTNL của tổ, cách hiểu của tổ chuyên môn về 
DHPTNL như: mục tiêu, đặc điểm, nội dung, phương pháp, sản phẩm ; những 9 
khó khăn vướng mắc; kiến nghị, đề xuất để triển khai DHPTNL hiệu quả. Để 
xây dựng được giải pháp trong kế hoạch và chuẩn bị nội dung trao đổi buộc tổ 
chuyên môn phải có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc về DHPTNL, về đổi mới 
giáo dục. 
 Với Kế hoạch bài dạy của giáo viên: tôi giao đ/c Hiệu phó và nhóm hỗ trợ 
DHPTNL bồi dưỡng cho GV kỹ năng xây dựng kế hoạch bài dạy theo hướng 
DHPTNL qua chuyên đề chuyên môn, qua quá trình cá nhân, tổ chuyên môn xây 
dựng kế hoạch bài dạy; đề ra những yêu cầu của Kế hoạch bài dạy DHPTNL; 
gợi ý cách triển khai tại tổ chuyên môn. 
 1. Cách triển khai tại tổ chuyên môn: 
 Bước 1: cá nhân phụ trách môn học, hoạt động giáo dục (HĐGD) xây dựng 
kế hoạch bài dạy. 
 Bước 2: họp tổ chuyên môn, thảo luận về kế hoạch bài dạy các cá nhân; 
thống nhất chung một số yêu cầu cơ bản về cấu trúc, nội dung trong Kế hoạch. 
 Bước 3: Cá nhân phụ trách chỉnh sửa kế hoạch theo thống nhất; chia sẻ tại 
kho học liệu tổ chuyên môn làm học liệu dùng chung. 
 Bước 4: các cá nhân tải học liệu trên kho học liệu tổ; kho học liệu của 
trường; chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với lớp và sử dụng. 
 Nhóm hỗ trợ DHPTNL tư vấn, giúp đỡ cá nhân, tổ chuyên môn trong cả quá 
trình xây dựng kế hoach bài dạy. 
 2. Yêu cầu kế hoạc bài dạy 
 Về cấu trúc Kế hoạch bài dạy theo công văn 2345/BGDĐT- GDTH ngày 
07/6/2021 của Bộ giáo dục . 
 Về nội dung, bám sát những đặc trưng của DHPTNL, yêu cầu Kế hoạch bài 
dạy phải có nội dung kiến thức, hoạt động thể hiện được những đặc trưng 
DHPTNL; VD: 
 Đặc điểm: Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh 
 (ghi rõ cách tổ chức hoạt động, có thể ghi mục tiêu hoạt động ..) 
 Đặc điểm: Chú trọng năng lực vận dụng kiến thức của bài học vào giải 
 quyết những tình huống thực tiễn (rõ nội dung kiến thức gắn với thực tế cuộc 
 sống, cách tổ chức hoạt động) 
 Đặc điểm: Nội dung dạy học được thiết kế có sự phân hóa theo trình độ và 
năng lực của HS ( có những nội dung kiến thức phù hợp với từng nhóm HS theo 
trình độ, nội dung kiến thức không áp dụng chung cho cả lớp) 
 Đặc điểm: Dạy học phân hóa là bắt buộc.(có phương pháp, hình thức tổ chức 
các hoạt động dạy học phù hợp với từng cá nhân, từng nhóm HS; có nội dung, 
phương pháp kích thích sự hoạt động chủ động của từng cá nhân HS; nhằm hỗ trợ 
HS hạn chế năng lực, phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh HS) 
 Đặc điểm: Chú trọng sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích 10 
cực ( rõ các phương pháp, các kỹ thuật dạy học tích cực như phương pháp dạy 
học dự án, kỹ thuật Trạm, kỹ thuật mảnh ghép, mô hình giáo dục STEM) 
 Khi duyệt hoặc kiểm tra Kế hoạch bài dạy, tôi cùng đ/c Phó Hiệu trưởng 
trao đổi và chia sẻ với GV một số kỹ thuật trong xây dựng kế hoạch bài dạy. Ví 
dụ Kỹ thuật sử dụng hệ thống câu hỏi (tự đặt câu hỏi và tự trả lời); ở mục yêu 
cầu cần đạt YCCĐ): phải trả lời được các câu hỏi: căn cứ để xác định YCCĐ ? 
(căn cứ vào chương trình và nội dung bài học, thực trạng HS); YC học sinh làm 
được những gì?, biểu đạt bằng động từ cụ thể? ( HS làm được, HS kể được, HS 
đọc đúng); YCCĐ đo lường được năng lực HS? có thể lượng hoá được ?(làm 
được thiếp chúc mừng có lời chúc mừng phù hợp, trang trí sinh động, tặng bạn 
bè, người thân trong dịp sinh nhật ..) 
 Qua cách trao đổi GV có thể tự tích lũy kinh nghiệm khi xác định YCCĐ 
bằng cách tự đặt câu hỏi, tự trả lời như trên. 
 Trong kế hoạch bài dạy GV, tôi quan tâm tới mục Điều chỉnh sau bài dạy, là 
phần GV rút kinh nghiệm sau bài dạy để cải tiến chất lượng bài dạy. Vì thế, nếu 
GV quan tâm và đầu tư cho kế hoạch, cho bài dạy thì không bỏ qua nội dung 
này. Và tôi, khi trao đổi với GV thường phỏng vấn giáo viên về nội dung điều 
chỉnh để chính GV phải nghiêm túc trong xây dựng kế hoạch cũng như tổ chức 
bài dạy, không hình thức, không qua loa đại khái. Quá trình trao đổi, tôi chủ 
động tư vấn hỗ trợ kịp thời; cởi mở, không áp đặt GV theo ý chủ quan của mình 
mà khuyến khích để GV trao đổi thẳng thắn, không lý thuyết, cụ thể, thực tế ., 
 Với cách tiến hành như trên, các cá nhân, tổ chuyên môn đã xây dựng được 
các kế hoạch đảm bảo các yêu cầu qui định, tường minh về cách triển khai 
DHPTNL. Và Kế hoạch thực sự là kim chỉ nam cho quá trình tổ chức dạy học, 
quản lý tổ khối chuyên môn, quản lý nhà trường về DHPTNL. 
 2.2.2.Tích cực dự giờ, trải nghiệm cùng GV, HS 
 Để kịp thời nắm bắt thực trạng triển khai DHPTNL và trải nghiệm tại các 
lớp, các tổ khối, tôi cùng Ban giám hiệu, giáo viên thường xuyên dự giờ thăm 
lớp cũng như tham gia trải nghiệm cùng HS. Hình thức định kỳ, đột xuất, hữu 
nghị, giao lưu. Quá trình dự giờ, tham gia hoạt động thực hành, trải nghiệm 
cùng lớp, tổ khối tôi luôn coi trọng phần chia sẻ của giáo viên, học sinh để kịp 
thời động viên, khích lệ tư vấn hỗ trợ và nhân rộng kinh nghiệm hay, sự sáng 
tạo của CBGV. Với dự giờ, khi trao đổi tiết dạy, đề nghị GV chia sẻ yêu cầu cần 
đạt và ý tưởng tổ chức bài dạy. Tiếp đó, bám sát những đặc điểm của DHPTNL 
để cùng GV, tổ khối phân tích tìm ra những điểm đã thực hiện được và những 
điểm cần khặc phục trong DHPTNL. 
 VD: Hoạt động hình thành kiến thức mới: GV đã tổ chức cho HS tự khám phá 
như đọc tài liệu, sách giáo khoa, quan sát và khai thác hình ảnh, trải nghiệm, thảo 
luận nhóm, trình bày, mô tả, phân tích, so sánh, hỏi-đáp, giải quyết tình 11 
huống, hay chưa ? 
 Để thực hiện dạy phân hóa GV đã trao nhiệm vụ học tập phù hợp với từng 
HS hay nhiêm vụ chung cho cả lớp? 
 Yêu cầu dạy học gắn dạy học với hướng dẫn tự học: GV đã định hướng nội 
dung, giao nhiệm vụ, đặt câu hỏi để HS động não, suy nghĩ, khám phá, tìm kiếm 
câu trả lời và tự chiếm lĩnh kiến thức nhằm đạt mục tiêu bài học hay chưa?  
 Quá trình trao đổi, phỏng vấn, nếu GV khó khăn, tôi và nhóm hỗ trợ 
DHPTNL trực tiếp tư vấn, hỗ trợ. Tôi cũng định hướng GV, khi tổ chức 
DHPTNL đặc biệt coi trọng yêu cầu tất cả HS phải được thực hành, trải nghiệm 
thực sự, không hình thức. 
 VD1: Khi dạy bài "Giữ gìn trường lớp sạch đẹp"( Đạo đức lớp 2) GV nhất 
thiết phải tổ chức cho HS thực hành trải nghiệm những việc làm cụ thể ngay 
trong tiết 1; 2 như thực hành chăm sóc bồn cây, bồn hoa, nhặt rác, quét dọn lớp 
học, hành lang sân trường; ứng dụng ở gia đình và thôn xóm. Quá trình trực tiếp 
tham gia HS hiểu ý nghĩa cũng như các công việc cần làm để giữ gìn vệ sinh 
trường lớp, có kỹ năng làm việc khoa học, khéo léo và trải nghiệm cảm xúc, 
niềm vui khi làm được việc ý nghĩa. Qua đó các con hiểu và cảm nhận điều thú 
vị từ bài học. 
 VD2: Khi dạy bài "Diện tích hình tam giác" (Toán lớp 5), nhất thiết GV phải 
tổ chức HS thực hành cắt ghép hình (cắt ghép hình trên giấy bìa, bảng lớp hoặc 
mô hình bằng đồ dùng học tập), sau đó minh hoạ cách cắt ghép hình trên phần 
mềm để HS tường minh hơn (cắt ghép 2 hình tam giác vuông trở thành một hình 
chữ nhật, giúp HS phát hiện Diện tích hình tam giác gấp đôi diện tích hình tam 
giác. Tiếp đó cắt ghép hình tam giác có 3 góc nhọn, so sánh các kích thước của 
hình tam giác với hình chữ nhật, giúp HS phát hiện: chiều cao tam giác đúng 
bằng chiều rộng HCN, đáy tam giác đúng bằng chiều dài HCN, từ đó HS rút ra 
qui tắc tính diện tích hình tam giác : Đáy nhân với chiều cao cùng đơn vị đo rồi 
chia cho 2). Khi thực hành và tìm ra qui tắc tính diện tích hình tam giác, HS rất 
hứng thú, phát triển được năng lực tư duy, mô hình hoá. 
 2.2.3.Tổ chức hiệu quả phong trào “Đọc sách cùng con mỗi ngày” 
 Đọc sách có rất nhiều lợi ích như: nâng cao kiến thức, cải thiện sự tập trung, 
tăng cường khả năng tư duy, phân tích, mở rộng vốn từ, bồi dưỡng vốn sống, 
cảm xúc, cải thiện trí nhớ, nâng cao kĩ năng tự học. Trong đề tài tôi đề cập 
đến khía cạnh: đọc sách để nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển năng lực tự học 
cho HS thông qua phong trào “Đọc sách cùng con mỗi ngày ”, phong trào này 
trường chúng tôi đã triển khai từ năm học 2021- 2022. Để triển khai phong trào 
hiệu quả đề nghị tất cả CBGV, HS và Phụ huynh vào cuộc một cách tích cực, 
trách nhiệm và tâm huyết. 
 * Cách tiến hành 12 
 Ngay từ đầu năm học, tôi ra Quyết định thành lập các câu lạc bộ Câu lạc bộ 
tiếng Anh, câu lạc bộ phát triển năng khiếu ( cờ vua, Ca sỹ nhí, họa sỹ nhí, bóng 
đá) và phong trào Đọc sách cùng con mỗi ngày. Giao đ/c Hiệu phó và các chủ 
nhiệm câu lạc bộ, nhân viên thư viện xây dựng kế hoạch tổ chức các câu lạc bộ 
và phong trào trên. Đối tượng tham gia: Các câu lạc bộ là HS năng khiếu, HS 
yêu thích, HS mong muốn .đăng ký tham gia tự nguyện. Với phong trào “Đọc 
sách cùng con mỗi ngày” tôi khuyến khích và yêu cầu 100% GV, HS và PH 
tham gia và tôi tiến hành các bước tiếp theo như sau: 
 Với Phụ huynh: trong hội nghị phụ huynh đầu năm học, phần họp tập trung, 
tôi trực tiếp tập trung tuyên truyền về lợi ích của việc đọc sách, ý nghĩa của 
phong trào “Đọc sách cùng con mỗi ngày ”. Tại phần họp riêng tại lớp, GV chủ 
nhiệm tiếp tục tuyên truyền và triển khai kế hoạch, cách thức triển khai phong 
trào. Nội dung tập trung tư vấn cách phụ huynh đồng hành cùng con như: mỗi 
buổi tối, phụ huynh giành ra một khoảng thời gian tối thiểu 30 phút để cùng con 
lựa chọn sách, đọc và cảm nhận (áp dụng cho thời gian đầu khi các con chưa 
“vào nếp”). Khi việc đọc sách của con đã dần trở thành thói quen, bố mẹ để con 
tự chủ động việc đọc sách mỗi tối và chỉ “nghiệm thu” sản phẩm như quay 
Video con đọc sách, nêu cảm nhận, rút ra bài học. để động viên, khích lệ, điều 
chỉnh, gửi Video lên nhóm lớp để cùng chia sẻ. GV lựa chọn Video chất lượng 
gửi lên nhóm trường để bình chọn hàng tuần. 
 Với giáo viên: động viên khích lệ các con đọc sách, giới thiệu chia sẻ những 
cuốn sách hay, những câu chuyên bổ ích, những cuốn sách giúp HS phát triển 
bản thân; tổ chức để các con chia sẻ câu chuyện cuốn sách tại lớp, chia sẻ cảm 
nhận hay những điều con học được từ sách. Gửi Video HS đọc sách lên nhóm 
trường để tham gia bình chọn hàng tuần. Định kỳ kiểm tra Nhật ký đọc sách của 
HS, biểu dương HS tích cực đọc sách, HS có tiến bộ trong việc đọc sách (khen 
HS giành táo đỏ, táo vàng.). 
 Giáo viên tổng phụ trách: hàng tuần vào tiết hoạt động trải nghiệm đầu tuần 
tổ chức cho HS chia sẻ hành trình đọc sách cùng cha mẹ, chia sẻ camrt nhận về 
cuốn sách mình đọc. Tổ chức cho ban Tuyên truyền măng non hàng tháng vào 
chiều thứ sáu tuần 4 của tháng, tổng hợp danh sách HS tích cực đọc sách các lớp 
kết hợp kiểm tra nhật ký đọc sách, tổng hợp số Táo đỏ ( 7 ngày đọc sách/ tuần), 
táo vàng( 6 ngày đọc sách / tuần), táo xanh( 5 ngày đọc sách. Tuần). Đề nghị 
nhà trường biểu dương, khen thưởng. 
 Nhân viên thư viện: Tổ chức các hoạt động thường niên của thư viên như : 
công tác bạn đọc tại tiết đọc thư viện, tiết học thư viên tại các lớp hoặc thư viên; 
giới thiệu sách hàng tháng, Ngày hội đọc sách, ngày Sách Việt Nam. Với phong 
trào đọc sách mỗi ngày, hàng tuần nhân viên thư viện phối hợp với các lớp giới 
thiệu những cuốn sách hay, bổ ích để HS tìm đọc; chủ trì các nội dung sơ kết, 13 
tổng kết phong trào, đề xuất tặng thư khen cho HS 
 Với Ban truyền thông: Hàng tuần đăng Web giới thiệu những câu chyện hay, 
những cuốn sách bổ ích, những gương tiêu biểu giành nhiều táo đỏ, tổng hợp 
thi đua các lớp Thông tin và hình ảnh trên Web chân thực, hấp dẫn (có sử 
dụng công nghệ AI để tạo ra những âm thanh, hình ảnh sinh động, hấp dẫn của 
thông tin), khích lệ HS, PH tích cực hơn những trong việc đọc sách. 
 Với Ban giám hiệu: Tổ chức nhiều sân chơi cho HS như cuộc thi “Book 
Review- trang sách xanh nuôi dưỡng ước mơ hồng”. Khi dự giờ thăm lớp có 
kiểm tra Nhật ký đọc sách, phỏng vấn các con về đọc sách .Thường xuyên khích 
lệ phong trào đọc sách, gắn kết quả phong trào với thi đua lớp, cá nhân GV, tổ 
khối; Cuối năm học gửi thư khen tới HS tiến bộ, HS giành nhiều táo đỏ. Tổ 
chức sơ, tổng kết phong trào, rút bài học cải tiến chất lượng phong trào. 
 * Kết quả: phong trào đã đi vào đời sống của CBGVNV, PH và HS nhà 
trường. HS có thói quen đọc sách mỗi ngày. 95,7 % có đọc sách và ghi nhật ký 
đọc sách; 72.5% HS hứng thú tích cực đọc sách. Kỹ năng giao tiếp tự tin, ngôn 
ngữ, biểu đạt rõ ràng, biểu cảm. Vốn từ, vốn sống HS được mở rộng, chất 
lượng giáo dục tiến bộ nhiều (phần kết quả chung). Phụ huynh quan tâm và thấu 
hiểu các con nhiều hơn. 
 2.2.4.Tăng cường công tác kiểm tra, tư vấn 
 Trong công tác quản lý của Hiệu trưởng thì khâu kiểm tra, tư vấn là một mắt 
xích không thể thiếu; Với DHPTNL, nó giúp ta đánh giá đúng thực trạng khẳng 
định những mặt đã làm được, phát huy ưu điểm và tư vấn những biện pháp khắc 
phục những hạn chế, yếu kém. 
 Để đạt được yêu cầu trên, nhà trường xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá 
các hoạt động như: kiểm tra kế hoạch bài dạy, dự giờ thăm lớp, kiểm tra hoạt 
động tổ khối; kiểm tra kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên GV.. 
 Công tác kiểm tra được thực hiện công khai, dân chủ, trên tinh thần xây dựng 
hỗ trợ và hợp tác. 
 Quá trình tổ chức dạy học, thường xuyên kiểm tra, dự giờ thăm lớp để kịp 
thời nắm bắt nhận thức của GV, hiệu quả giờ dạy; sự chuyển biến về thái độ, 
tinh thần học tập và các năng lực HS. 
 Việc kiểm tra đánh giá có tiêu chí, chuẩn mực rõ ràng. 
 Quá trình kiểm tra đánh giá, tôi lưu ý nhóm hỗ trợ , ban kiểm tra nôi bộ, coi 
trọng công tác tư vấn hỗ trợ GV; khích lệ GV, tổ khối linh hoạt, sáng tạo và 
thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức hoạt động. Đảm bảo bài học 
thiết thực, bổ ích và hấp dẫn học sinh. 
 2.3. Kết quả giải pháp 
 - Công tác quản lý chỉ đạo của hiệu trưởng với DHPTNL khoa học, bài bản, 
hiệu quả. 14 
 - Tinh thần trách nhiệm: CBGVNV nhà trường có sự chuyển biến tích cực 
 về tinh thần trách nhiệm trong công tác dạy học và hoạt động chung của nhà 
 trường. Phần lớn đều rất nghiêm túc, không có biểu hiện ỉ lại, thiếu trách nhiệm. 
 Cá biệt vẫn còn một vài đồng chí chưa thật nhiệt tình trách nhiệm trong công tác 
 hỗ trợ, phối hợp với đồng nghiệp. 
 - DHPTNL có nhiều chuyển biến tích cực, kế hoạch bài dạy và triển khai 
 DHPTNL đúng bản chất, không mơ hồ. HS tự tịn, học tập rèn luyện chủ động, 
 tích cực hơn. Các năng lực giải quyết vấn đề, tự học. dần phát triển. 
 3.Giải pháp 3: Tổ chức nghiêm túc sinh hoạt chuyên môn nội dung 
 “Dạy- học phát triển năng lực học trò” theo nghiên cứu bài học. 
 3.1 Mục đích của giải pháp. 
 - Nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn. 
 - Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo 
 viên, giúp GV thuận lợi khi thực hiện DHPTNL 
 3.2 Cách tiến hành 
 Việc Sinh hoạt chuyên môn (SHCM) theo nghiên cứu bài học (NCBH) đã đi 
 vào đời sống giáo dục các nhà trường từ năm 2020, tuy nhiên, có một thực tế 
 đôi khi việc SHCM theo NCBH của các tổ chuyên môn vẫn rơi vào tình trạng 
 “Bình mới- Rượu cũ”. Để khắc phục tình trạng này, quá trình chỉ đạo SHCM 
 theo NCBH, trong từng bước qui trình SHCM, tôi tiến hành như sau: 
 * Xây dựng bài học minh họa 
- - Tổ chuyên môn thảo luận, thống nhất lựa chọn bài học minh họa. 
 - Yêu cầu 100% giáo viên trong tổ chuyên môn tham gia. 
 - Khuyến khích giáo viên tự nguyện đăng kí dạy minh họa. 
 - Giáo viên dạy học minh họa, tổ chuyên môn nghiên cứu xây dựng bài học 
 minh họa, đảm bảo xác định rõ yêu cầu cần đạt của bài học; những năng lực cần 
 phát triển ở HS. 
 *Tổ chức dạy học minh họa và dự giờ 
 - Dạy minh hoạ (tố 1;2,3 do GV đăng ký ; tổ 4;5 do tổ chọn cử) 
 - Dự giờ: lưu ý GV cần tập trung quan sát hoạt động học của HS kết hợp với 
 việc sát quan sát hoạt động tổ chức, hướng dẫn của GV. Khuyến khích giáo viên 
 dự giờ quan sát, ghi chép kết hợp với ghi hình hoạt động học của học sinh để sử 
 dụng khi phân tích bài học, nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động dạy học 
 của giáo viên và học sinh. 
 * Phân tích bài học 
 Toàn trường, tổ chuyên môn tổ chức trao đổi, chia sẻ tinh thần dân chủ cởi 
 mở, thẳng thắn và tập trung vào các nội dung: 
 + Hoạt động học của học sinh: thái độ và cảm xúc của HS; sự tích cực, chủ 
 động, sự hợp tác, sản phẩm học tập. Đặc biệt là các năng lực HS được phát triển 15 
 + Tổ chức hoạt động học cho học sinh: 
 - Cách thức giao nhiệm vụ học tập, giải quyết vấn đề thực tiễn cuộc sống. 
 - Cách nêu vấn đề, cách cá nhân hóa hoạt động học tập của HS. 
 - Cách quan sát, theo dõi, phát hiện những khó khăn của học sinh. 
 - Biện pháp hỗ trợ, khuyến khích học sinh tự học, hợp tác. 
 - Việc phân tích, nhận xét kết quả hoạt động, quá trình học tập của học sinh. 
 + Một số nguyên nhân tác động đến hoạt động học của học sinh: 
 Sự tương tác giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, giáo viên 
 với học sinh; tâm lí, sinh lí học sinh; không khí lớp học,... 
 * Vận dụng kết quả sinh hoạt chuyên môn vào bài học hàng ngày 
 Dựa trên kết quả phân tích bài học và những điều đã quan sát qua dự giờ, 
các giáo viên chủ động học tập, rút kinh nghiệm để áp dụng vào các bài dạy 
hàng ngày của cá nhân hiệu quả. Quá trình vận dụng các nhân chủ động điều 
chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế lớp. 
 Bước 4: Kiểm tra, tư vấn hỗ trợ giáo viên, tổ chuyên môn 
 Trong quá trình vận dụng kết quả sinh hoạt chuyên môn vào bài dạy tôi 
thường xuyên kiểm tra, tiếp tục chia sẻ với GV: một mặt bám sát vào những yêu 
cầu đã thống nhất, mặt khác khuyến khích để GV tiếp tục đổi mới, sáng tạo, cải 
tiến chất lượng dạy học cũng như chất lượng SHCM theo NCHB. 
 Trong quá trình tổ chức các bước của SHCM theo NCBH luôn ưu tiên phát 
triển các các năng lực của HS cũng như của GV. Trong bước phân tích bài học 
có liên hệ mở rộng phân tích các tiết dạy GV dạy giỏi cấp thành phố trên 
Yootube, các tiết dạy tiêu biểu trên nhóm Người truyền lửa cũng như bài dạy 
trong chuyên đề của cô Đào Thị Huệ mà GV đã được tham gia để GV có thêm 
kinh nghiệm DHPTNL. 
 Khi dự giờ thăm lớp, kết thúc tiết dạy để biết mức độ hiểu, năng lực giải 
quyết vấn đề , cảm nhận của HS về tiết học, tôi tổ chức giao lưu với HS (thay 
cho một bài khảo sát chất lượng tạo áp lực HS, GV). Quá trình giao lưu, tôi 
khích lệ các con tự tin, chia sẻ nhiều. 
 3.3 Kết quả 
 - 100% GV tham gia tích cực nghiêm túc vào tất cả qui trình 4 bước: từ 
chuẩn bị, thiết kế bài học sáng tạo, dạy thể nghiệm, dự giờ, suy ngẫm, chia sẻ 
các ý kiến sâu sắc về những gì đã diễn ra trong việc học của HS. 
 - Chất lượng SHCM cũng như chất lượng dạy học chuyển biến rõ rệt. 
 - Môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện; giáo viên được phát 
huy năng lực tự học và năng lực chuyên môn, năng lực điều hành hội nghị 
chuyên môn, năng lực hợp tác nhóm 
 4. Giải pháp 4: Thúc đẩy phong trào tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, 
nghiệp vụ trong CBGV. 

File đính kèm:

  • pdfskkn_bien_phap_chi_dao_day_hoc_phat_trien_nang_luc_hoc_tro_g.pdf