Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh Lớp 1 đọc tốt
Dạy phần tập đọc:
- GV đọc mẫu đúng, hay và định hướng cách đọc cho HS giúp HS biết được cách đọc.
- Đọc tiếng, từ khó: GV yêu cầu HS đọc nhẩm rồi tự tìm những tiếng mà các em dễ phát âm sai cho các em luyện đọc đúng.
- Hướng dẫn HS đọc câu: HS đọc nối tiếp câu.
- Hướng dẫn HS đọc đoạn: GV hướng dẫn HS đọc ngắt nghỉ đúng chỗ có dấu câu.
- HS đọc từng đoạn.
- GV chỉnh sửa.
- Hướng dẫn HS đọc bài: + HS đọc cá nhân.
. + HS thi đọc cá nhân, thi đọc nhóm.
- Giáo viên dạy đúng quy trình luyện đọc.
- HS được luyện đọc nhiều lần bài trong SGK.
- Giáo viên sửa lỗi cho HS nếu HS đọc sai.
- HS đọc thuộc bài đọc.
- Chưa chú trọng việc đọc mẫu của GV.
- GV chưa quan tâm nhiều đến việc đọc tên các nét.
- GV chưa hướng dẫn kĩ cách đọc.
- HS chưa được luyện đọc thêm từ ngoài bài. Vốn từ của HS ít ỏi.
- Hình thức đọc cá nhân chưa được quan tâm nhiều.
- HS đọc hiểu còn hạn chế.
- Giáo viên chưa dành thời gian, chú trọng sửa lỗi triệt để cho HS.
- GV đọc mẫu đúng, hay và định hướng cách đọc cho HS giúp HS biết được cách đọc.
- Đọc tiếng, từ khó: GV yêu cầu HS đọc nhẩm rồi tự tìm những tiếng mà các em dễ phát âm sai cho các em luyện đọc đúng.
- Hướng dẫn HS đọc câu: HS đọc nối tiếp câu.
- Hướng dẫn HS đọc đoạn: GV hướng dẫn HS đọc ngắt nghỉ đúng chỗ có dấu câu.
- HS đọc từng đoạn.
- GV chỉnh sửa.
- Hướng dẫn HS đọc bài: + HS đọc cá nhân.
. + HS thi đọc cá nhân, thi đọc nhóm.
- Giáo viên dạy đúng quy trình luyện đọc.
- HS được luyện đọc nhiều lần bài trong SGK.
- Giáo viên sửa lỗi cho HS nếu HS đọc sai.
- HS đọc thuộc bài đọc.
- Chưa chú trọng việc đọc mẫu của GV.
- GV chưa quan tâm nhiều đến việc đọc tên các nét.
- GV chưa hướng dẫn kĩ cách đọc.
- HS chưa được luyện đọc thêm từ ngoài bài. Vốn từ của HS ít ỏi.
- Hình thức đọc cá nhân chưa được quan tâm nhiều.
- HS đọc hiểu còn hạn chế.
- Giáo viên chưa dành thời gian, chú trọng sửa lỗi triệt để cho HS.
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh Lớp 1 đọc tốt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh Lớp 1 đọc tốt

Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 đọc tốt 1. Dạy các nét cơ bản, dạy âm, dạy vần trước đây - Giáo viên dạy HS đọc thuộc lần lượt tên gọi từng nét cơ bản rồi cho HS viết tên các nét đó.HS ghi nhớ tên gọi các nét cơ bản. - GV đọc mẫu âm, hướng dẫn cách phát âm. Học sinh đọc theo và tập cách ghép âm. - Luyện đọc tiếng, từ có âm trong bài. HS đọc cá nhân, đọc đồng thanh. - GV chuẩn bị sẵn các từ chứa âm, vần mới lên bảng, bảng cài, sau đó cho HS đọc. - GV đọc mẫu vần mới và hướng dẫn HS cách đọc vần mới. HS đọc theo, GV chỉnh sửa. - GV hướng dẫn HS phân tích vần. - HS ghép vần mới rồi đánh vần và đọc trơn vần. - HS luyện đọc tiếng, từ có vần mới trong bài. - HS tự tìm thêm tiếng, từ ngoài bài có vần mới rồi đọc. GV ghi lên bảng, HS đọc lại toàn bộ các từ vừa tìm được. - HS đọc câu: HS đọc cá nhân, đọc nối tiếp câu. - GV theo dõi chỉnh sửa. * Dạy phần tập đọc: - GV đọc mẫu đúng, hay và định hướng cách đọc cho HS giúp HS biết được cách đọc. - Đọc tiếng, từ khó: GV yêu cầu HS đọc nhẩm rồi tự tìm những tiếng mà các em dễ phát âm sai cho các em luyện đọc đúng. - Hướng dẫn HS đọc câu: HS đọc nối tiếp câu. - Hướng dẫn HS đọc đoạn: GV hướng dẫn HS đọc ngắt nghỉ đúng chỗ có dấu câu. - HS đọc từng đoạn. - GV chỉnh sửa. - Hướng dẫn HS đọc bài: + HS đọc cá nhân. . + HS thi đọc cá nhân, thi đọc nhóm. - Giáo viên dạy đúng quy trình luyện đọc. - HS được luyện đọc nhiều lần bài trong SGK. - Giáo viên sửa lỗi cho HS nếu HS đọc sai. - HS đọc thuộc bài đọc. - Chưa chú trọng việc đọc mẫu của GV. - GV chưa quan tâm nhiều đến việc đọc tên các nét. - GV chưa hướng dẫn kĩ cách đọc. - HS chưa được luyện đọc thêm từ ngoài bài. Vốn từ của HS ít ỏi. - Hình thức đọc cá nhân chưa được quan tâm nhiều. - HS đọc hiểu còn hạn chế. - Giáo viên chưa dành thời gian, chú trọng sửa lỗi triệt để cho HS. - Còn hiện tượng HS đọc vẹt. 2. Giải pháp mới cải tiến: * Giải pháp 1: Quan tâm, nắm bắt và gần gũi học sinh. a. Nắm bắt năng lực học tập và tâm lý của học sinh. Lớp 1 là lớp bước đầu bước vào giai đoạn học sinh Tiểu học, các em sẽ bắt đầu làm quen với môi trường học tập mới. Trong một lớp học thì các học sinh sẽ hoàn cảnh gia đình, năng lực học tập và tâm lý khác nhau. Chính vì vậy mà ngay trong những ngày đầu nhận học sinh, tôi đã trao đổi với giáo viên mầm non, phụ huynh học sinh và trực tiếp tìm hiểu năng lực, tâm lý của mỗi bạn trong lớp để sắp xếp chỗ ngồi và có kế hoạch hướng dẫn tiếp cận kiến thức cho học sinh cho phù hợp. Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và hứng thú học tập của học sinh. b. Xây dựng mối quan hệ thầy – trò. Nội dung và hoạt động giáo dục rất đa dạng, phong phú, nhưng trong trường học, hoạt động phổ biến nhất, chiếm nhiều thời gian nhất vẫn là hoạt động dạy học trên lớp. Mối quan hệ chủ đạo, chi phối toàn bộ kết quả giáo dục vẫn là mối quan hệ giữa thầy và trò, đặc biệt trong các tiết học trên lớp. Nếu xây dựng được quan hệ thầy - trò tích cực, học sinh sẽ hứng thú, tự giác tham gia vào các hoạt động lĩnh hội kiến thức. Ngược lại, sẽ là một tiết học nặng nề, học sinh thụ động, kiến thức sẽ mang tính áp đặt. Những năm trước đây, thầy trò là quan hệ bề trên - người dưới. Giáo viên luôn giảng dạy đưa ra kiến thức mới, còn học sinh thì ghi nhớ những kiến thức đó một cách máy móc, ít vận dụng thực tế. Còn ngày nay, quan hệ này thay bằng phân công và hợp tác: giáo viên đưa ra các kiến thức và hướng dẫn để học sinh tìm hiểu và thực hiện. Ngoài ra trong mỗi tiết dạy tôi luôn hướng dẫn, giảng giải cho các em một cách nhẹ nhàng để tạo cho các em sự gần gũi, tránh quát tháo tạo áp lực cho các em và gây sự sợ hãi. Không chỉ quan tâm học sinh trong những tiết học mà ra chơi tôi cũng luôn trò chuyện với các em, hỏi thăm, kể chuyện để tạo sự gần gũi, thiện cảm đối với các em. * Giải pháp 2: Quan tâm việc dạy âm, dạy vần và dạy tập đọc. + Dạy âm: Sau khi cho học sinh học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản một cách vững vàng thì tiếp theo là phần học chữ cái. Giai đoạn này vô cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới có thể ghép được các chữ cái với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng đơn lại với nhau tạo thành từ, thành câu. Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sách báo như chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết đó cũng là chữ a hay chữ g để khi gặp kiểu chữ đó được in trong sách báo trẻ dễ hiểu, dễ đọc không bị lúng túng. VD: + Âm d gồm 2 nét: Nét tròn nằm ở bên trái và nét sổ thẳng ở bên phải. + Âm b gồm 2 nét: Nét tròn nằm ở bên phải, nét sổ thẳng nằm ở bên trái. Sang phần âm ghép ( chữ có hai âm ghép lại với nhau). Tôi cho học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để thấy được sự giống nhau và khác nhau của các âm đó. VD: + Các âm ghép: ch, nh, th, kh, gh, ph, ngh + Các âm còn lại tôi cho học kỹ về cấu tạo: gi, tr, qu, ng + Phân từng cặp : ch - tr, ng - ngh, g – gh để học sinh phát âm chính xác và viết chính tả. Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của trẻ thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ.. từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh. + Dạy vần: Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng. Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen: nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em nắm vững. VD: Học vần am : - Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần am: vần am gồm 2 âm: âm a đứng trước và âm m đứng sau. - Kết hợp dùng bộ chữ học vần dành cho học sinh để ghép vần. - Đánh vần vần am: âm a đứng trước , ta đọc a trước, âm m đứng sau ta đọc m sau : /am/ - /a/ - /mờ/ - /am/. Đọc trơn vần: am Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế , nếu được áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năng phân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và thành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt. Trong các bài dạy vần, sách giáo khoa tiếng việt 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc. Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với vần vừa học để đọc tiếng, đọc từ của bài. VD: Dạy vần am có từ quả cam. Sau khi học sinh nắm vững vần am, nhìn và đọc được vần am một cách chắc chắn. Giáo viên hỏi muốn có tiếng cam chúng ta phải thêm âm gì, ghép ở đâu vậy ta có thể ghép và đánh vần:/ cờ/ - /am/- /cam/, đọc trơn: cam, ghép từ: quả cam. Giáo viên có thể sử dụng hình ảnh, vật thật minh họa để cho học sinh hứng thú được nhìn vào tranh ảnh sinh động hoặc mẫu vật thật để gợi trí tò mò, ham học hỏi của học sinh giúp các em chủ động trong giờ học. Khi HS đọc được tiếng, từ các em đọc được câu. Để đọc tốt câu, Giáo viên có thể đảo lộn trật tự các câu trong bài để HS đọc. Ngoài ra, các em có xu hướng đọc rời rạc thành từng tiếng và càng về cuối câu càng đuối dần, nhất là những câu tương đối dài. Dạy các em đọc theo cụm từ và đọc từ cuối câu đọc lên sẽ khắc phục được tình trạng này. Như vậy đơn vị đọc sẽ là câu mới được thể hiện suôn sẻ, khác với đọc tiếng, đọc từ. Động tác này tuy chỉ thực hiện rất nhanh, nhưng qua đó câu được chẻ nhỏ thành từ, cụm từ rồi lại từ cụm từ và từ tổng hợp lại thành câu. Vô hình trung ta đã xây dựng cho HS thói quen phân tích câu để hiểu nghĩa câu và tập hợp từ, cụm từ để đặt câu, một thói quen rất quý làm nền tảng để đặt câu sau này. + Dạy phần tập đọc: Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp đòi hỏi quá trình luyện tập lâu dài. Đối với học sinh lớp 1, việc rèn luyện kĩ năng phải tính từ điểm xuất phát đầu tiên: luyện đọc từng con chữ ghi âm, ghi vần tiến tới luyện đọc từng tiếng, từng từ, từng câu Ở lớp 1 giáo viên cần dành nhiều thời gian cho học sinh luyện tập đọc thông thạo văn bản trước khi kết hợp tìm hiểu nội dung văn bản.Song lưu ý: nếu trình độ học của học sinh chưa tốt, các em đọc chưa thông thạo văn bản giáo viên cần chú ý rèn luyện kĩ năng đọc văn bản nhiều hơn. Đọc để hiểu nội dung văn bản: Mục đích cuối cùng của việc đọc là để thông hiểu nội dung văn bản. Có nhiều cấp độ tạo nên sự thông hiểu toàn bộ nội dung văn bản: sự hiểu nghĩa của từ ngữ, nghĩa của câu, của đoạn và của toàn văn bản. Ngay ở mức độ đọc thầm, việc phát lại các thông tin thành âm thanh ngôn ngữ vẫn được thực hiện trong trí não người đọc. Vì thế người bên ngoài không thể nghe được các âm thanh này. Tóm lại: Trong việc luyện đọc cho học sinh, giáo viên cần biết nghe học sinh đọc để có cách hướng dẫn thích hợp với từng em và cần khuyến khích HS trong lớp trao đổi, nhận xét về chỗ được, chỗ chưa được của bạn, nhằm giúp HS rút kinh nghiệm để đọc tốt hơn. * Luyện đọc từ ngữ: Các hình thức luyện đọc nhanh: đọc các câu khó ( khó ngắt giọng), đoạn khó; đọc có tính thời gian. Luyện đọc trôi chảy, lưu loát. Đó là đọc không kéo dài ê a, không ngắc ngứ. Cần chú ý việc đọc trôi chảy, lưu loát phải bảo đảm tốc độ hợp lý ( không đọc luyến thoắng) khoảng 30 tiếng/1 phút, nhằm đảm bảo người nghe hiểu kịp văn bản đọc. Luyện đọc nhanh nhằm rèn luyện năng lực đọc lưu loát, trôi chảy. Tóm lại: Giáo viên cần điều tra lỗi phát âm của HS từng vùng để có biện pháp sửa chữa thích hợp. Hướng dẫn đọc cụ thể với những câu thơ, khổ thơ khó ngắt nhịp. Luyện ngắt nghỉ hơi đúng chỗ nhằm tạo cho văn bản âm thanh phản ánh đúng văn bản ghi bằng văn tự. Cần dựa vào ý nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ, vào mạch văn của câu, đoạnđể xác định chỗ ngắt nghỉ hơi đúng. Luyện đọc đúng âm vị, tức là khắc phục các lỗi về phát âm do ảnh hưởng của phương ngữ, do ảnh hưởng của việc phát âm cá nhân gây ra. Luyện đọc đúng bao gồm luyện đọc đúng các âm vị và ngắt nghỉ hơi đúng chỗ. Đọc đúng là phát lại âm thanh được kí mã bởi hình thức văn tự, các âm thanh này theo đúng qui định của chính âm. Luyện đọc đúng: Bài đọc mẫu của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc chuẩn, đọc đúng rõ ràng, trôi chảy và diễn cảm. Giáo viên yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho học sinh tâm lý nghe đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc giáo viên đứng ở vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách mở rộng, thỉnh thoảng mắt phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài đọc bị gián đoạn. Đối với lớp 1 dù ở bất kỳ dạng bài nào văn xuôi hay thơ thì trước khi luyện đọc đúng toàn bài bao giờ học sinh cũng được ôn luyện âm vần. Trong phần này các em ôn luyện vần trên cơ sở luyện đọc những từ khó, hay nhầm lẫn khi đọc có ở trong bài. Để thực hiện được tốt phần này, ngoài việc cần lựa chọn thêm những từ ngữ khác mà học sinh trong lớp mình hay nhầm lẫn hoặc phát âm sai để cho các em luyện đọc. Trong thực tế, hàng ngày lên lớp tôi vẫn thực hiện điều này. Sở dĩ tôi đã lựa chọn thêm những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em đọc chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh.Cụ thể như: Âm Học sinh đọc nhầm n thành ng, ví dụ như: bàn thành bàng; Vần Học sinh dễ nhầm như ăng thành ang hay ăn, ay thành ai, vị dụ như: hằng ngày thành hàng ngài Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy khó đọc trong khi phát âm. Khi luyện đọc từ ngữ, giáo viên cần gọi nhiều học sinh yếu đọc. Đồng thời nếu em đọc còn chậm, nhận diện vần còn lâu thì giáo viên nên yêu cầu em phân tích từng tiếng một. Tuy nhiên để giúp các em yếu đọc tốt, giáo viên cũng cần gọi một vài em giỏi đọc trước vì các em này đọc to, chính xác nên các em yếu sẽ bắt trước mà đọc tốt hơn. Tuy vậy, giáo viên cũng cần chỉ các từ không theo thứ tự để tránh các em yếu “đọc vẹt”. Sau khi học sinh đọc được từ, giáo viên kết hợp giảng nghĩa của từ luôn, có thể bằng tranh, ảnh, vật thật để giúp các em đọc hiểu được nghĩa của từ mà đọc được đúng hơn. Cần tăng cường cho các em nhận xét nhau đọc, đúng hay say, nếu sai thì ở đâu, các em có thể tự sửa lại cho bạn. Nếu học sinh không làm được việc đó, giáo viên phải kịp thời uốn nắn sửa sai ngay cho các em. Nhất thiết phải có khen chê kịp thời. Sau đó cả lớp sẽ đọc đồng thanh thứ tự các từ khó . Đọc đúng: dạng thơ. Thơ có tính truyền cảm rất sâu vừa có hình ảnh, vừa có nhạc, khi lắng đọng, lúc ngân vangCần thể hiện tình cảm khi đọc thơ, có thể là giọng náo nức, tưng bừng; khi trầm buồn hoặc nhẹ nhàng, sâu lắngnhưng vẫn giữ được tính tự nhiên của giọng đọc, tránh lên bổng, xuống trầm một cách giả tạo, máy móc. Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn. Học sinh sẽ được luyện đọc từng dòng thơ rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết bài. Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc không bị quên. Đến giai đoạn sau, tôi đã để học sinh nhìn vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở từng câu thơ. Nếu học sinh nói đúng, giáo viên công nhận ngay và cho các em đánh dấu luôn vào sách. Nếu học sinh nói sai, giáo viên sửa lại cho học sinh. Khi dạy bài Tập đọc dài tôi sử dụng hình thức trò chơi tiếp sức. Và cho các nhóm tự nhận xét nhau, như thế vừa giúp các em hứng thú học tập vừa biết tự sửa sai cho nhau. b3. Đọc đúng: dạng văn xuôi Thơ phản ánh hiện thực bằng phương thức trữ tình, còn văn xuôi phản ánh hiện thực bằng phương pháp tự sự. Ngôn ngữ văn xuôi là ngôn ngữ tự sự, miêu tả: ngôn ngữ của nhân vật, ngôn ngữ của tác giả - Ngôn ngữ tác giả thường là lời dẫn chuyện, kể, tảkhi đọc cần nhấn giọng vào các từ gợi tả. Ngắt giọng ở các dấu câu, hạ giọng dưới câu kể. - Ngôn ngữ nhân vật thường là ngôn ngữ đối thoại, phải đọc với giọng đối thoại (ngôn ngữ nói). - Cách ngắt giọng: khi đọc ngắt giọng theo cụm từ có nghĩa hoặc khi có dấu câu. * Ngắt sau dấu phẩy: nghỉ ngắn. * Ngắt sau dấu chấm: nghỉ dài, hạ thấp giọng. * Ngắt sau dấu hỏi: cao giọng. * Ngắt sau dấu chấm lửng: kéo dài hoặc hơi ngừng giọng. Tôi đã chép câu văn lên bảng và hướng dẫn cách ngắt hơi cụ thể. Học sinh đã phát hiện ra câu dài trong bài là ngắt giọng theo nội dung của câu. Tôi đã bổ sung thêm cách nghỉ hơi cụ thể với từng câu cho các em. Tôi giải thích ta ngắt ở sau từ nào, để nhấn mạnh thêm về nội dung cụ thể của từng bài. Đối với những bài có lời thoại, giáo viên phải hướng dẫn kỹ học sinh cách lên giọng cuối câu hỏi và xuống giọng cuối câu kể. Sau khi sửa xong lỗi ngắt giọng cho học sinh, giáo viên phải gọi nhiều em đọc, các học sinh khác nghe và nhận xét bạn đọc.Việc luyện đọc cho học sinh đọc đúng từ, câu sẽ giúp cho việc đọc đoạn, bài được trôi chảy, lưu loát hơn và học sinh nắm chắc được cách đọc đúng văn bản được học mà không phải tình trạng học vẹt. Để tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán mà lại nhiều em được luyện đọc thì giáo viên phải tổ chức đọc theo nhiều hình thức khác nhau như đọc cá nhân, đọc theo nhóm, theo tổ hoặc đồng thanh. Những hình thức này còn giúp giáo viên kiểm soát được khả năng đọc của toàn thể học sinh trong lớp. - Để tạo không khí học tập, GV tổ chức cho các em thi đọc cá nhân, thi đọc nhóm. Như vậy dù dạy HS đọc ở cấp độ đọc nào thì việc đọc mẫu của GV là không thể thiếu được. Đồng thời, trong quá trình hướng dẫn HS luyện đọc, GV cần nắm chắc các biện pháp chữa lỗi phát âm cho HS. Các biện pháp bao gồm: biện pháp luyện theo mẫu, biện pháp cấu âm và biện pháp luyện âm đúng qua âm trung gian. Tuỳ thuộc âm thanh sai lạc, tùy thuộc vào học sinh mà giáo viên lựa chọn biện pháp thích hợp : * Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp luyện theo mẫu: Bằng phát âm mẫu của mình, giáo viên đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn, các từ cần luyện, yêu cầu học sinh phát âm theo. * Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp cấu âm: Giáo viên mô tả cấu âm của một âm nào đó rồi hướng dẫn học sinh phát âm theo. - Với phụ âm cần mô tả vị trí của lưỡi, phương thức cấu âm. Tôi đã tiến hành sửa từng âm: - Sai phát âm /p/ pờ thành /b/ bờ, ( p và b) đều là hai phụ âm đồng vị về mặt cấu âm. môi - môi nhưng khác nhau về mặt thanh tính, /p/ là phụ âm vô thanh, /b/ là phụ âm hữu thanh. Để luyện đọc đúng /p/, tôi đã hướng dẫn HS tự đặt lòng bàn tay trước miệng, một tay đặt lên thanh quản. Khi phát âm /b/ là âm vốn có sẽ cảm nhận được độ rung nhẹ của thanh quản và không thấy luồng hơi phát ra. Cho trẻ ngậm hai môi lại và bật hơi qua môi mạnh hơn, tạo âm /p/ câm. Cho trẻ làm lại như trên nhưng phát thành tiếng /p/ hay ''đèn pin ", pí pa -pí pô''.... Cho trẻ đặt một tay lên thanh hầu và lòng bàn tay trước miệng, trẻ sẽ dễ dàng nhận biết được sự khác biệt giữa hai âm. Khi phát âm /p/ dây thanh rung mạnh và có luồng hơi từ miệng phát ra đập vào lòng bàn tay . - Sai phát âm /n/ nờ - /l/ lờ lẫn lộn: Học sinh hay phát âm lẫn giữa l/n, ch/tr, d/gi và phần lớn các em không ý thức được mình đang phát âm âm nào. Để chữa lỗi phát âm cho học sinh tôi phải trực quan hóa sự mô tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm âm nào: /n/ là một âm mũi, khi phát âm, sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung, còn khi phát âm âm /l /mũi không rung. Sau đó, ta cho học sinh luyện phát âm /l/ bằng cách bịt chặt mũi đọc la, lo, lô, lu, lư,... Khi bịt chặt mũi học sinh không thể phát âm các tiếng na, no, nô, nu, nư. Cho học sinh luyện nói câu ''con lươn nó lượn trong lọ, ''cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc ''... Hoặc hướng dẫn học sinh khi phát âm âm /l/ thì đưa lưỡi lên phía bên trên lợi của hàm trên ngạc cứng, còn khi phát âm /n/ thì đưa đầu lưỡi vào mặt trong của hàm răng... * Giải pháp 3: Sự quan tâm, động viên, khích lệ của các cá nhân và tổ chức xã hội. - Duy trì việc thi “ Trạng Nguyên Tiếng Việt qua mạng” hằng năm cho học sinh. - Nhà trường, gia đình, thầy cô luôn biết khích lệ biểu dương các em kịp thời. Hãy khen ngợi những em hoàn thành tốt môn Tiếng Việt để các em thấy giá trị của mình được nâng cao, có niềm tin và hứng thú học tập hơn. - Luôn thể hiện cho học sinh thấy tình cảm yêu thương của một người thầy đối với học sinh, lòng nhân ái, bao dung, đức vị tha của người thầy luôn có một sức mạnh to lớn để giáo dục và cảm hóa học sinh. - Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh; kiên trì vận động cha mẹ tích cực tham gia vào việc học tập của con em. * Tính mới và tính sáng tạo của giải pháp mới: - Gần gũi, quan tâm và xây dựng mối quan hệ thầy – trò để học thoải mái phát huy tính tích cực trong tiết học. - Dạy cấu tạo các nét cơ bản có tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết các nét cơ bản. - Giáo viên đảo trật tự từ trong câu, câu trong đoạn để tránh HS đọc vẹt. - Giáo viên biết được các biện pháp sửa lỗi cho HS và sửa lỗi triệt để cho HS ngay từ lớp 1. - HS chủ động tự đọc bài, tự tìm tìm tiếng, từ khó để đọc. Bổ sung thêm vốn từ cho các em. - Khích lệ, quan tâm học sinh thi Trạng Nguyên Tiếng Việt. - Sáng tạo trong khích lệ học sinh theo thông tư 27/2020. Với sự học hỏi, nghiên cứu phấn đấu nỗ lực của bản thân kết hợp với sự hướng dẫn nhiệt tình và sự động viên kịp thời của Ban giám hiệu Trường Tiểu học Thượng Kiệm, năm học vừa qua, tôi đã có những thành công đáng kể trong việc luyện đọc cho học sinh lớp 1C do tôi phụ trách. Kết quả cụ thể là: TSHS Thời gian Đọc đúng, Đọc đúng, được khảo khảo sát đọc lưu loát đọc còn chậm sát TS TL TS TL Lớp 1B 38 Tuần 20 30 78,94% 8 21,06% * So sánh kết quả đọc của hai giải pháp thì kết quả đọc giải pháp mới cao hơn rất nhiều so với kết quả giải pháp cũ thường làm. 3. Hiệu quả đạt được - Hiệu quả kinh tế: Khi áp dụng các giải pháp này học sinh và giáo viên không phải tốn kém kinh phí và chất lượng trang thiết bị khi dạy học, còn giáo viên chỉ cần đầu tư thời gian hợp lí cho việc nghiên cứu và áp dụng nội dung kiến thức vào tiết dạy có hiệu quả chất lượng. Công tác giảng dạy ở trên lớp không thể tính được bằng tiền trong một thời gian ngắn nhưng chắc chắn nếu làm tốt trong tương lai hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn. Tôi có thể khẳng định chắc chắn con người có thể làm ra kinh tế còn kinh tế không thể làm ra con người. Những con người có đức, có tài, có tâm, có tầm là những sản phẩm vô giá mà công tác giáo dục mang lại. - Hiệu quả xã hội: Theo giải pháp mới, tôi nhận thấy HS lớp tôi đọc rất tốt. Đây chính là nền tảng cho các năm học tiếp theo. Các em chính là những mầm non tương lai của đất nước. Các em học giỏi sẽ góp phần xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. 4. Điều kiện và khả năng áp dụng * Điều kiện áp dụng: + Về cơ sở vật chất: - Không gian lớp học rộng rãi, có đủ ánh sáng, bàn ghế đạt tiêu chuẩn. - Đủ đồ dùng dạy học cho tiết học. - Giáo viên, học sinh chuẩn bị đầy đủ đồ học tập. + Về giáo viên thực hiện dạy: - Giáo viên chuẩn bị bài dạy phải đầu tư nhiều thời gian, sẵn sàng hợp tác. - Giáo viên luôn có ý thức rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. - Giáo viên phải nắm vững chương trình, nắm vững đặc trưng phương pháp bộ môn, nắm vững quy trình môn Tiếng Việt. - Giáo viên cần kiên trì, nhẫn nại, tận tâm, nhiệt tình, yêu thương học sinh, thường xuyên khích lệ động viên các em có tiến bộ. * Khả năng áp dụng: Tôi thiết nghĩ việc thực hiện các giải pháp trong sáng kiến của tôi có thể áp dụng cho tất cả mọi giáo viên khối lớp 1 ở Tiểu học, ở các vùng miền khác nhau trên đất nước. Để có những mầm non thực sự là chủ nhân tương lai của đất nước cần có những người thầy thực sự tâm huyết và có trách nhiệm với nghề, song bên cạnh đó rất cần có sự chỉ đạo sát sao của Phòng giáo dục, của Ban giám hiệu nhà trường và sự quan tâm của các bậc phụ huynh. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Văn Hải , ngày 03 tháng 5 năm 2021 Nguyễn Thị Hà
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_giup_hoc_sinh_lop_1_d.pdf