Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 phân biệt từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm
Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác, đó là chỉ ra sự giống nhau và khác nhau. Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái .
Ví dụ 1: Quả, trái
- Giống nhau : Sản phẩm của cây trong một thời kì sinh trưởng nhất định
(quả mít/ trái mít)
- Khác nhau : Quả gợi tính hình khối, tròn, treo lủng lẳng, trái toát ra sắc thái tình cảm, trân trọng, nâng niu, yêu thương,...( quả tim/ trái tim; quả trứng/trái trứng*)
Ví dụ 2: Bảo vệ, giữ gìn
- Giống nhau: giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một cái gì đó
- Tuy nhiên hai từ này điểm khác nhau :
+ Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn. trừu tượng ; Giữ gìn phù hợp với đối tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, Bảo vệ đất nước )
+ Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động của bên ngoài ; giữ gìn có tính chất thụ động giữ cái đã có, không có sắc thái chống lại thế lực bên ngoài .(Bảo vệ luận văn khác Giữ gìn luận văn)
b) Các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu cảm
VD: Cho, biếu , tặng
Cho có sắc thái trung hòa
Biếu có sắc thái kính trọng
Tặng có sắc thái thân mật
c) Do có sự khác nhau về sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách dùng các từ đồng nghĩa khác nhau. Hay nói cách khác, các từ đồng nghĩa không phải bao giờ cũng thay thế cho nhau được, chúng đồng nghĩa với nhau vì chúng vừa giống nhau vừa khác nhau .
Ví dụ : Hoài sơn/ củ mài ; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong khoa học, các từ thuần Việt dùng trong đời sống .
Ví dụ 1: Quả, trái
- Giống nhau : Sản phẩm của cây trong một thời kì sinh trưởng nhất định
(quả mít/ trái mít)
- Khác nhau : Quả gợi tính hình khối, tròn, treo lủng lẳng, trái toát ra sắc thái tình cảm, trân trọng, nâng niu, yêu thương,...( quả tim/ trái tim; quả trứng/trái trứng*)
Ví dụ 2: Bảo vệ, giữ gìn
- Giống nhau: giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một cái gì đó
- Tuy nhiên hai từ này điểm khác nhau :
+ Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn. trừu tượng ; Giữ gìn phù hợp với đối tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, Bảo vệ đất nước )
+ Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động của bên ngoài ; giữ gìn có tính chất thụ động giữ cái đã có, không có sắc thái chống lại thế lực bên ngoài .(Bảo vệ luận văn khác Giữ gìn luận văn)
b) Các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu cảm
VD: Cho, biếu , tặng
Cho có sắc thái trung hòa
Biếu có sắc thái kính trọng
Tặng có sắc thái thân mật
c) Do có sự khác nhau về sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách dùng các từ đồng nghĩa khác nhau. Hay nói cách khác, các từ đồng nghĩa không phải bao giờ cũng thay thế cho nhau được, chúng đồng nghĩa với nhau vì chúng vừa giống nhau vừa khác nhau .
Ví dụ : Hoài sơn/ củ mài ; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong khoa học, các từ thuần Việt dùng trong đời sống .
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 phân biệt từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 phân biệt từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm

Một số biện pháp giúp HS lớp 5 phân bịêt từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm Từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm là một hiện tượng độc đáo của tiếng Việt. Cùng với các từ loại khác, từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm làm cho tiếng Việt thêm phong phú và mang đậm một nét đặc sắc riêng mà không thể lẫn với một thứ ngôn ngữ nào khác. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy trong phân môn Luyện từ và câu, số tiết dạy về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm rất ít, sách giáo khoa chỉ đưa ra một vài ví dụ điển hình, mang tính chất giới thiệu. Trong khi đó mảng kiến thức này khá trừu tượng mà khả năng đọc hiểu của các em học sinh tiểu học lại phát triển chưa cao. Vậy với nội dung và thời lượng giảng dạy như thế liệu có ảnh hưởng đến chất lượng dạy – học hay không? Sau một năm học, bao nhiêu em nắm được nét đẹp, sự phong phú mà hiện tượng nhiều nghĩa, đồng nghĩa, đồng âm mang lại? . Mặt khác nếu sử dụng không đúng từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm không đúng thì không mang lại hiệu quả giao tiếp vì không biểu đạt đúng thái độ của chủ thể giao tiếp với đối tượng cần giao tiếp, đồng thời làm lệch nghĩa của câu văn, đoạn văn.Vậy làm thế nào giúp các em sử dụng đúng từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm? Thực tế qua các bài tập làm văn của học sinh, ngôn ngữ rất nghèo nàn và hầu như các em chưa biết sử dụng hoặc sử dụng chưa đúng từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng thấp kém của học sinh trong việc nói và viết tiếng Việt trong đó có những nguyên nhân trên. Đó là điều trăn trở lo nghĩ của biết bao giáo viên đứng trên bục giảng khi dạy phân môn Luyện từ và câu. Do đó tôi đã tập trung nghiên cứu, khảo sát, xử lí thông tin nhằm tìm ra biện pháp giúp học sinh trong những vấn đề thực hành và nhận diện những từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm thông qua những bài tập ở vở bài tập Tiếng Việt, ở những buổi sinh hoạt ngoại khóa để giúp các em: - Nắm được bản chất của hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa, nhiều nghĩa - Nhận diện (xác định) được từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm có trong đoạn văn, câu văn. - Sử dụng (vận dụng) được từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm để làm các bài tập trong chương trình học tập và trong cuộc sống hàng ngày Qua việc nghiên cứu vấn đề này tôi mong muốn tìm ra những phương pháp mang tính khả thi, dễ tiếp thu nhằm giúp bản thân và các đồng nghiệp dạy tốt hơn môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Thực tế đã cho thấy: Có nhiều GV không ngừng say sưa tìm tòi sáng tạo trong giảng dạy, đưa chất lượng ngày càng đi lên về mọi mặt, đáp ứng được với nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong thời kì đổi mới. Chương trình các môn học ở trường tiểu học hiện nay đã được sắp xếp một cách khoa học hệ thống, đến trường là là một bước ngoặt lớn của các em, trong đó hoạt động học là họat động chủ đạo, kiến thức các môn học về tự nhiên và xã hội chưa được bao nhiêu, vốn từ sử dụng vào trong cuộc sống để diễn đạt trình bày tư tưởng, tình cảm của mình còn quá ít. Các em thường lẫn lộn giữa từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm. 1 Hơn thế nữa các em chưa ý thức được vai trò xã hội của ngôn ngữ, chưa nắm được các phương tiện kết cấu và quy luật cũng như họat động chức năng của nó. Mặt khác HS cần hiểu rõ: người ta nói và viết không chỉ cho riêng mình mà cho người khác. Vì vậy, ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, đúng đắn và dễ hiểu, tránh làm cho người khác hiểu sai nội dung câu, từ, ý nghĩa diễn đạt. Qua nhiều năm giảng dạy, tìm hiểu đồng nghiệp, tôi thấy khi dạy các em về từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, đa số giáo viên thường làm như sau: - Hoạt động 1: Gọi các em đọc ví dụ (ngữ liệu) trong sách giáo khoa. - Hoạt động 2: Phân tích ví dụ và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa. - Hoạt động 3: Rút ra ghi nhớ. Giáo viên lấy ví dụ minh họa hoặc gọi học sinh tự lấy ví dụ. - Hoạt động 4: Vận dụng, thực hành chữa các bài tập trong sách giáo khoa. Những hoạt động trên của GV là đúng tiến trình nhưng hầu như chưa khắc sâu kiến thức cho học sinh, chưa chủ động đưa ra hệ thống câu hỏi, bài tập thể hiện sự phân hóa đối tượng. Vì vậy chưa khơi gợi được hứng thú học tập của tất cả học sinh Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy việc dạy và học về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm còn có một số tồn tại sau : + GV truyền kiến thức về khái niệm từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm còn máy móc, rập khuôn và sơ sài, lấy ví dụ mà chưa hiểu được bản chất của nó. Chỉ bó hẹp trong phạm vi SGK. Khi thoát khỏi phạm vi này thì HS hầu hết đều luống cuống và nhầm lẫn . + Khi thể hiện tiết dạy hầu như GV chỉ chú ý đến đối tượng học sinh khá, giỏi, còn lại đa số HS khác thụ động ngồi nghe rồi một số em khác có muốn nêu cách hiểu của mình về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm cũng sợ sai lệch, từ đó tạo nên không khí một lớp học trầm lắng, HS làm việc tẻ nhạt, thiếu hứng thú, không tạo được hiệu quả trong giờ học . Phải chăng những tồn tại đó còn tiềm ẩn trong mỗi tiết dạy để rồi GV tự giấu đi những kiến thức, tài năng sẵn có và những gì đã được học tập, lĩnh hội ở nhà trường sư phạm rồi dần dần đánh mất. Vào đầu năm học 2020- 2021, ngay từ bài Luyện từ và cầu đầu tiên tôi đã khảo sát chất lượng HS bằng cách cho các từ sau: “ xanh, xanh biếc, xanh lè; đỏ au, đỏ bừng, đỏ chói, đỏ chót; đồng tiền, cánh đồng; bàn việc, cái bàn; thè lưỡi, lưỡi liềm, lưỡi hái, lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi lê, lưỡi gươm” Yêu cầu HS xác định và phân thành 3 nhóm : Từ đồng nghĩa; từ nhiều nghĩa; từ đồng âm Kết quả các em làm được là : - Số HS làm đúng (đạt khá, giỏi) : 6/ 31 em - Số HS đạt điểm trung bình : 15/ 31 em - Số HS còn điểm yếu : 10/31 em Như vậy nhìn chung HS nắm bài về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm chưa chăc chắn, chưa chính xác . 2 Qua một số bài tập làm văn mà HS lớp tôi đã làm, do HS không hiểu được nghĩa của từ và cách sử dụng nó nên khi viết bài văn về “ tả cây bóng mát mà em yêu thích” Em Trần Đức Tiến có đoạn viết: “Lá bàng xanh, thân bàng nâu, quả bàng cũng màu xanh ...”. Hoặc đối với đề bài tả về đồ chơi mà em thích nhất, bạn Phạm Việt Hùng đã viết : “...con gấu bông có cặp mắt đen sì ... mũi nhọn như bóng ” Sở dĩ các em dùng từ như vậy là do không nắm được từ đồng nghĩa, cơ sở tạo nên từ nhiều nghĩa Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh nghiệm qua nhiều năm dạy học lớp 5, năm nay tôi mạnh dạn đưa ra: “Một số biện pháp giúp HS lớp 5 phân bịêt từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm” nhằm giúp học sinh tháo gỡ những lầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm tạo nền tảng để các em học tốt môn Tiếng Việt. Tuy là bước đầu nhưng tôi mạnh dạn nêu lên và mong được sự ủng hộ quan tâm, đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tôi được hoàn thiện hơn về kinh nghiệm này . Dạng bài tập về phân biệt từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, từ đồng nghĩa không có nhiều. Vì vây để tránh nhầm lẫn, trước hết phải giúp các em nắm chắc khái niệm và nhận diện chính xác từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, từ đồng nghĩa. Trên cơ sở đó, đưa ra các biện pháp giúp các em phân biệt các từ loại này. Hướng dẫn học sinh khi học các khái niệm về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm *Từ đồng nghĩa : Định nghĩa : Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm nhưng giống nhau về mặt ý nghĩa, chúng cùng biểu thị các sắc thái khác nhau của cùng một khái niệm. Ví dụ: Cùng nói đến khái niệm ăn có xơi, nhậu nhẹt ... - Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau . Ví dụ: siêng năng, chăm chỉ, cần cù, ... - Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thế thay thế cho nhau trong lời nói. Ví dụ : hổ, cọp, hùm, ... - Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn. Khi dùng những từ này, ta phải cân nhắc để lựa chọn cho đúng .Ví dụ : + Ăn, xơi, chén,... (biểu thị thái độ, tình cảm khác nhau đối với người đối thoại hoặc điều được nói đến). * Từ nhiều nghĩa : Định nghĩa: Là từ dùng một hình thức âm thanh biểu thị nhiều ý nghĩa (biểu thị nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau), các ý nghĩa có quan hệ với nhau, chúng lập thành một trật tự, một cơ cấu nghĩa nhất định . Ví dụ : đầu (1) bộ phận trên hết của người, bộ phận trước hết của người của vật (2) trí tuệ thông minh : anh ấy là người có cái đầu. (3) Vị trí danh dự : anh ấy luôn đứng đầu lớp về mọi mặt. *Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau 3 Ví dụ : - Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt) - Quả na mở mắt (quả na bắt đầu chín, có những vết nứt rộng ra giống hình con mắt) * Từ đồng âm Định nghĩa: Từ đồng âm là những từ giống nhau về ngữ âm nhưng khác nhau về ý nghĩa. Ví dụ : Cổ: bộ phận cơ thể con người và cổ: xưa, lạc hậu Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm * Từ đồng nghĩa: Thực tế học sinh thường nhầm lẫn giữa từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm. Không nắm được nghĩa của chúng bởi vì định nghĩa về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chưa chính xác dẫn đến sự khó khăn cho HS trong vịêc nhận diện. Phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chỉ dựa vào định nghĩa là chưa đủ . Đứng trước thực tế đó nên tôi đã mở rộng thêm cho HS một số kiến thức sau: a) Bản chất của từ đồng nghĩa là những từ đồng nhất với nhau về nghĩa nhưng có tính mức độ. Tính mức độ này là do các từ ngoài sự đồng nhất thì có sự khác biệt nhất định về sắc thái nghĩa . Ví dụ : Về trạng thái chấm dứt sự sống: chết, hi sinh, tử, mất Về hiện tượng hấp thụ thức ăn: Tống, hốc, tọng, ăn... Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác, đó là chỉ ra sự giống nhau và khác nhau. Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái . Ví dụ 1: Quả, trái - Giống nhau : Sản phẩm của cây trong một thời kì sinh trưởng nhất định (quả mít/ trái mít) - Khác nhau : Quả gợi tính hình khối, tròn, treo lủng lẳng, trái toát ra sắc thái tình cảm, trân trọng, nâng niu, yêu thương,...( quả tim/ trái tim; quả trứng/trái trứng*) Ví dụ 2: Bảo vệ, giữ gìn - Giống nhau: giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một cái gì đó - Tuy nhiên hai từ này điểm khác nhau : + Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn. trừu tượng ; Giữ gìn phù hợp với đối tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, Bảo vệ đất nước ) + Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động của bên ngoài ; giữ gìn có tính chất thụ động giữ cái đã có, không có sắc thái chống lại thế lực bên ngoài .(Bảo vệ luận văn khác Giữ gìn luận văn) b) Các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu cảm VD: Cho, biếu , tặng Cho có sắc thái trung hòa Biếu có sắc thái kính trọng Tặng có sắc thái thân mật 4 c) Do có sự khác nhau về sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách dùng các từ đồng nghĩa khác nhau. Hay nói cách khác, các từ đồng nghĩa không phải bao giờ cũng thay thế cho nhau được, chúng đồng nghĩa với nhau vì chúng vừa giống nhau vừa khác nhau . Ví dụ : Hoài sơn/ củ mài ; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong khoa học, các từ thuần Việt dùng trong đời sống . * Từ nhiều nghĩa : - Cơ cấu của từ đa nghĩa Các từ lúc mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa, trải quan thời gian có thêm nhiều nghĩa mới ( nghĩa phát sinh, nghĩa bóng) được tạo ra từ nghĩa cơ sớ (nghĩa gốc, nghĩa đen) đó, trên cơ sở những biểu tượng nhất định. Biểu tượng làm hình ảnh về hình dáng, kích thước, đặc điểm, tính chất của sự vật được phản ánh trong ngôn ngữ trong nghĩa gốc của từ dưới dạng các nét nghĩa trở thành cơ sở để tự phát triển thêm nghĩa mới. Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận ( hoán dụ ) người ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng, tính chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vẩt ấy. Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động khác nghĩa ( nghĩa2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó Ví dụ : Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển cao nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng. (2) Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự phát triển cao nhất .( Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín) (3) Sự thay đổi màu sắc nước da .( ngượng chín cả mặt ) Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải miêu tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa. Nghĩa của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở : - Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có hai dạng sau : + Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về hình dáng. Ví dụ : Mũi1 ( mũi người) và Mũi2 ( mũi thuyền) Miệng1 ( miệng xinh) và miệng2 ( miệng bát) + Dạng 2 : Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức năng, của các sự vật, đối tượng . - Theo cơ chế hoán dụ có các dạng: + Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và tòan thể Ví dụ : Chân1, tay1 ,mặt1 là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ cái toàn thể (Anh ấy có Chân2 trong đội bóng ; Tay2 bảo vệ của nhà máy số ba có mặt2 trong hội nghị ) + Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa. Ví dụ : Nhà là công trình xây dựng (Tôi đang làm nhà), Nhà là gia đình(Cả nhà ăn cơm ) * Từ đồng âm : 5 a) Văn cảnh ( ngữ cảnh) là tập hợp những từ đi kèm một từ nào đó tạo cho từ tính xác định về nghĩa . b) Hoạt động của từ đồng âm : - Tạo ra những văn cảnh trong đó có nhiều từ đồng âm xuất hiện: Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa . - Tạo ra những ngữ cảnh đan xen nhau trong đó có một yếu tố nào đó được hiểu gấp đôi . Con công đi qua chùa kênh,Có nghe tiếng cồng nó kềnh cổ ra . -Tạo ra ngữ cảnh trong đó chỉ có một yếu tố đồng âm xuất hiện được trong quan hệ với các yếu tố đồng nghĩa. 1- Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia 2- Cuốc xuống ao uống nước, Gà vào vườn ăn kê 3- Chuồng gà kê áp chuồng vịt 4-Trời mưa đất thịt trơn như mỡ Dò đến hàng nem chả muốn ăn Sau khi mở rộng cho HS một số khái niệm cơ bản cần thiết về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm tôi đã hướng dẫn HS so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa chúng . * Khác nhau : Từ đồng Từ nhiều nghĩa Từ đồng âm nghĩa Là những từ Nghĩa của từ được phát triển dựa trên hai cơ sở : Cơ sở tạo ra từ có nghĩa -Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có hai dạng đồng âm là do giống nhau sau : tính chất tiết kiệm hoặc gần +D :Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về -Thường xẩy ra ở giống nhau . hình thức giữa các sự vật hiện tượng hay nói cách những từ có cấu Ví dụ : Siêng khác là dựa vào các kiểu tương quan về hình dáng Ví trúc đơn giản năng, chăm dụ : Mũi1 ( mũi người), mũi2 (mũi thuyền) - Các từ đồng âm chỉ, cần cù ,... + D : Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ về cách trong Tiếng Việt thức hay chức năng của các sự vật, đối tượng .Ví dụ: chỉ xẩy ra trong Cắt1( cắt cỏ), cắt2(cắt quan hệ) ngữ cảnh vì Tiếng -Theo cơ chế hoán dụ có các dạng: Việt là ngôn ngữ + D : Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa không biến hình bộ phận và tòan thể Ví dụ : Chân1, tay1,mặt1 là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ cái toàn thể (Anh ấy có Chân2 trong đội bóng ; Tay2 bảo vệ của nhà máy số ba có mặt2 trong hội nghị ) + D : Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa.Ví dụ :Nhà1là công trình xây 6 dựng (Tôi đang làm nhà),Nhà2 là gia đình(Cả nhà ăn cơm ) + Giống nhau : Từ nhiều nghĩa và từ đồng âm đều có hình thức âm thanh giống nhau Từ nhiều nghĩa và từ đồng âm thường dễ nhầm lẫn : Ví dụ : ba. ba : (1) bố: Ba tôi rất thích đọc báo. (2) số từ: Số ba là con số không may mắn . Học sinh có thể nhầm lẫn từ “ba” là từ nhiều nghĩa vì có hình thức âm thanh giống nhau. Khi gặp trường hợp này tôi đã phân biệt để HS thấy được giữa các nét nghĩa của từ nhiều nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau còn ở đây các nét nghĩa không có quan hệ với nhau vì thế không phải là từ nhiều nghĩa Trường hợp ví dụ trên là từ đồng âm . Để giúp HS có thể phân biệt được là từ nhiều nghĩa hay là từ đồng âm cần giúp HS xác định quan hệ về các nét nghĩa chính xác (đối với từ nhiều nghĩa ), nêu loại trừ được có quan hệ về các nét thì đó là từ đồng âm còn ngược lại nếu đồng âm nhưng có quan hệ về các nét nghĩa nữa thì đó là từ nhiều nghĩa Năm học 2020 – 2021, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5D có 31 em học sinh .Tôi lần lượt sử dụng các giải pháp trên bằng cách lựa chọn và phân bố hợp lí theo từng nội dung của bài, lấy nhiều ví dụ minh họa để học sinh nắm được đặc điểm cơ bản của các loại từ trên từ đó có thể phân biệt và nhận dạng dễ dàng hơn trong khi làm bài tập .Tôi đã thu được kết quả: Thời điểm dạy và học Học kì I Giữa học kì II Số học sinh phân biệt được từ đồng nghĩa, 86,6% 95% từ nhiều nghĩa, từ đồng âm Số học sinh đạt điểm khá, giỏi 80% 85% Khi áp dụng biện pháp này vào giảng dạy, tôi nhận thấy không tốn kém về tiền bạc mà còn giúp học sinh dễ tiếp thu bài và hiểu bài nhanh hơn, gây hứng thú học tập cho học sinh, qua đó học sinh thêm yêu thích môn học. Còn giáo viên chỉ cần đầu tư thời gian hợp lý cho 7 việc nghiên cứu và áp dụng nội dung kiến thức vào tiết dạy một cách hiệu quả. Từ đó đưa chất lượng của môn Tiếng việt đi lên một cách rõ rệt. Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản, nhất là phân biệt từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, đồng nghĩa. Trong quá trình giảng dạy, tổ chức cho HS nắm được kiến thức, bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và lựa chọn sao cho HS nắm kiến thức mới và vận dụng trong cuộc sống một cách hiệu quả. Để giúp HS phân biệt và làm đúng các bài tập về từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, đồng nghĩa, giáo viên cần làm tốt một số việc sau: + Dạy cho HS nắm vững các bài lí thuyết sau đó mới luyện tập + Giúp HS phân biệt và xác định đúng được yêu cầu của bải tập + Giúp HS xác định rõ các đặc điểm, cấu tạo của từ về hình thức và bản chất + Tạo điều kiện để HS bộc lộ cách hiểu của mình, hướng dẫn HS phân biệt nghĩa sau đó mới đưa ra kết luận + Qua các bài tập thực hành về từ nhiều nghĩa, từ đồng âm, đồng nghĩa GV nên cho các em tự kiểm tra lẫn nhau về kết quả mình làm được Khả năng áp dụng Với sự nỗ lực nghiên cứu của bản thân, cùng với sự cộng tác giúp đỡ của đồng nghiệp, tổ chuyên môn cũng như Ban giám hiệu nhà trường cùng với sự hưởng ứng nhiệt tình, ham học hỏi của HS, việc ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy đã thu được kết quả khả quan. Tôi thiết nghĩ có thể phát riển, mở rộng phạm vi nghiên cứu cũng như áp dụng giảng dạy cho HS khối lớp 5 ở các trường tiểu học trên địa bàn Trên đây là một số biện pháp giúp HS lớp 5 phân biệt từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm mà bản thân đã mạnh dạn đưa ra. Trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của Hội đồng sáng kiến các cấp để tôi có thể hoàn thiện phương pháp dạy học của mình hơn. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhệm trước pháp luật. Văn Hải, ngày 20 th¸ng 4 năm 2021 Hoàng Thị Huyền 8
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_5_p.pdf